Sáng 12/8/2026, Hội đồng khoa học Kiểm toán nhà nước đã tổ chức nghiệm thu đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ “Hoàn thiện cơ sở pháp lý về kiểm toán môi trường và vai trò của Kiểm toán nhà nước” do ThS. Đào Trọng Khánh (Kiểm toán nhà nước khu vực VIII) làm đồng chủ nhiệm. Hội đồng nghiệm thu do TS. Bùi Quốc Dũng, Phó Tổng Kiểm toán nhà nước, Chủ tịch Hội đồng Khoa học Kiểm toán nhà nước làm Chủ tịch.


TS Bùi Quốc Dũng, Chủ tịch Hội đồng nghiệm thu, đánh giá cao giá trị lý luận và thực tiễn của đề tài Hoạt động kiểm toán môi trường ngày càng được các Cơ quan Kiểm toán tối cao sử dụng như một công cụ hữu hiệu nhằm đánh giá hiệu quả quản lý, sử dụng tài nguyên, kiểm soát ô nhiễm và thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững. Nhận thức được vai trò ngày càng quan trọng của kiểm toán môi trường, thời gian qua, Kiểm toán nhà nước đã từng bước mở rộng phạm vi và nội dung kiểm toán. Giai đoạn 2018-2023, Kiểm toán nhà nước đã thực hiện hơn 40 cuộc kiểm toán có nội dung liên quan đến môi trường. Riêng năm 2024, Kiểm toán nhà nước đã triển khai nhiều cuộc kiểm toán chuyên đề như: quản lý, bảo vệ nguồn nước phục vụ sản xuất và sinh hoạt; quản lý môi trường tại các khu kinh tế, khu công nghiệp; quản lý, sử dụng kinh phí bảo vệ môi trường và ứng phó biến đổi khí hậu tại các bộ, ngành và địa phương. Thông qua hoạt động kiểm toán, Kiểm toán nhà nước đã phát hiện nhiều tồn tại, bất cập trong công tác quản lý môi trường, kiến nghị hoàn thiện cơ chế, chính sách và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực công dành cho bảo vệ môi trường.
Tuy nhiên, đại diện Ban đề tài - ThS Đào Trọng Khánh cho biết, mặc dù Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã quy định Kiểm toán nhà nước thực hiện kiểm toán trong lĩnh vực môi trường, nhưng Luật Kiểm toán nhà nước hiện hành chưa có quy định cụ thể về đối tượng, nội dung và phạm vi kiểm toán môi trường. Một số hoạt động có tác động trực tiếp đến môi trường của doanh nghiệp ngoài khu vực công chưa có cơ sở pháp lý rõ ràng để đưa vào kế hoạch kiểm toán. Bên cạnh đó, hệ thống dữ liệu môi trường phục vụ kiểm toán còn phân tán, việc chia sẻ thông tin giữa các cơ quan quản lý và Kiểm toán nhà nước chưa thực sự đồng bộ.
Ngoài ra, các quy định về kiểm toán môi trường trong khu vực doanh nghiệp, tiêu chuẩn chuyên môn và hướng dẫn kỹ thuật phục vụ hoạt động kiểm toán môi trường vẫn chưa được hoàn thiện. Trong bối cảnh Việt Nam đang thực hiện các cam kết quốc tế về phát triển bền vững, ứng phó biến đổi khí hậu và mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, yêu cầu đối với hoạt động kiểm toán môi trường ngày càng cao, đòi hỏi phải mở rộng phạm vi đánh giá đối với các vấn đề môi trường liên ngành, liên vùng và các mục tiêu phát triển bền vững.
Nhóm nghiên cứu cho rằng, bên cạnh việc tiếp tục hoàn thiện cơ sở pháp lý cho hoạt động kiểm toán môi trường, việc nâng cao vai trò của Kiểm toán nhà nước trong giám sát, đánh giá hiệu quả chính sách môi trường, quản lý tài nguyên, sử dụng nguồn lực công cho bảo vệ môi trường và thực hiện các cam kết quốc tế là yêu cầu cấp thiết. Điều này không chỉ góp phần nâng cao chất lượng quản trị môi trường quốc gia mà còn khẳng định vị thế của Kiểm toán nhà nước trong việc hỗ trợ Quốc hội, Chính phủ và các cơ quan quản lý nhà nước thực hiện mục tiêu phát triển bền vững.
