Chủ nhật, 5/4/2026

Điện thoại (024) 6287 3463

Đường dây nóng (024) 6287 3463

Liên hệ quảng cáo (+84)915.632.345

Chủ nhật, 5/4/2026
Khai giảng khoá học “Cập nhật Luật Ngân sách nhà nước năm 2025, vai trò của Kiểm toán nhà nước trong mô hình chính quyền địa phương 2 cấp và chế độ kế toán áp dụng đối với UBND cấp xã”

Khai giảng khoá học “Cập nhật Luật Ngân sách nhà nước năm 2025, vai trò của Kiểm toán nhà nước trong mô hình chính quyền địa phương 2 cấp và chế độ kế toán áp dụng đối với UBND cấp xã”

Sáng 24/3/2026, Trường ĐT&BD Nghiệp vụ kiểm toán tổ chức khai giảng khoá học “Cập nhật Luật Ngân sách nhà nước năm 2025, vai trò của Kiểm toán nhà nước trong mô hình chính quyền địa phương 2 cấp và chế độ kế toán áp dụng đối với UBND cấp xã” Tới dự và khai giảng khóa học có ông Nguyễn Huy Hoàng - Phó Giám đốc Trường, cùng toàn thể các học viên. Toàn cảnh lớp học Tại khóa học này, gần 200 học viên là lãnh đạo UBND cấp xã; lãnh đạo các đơn vị hành chính sự nghiệp thuộc chính quyền địa phương; cán bộ, công chức làm công tác quản lý tài chính - ngân sách, kế toán, quyết toán ngân sách tại UBND cấp xã trên địa bàn được các giảng viên truyền đạt kiến thức về: Luật Ngân sách nhà nước năm 2