Đề tài “Hoàn thiện cơ sở pháp lý về kiểm toán môi trường và vai trò của Kiểm toán nhà nước” được thực hiện nhằm đề xuất định hướng, giải pháp hoàn thiện cơ sở pháp lý về kiểm toán môi trường, đồng thời nâng cao vai trò của Kiểm toán nhà nước trong giám sát việc quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công và nguồn lực công gắn với bảo vệ môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu và phát triển bền vững.


ThS Đào Trọng Khánh đại diện Ban đề tài trình bày tóm tắt kết quả nghiên cứu Trên cơ sở mục tiêu nghiên cứu đã đặt ra, đề tài đã hệ thống hóa, làm rõ những vấn đề lý luận chung về môi trường, kiểm toán môi trường, cơ sở pháp lý kiểm toán môi trường và vai trò của Kiểm toán nhà nước. Theo đó, kiểm toán môi trường được xác định là một lĩnh vực kiểm toán chuyên biệt, được thực hiện thông qua kiểm toán tài chính, kiểm toán tuân thủ và kiểm toán hoạt động.
Đề tài đã phân tích, đánh giá thực trạng cơ sở pháp lý và thực tiễn triển khai kiểm toán môi trường của Kiểm toán nhà nước. Kết quả nghiên cứu cho thấy cơ sở pháp lý về kiểm toán môi trường ở Việt Nam đã từng bước được hình thành, nhất là khi Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 ghi nhận vai trò của Kiểm toán nhà nước trong lĩnh vực môi trường; đồng thời Kiểm toán nhà nước đã ban hành, cập nhật chuẩn mực, quy trình, hướng dẫn nghiệp vụ và triển khai nhiều cuộc kiểm toán có nội dung liên quan đến môi trường.
Bên cạnh kết quả đạt được, đề tài cũng chỉ ra một số hạn chế, bất cập chủ yếu như: Luật Kiểm toán nhà nước chưa quy định cụ thể về đối tượng, phạm vi, nội dung, phương thức và tiêu chí kiểm toán môi trường; cơ chế tiếp cận, chia sẻ dữ liệu môi trường còn thiếu đồng bộ; thẩm quyền kiểm tra, đối chiếu đối với các chủ thể ngoài khu vực công có tác động đến môi trường còn chưa rõ; nguồn nhân lực chuyên sâu, hướng dẫn kỹ thuật và ứng dụng công nghệ còn hạn chế.
Trên cơ sở đó, đề tài đã khẳng định vai trò của Kiểm toán nhà nước là công cụ giám sát độc lập, góp phần tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình, đánh giá hiệu quả sử dụng nguồn lực công cho bảo vệ môi trường và hỗ trợ hoàn thiện chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường, tăng trưởng xanh, ứng phó biến đổi khí hậu và phát triển bền vững.
Nhóm nghiên cứu cũng đã đề xuất hệ thống giải pháp nhằm hoàn thiện cơ sở pháp lý về kiểm toán môi trường và nâng cao vai trò của Kiểm toán nhà nước, tập trung vào hoàn thiện Luật Kiểm toán nhà nước và pháp luật có liên quan; làm rõ phạm vi, đối tượng, thẩm quyền, quyền tiếp cận dữ liệu và trách nhiệm phối hợp; cập nhật hướng dẫn kiểm toán môi trường theo các chủ đề mới như khí nhà kính, thị trường các-bon, EPR, kinh tế tuần hoàn, tài chính xanh; đồng thời phát triển nguồn nhân lực, tăng cường sử dụng chuyên gia, ứng dụng công nghệ số và nâng cao hiệu lực thực hiện kiến nghị kiểm toán.
Có thể khẳng định, việc hoàn thiện cơ sở pháp lý về kiểm toán môi trường là yêu cầu cần thiết trong bối cảnh Việt Nam thực hiện mục tiêu phát triển bền vững, tăng trưởng xanh và cam kết phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050. Việc hoàn thiện này không nhằm mở rộng Kiểm toán nhà nước thành cơ quan quản lý hay thanh tra môi trường, mà nhằm tạo hành lang pháp lý rõ ràng để Kiểm toán nhà nước thực hiện tốt chức năng kiểm toán độc lập trong lĩnh vực môi trường.
Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần bổ sung luận cứ khoa học và thực tiễn cho việc hoàn thiện pháp luật về kiểm toán môi trường ở Việt Nam, đồng thời đề xuất các giải pháp khả thi nhằm nâng cao chất lượng, hiệu lực và hiệu quả hoạt động kiểm toán môi trường của Kiểm toán nhà nước trong thời gian tới.


Hội đồng nghiệm thu đánh giá cao giá trị lý luận và thực tiễn mà đề tài mang lại Nhận xét về kết quả nghiên cứu của đề tài, Hội đồng nghiệm thu đánh giá cao giá trị lý luận và thực tiễn mà đề tài mang lại.
Đề tài đã nhận diện trúng các “nút thắt” pháp lý hiện nay cũng như thẳng thắn chỉ ra các khoảng trống pháp lý mang tính cốt lõi. Đặc biệt, Đề tài đã đưa ra được bộ 8 tiêu chí (trên giác độ tiếp cận là công cụ quản lý, kiểm soát môi trường) để phân tích, so sánh, phân biệt kiểm toán môi trường của Kiểm toán nhà nước với thanh tra môi trường, đánh giá tác động môi trường, quan trắc môi trường, kiểm toán nội bộ ISO14001. Đề tài nghiên cứu phản ánh thực tiễn pháp lý về kiểm toán môi trường hiện nay cũng như thực tiễn hoạt động kiểm toán môi trường của Kiểm toán nhà nước, giữa thực tiễn tác động công tác quản lý, bảo vệ môi trường từ hoạt động kiểm toán môi trường, đối sánh với vai trò kiểm toán môi trường của Kiểm toán nhà nước cần phải khẳng định; nêu được các nhân tố tác động đến kiểm toán môi trường ở Việt Nam; xây dựng ma trận so sánh một số tiêu chí để rút ra giá trị tham khảo kinh nghiệm quốc tế cho Kiểm toán nhà nước Việt Nam… Việc bổ sung bảng phân biệt kiểm toán môi trường của Kiểm toán nhà nước với thanh tra môi trường, đánh giá tác động môi trường, quan trắc môi trường và kiểm toán nội bộ theo ISO 14001 đã góp phần khắc phục tình trạng đồng nhất giữa các công cụ quản lý môi trường được phản biện kín chỉ ra.
Đề tài đã đón đầu xu hướng công nghệ khi đưa các quy trình ứng dụng GIS, dữ liệu viễn thám, dữ liệu lớn (Big Data) và Trí tuệ nhân tạo (AI) vào việc thu thập bằng chứng kiểm toán xanh.
Những đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ sở pháp lý về kiểm toán môi trường, đồng thời nâng cao vai trò của Kiểm toán nhà nước có giá trị thực tiễn, với những nguyên tắc, giải pháp và lộ trình tương đối rõ ràng; có giá trị tham khảo thiết thực đối với định hướng phát triển kiểm toán môi trường của Kiểm toán nhà nước trong thời gian tới.


Toàn cảnh buổi nghiệm thu Nhằm hoàn thiện đề tài, Hội đồng đề nghị Ban đề tài rà soát, biên tập lại một số nội dung kết cấu các mục; rà soát lại các kinh nghiệm quốc tế để gắn với nội dung nghiên cứu của đề tài. Ban đề tài nên tập trung vào các bất cập hiện tại của hoạt động kiểm toán môi trường và định hướng phát triển của Kiểm toán môi trường để đưa ra các giải pháp.
Đánh giá cao giá trị lý luận và thực tiễn cũng như công tác tổ chức nghiên cứu đề tài, Chủ tịch Hội đồng nghiệm thu - Phó Tổng Kiểm toán nhà nước Bùi Quốc Dũng đề nghị Ban Đề tài khi tiếp tục hoàn thiện cơ sở pháp lý và xây dựng Chiến lược kiểm toán môi trường giai đoạn 5-10 năm tới, cần có cách tiếp cận toàn diện, phân định rõ giữa giải quyết bất cập hiện tại và định hướng tương lai. Theo đó, bên cạnh việc nhận diện, tháo gỡ những vướng mắc từ thực tiễn môi trường để kiến nghị hoàn thiện pháp luật, cần dự báo sớm những xu hướng mới của môi trường trên thế giới, nhất là các vấn đề về Net Zero, phát triển bền vững, các công cụ kinh tế môi trường. Chủ tịch Hội đồng cũng lưu ý yêu cầu mở rộng phạm vi, đối tượng và phương thức tiếp cận dữ liệu phục vụ môi trường, hướng tới cơ chế khai thác dữ liệu thường xuyên, liên tục, kết nối trực tiếp, thay vì chủ yếu tiếp cận theo từng cuộc kiểm toán.
Đề tài được Hội đồng nghiệm thu xếp loại Xuất sắc./.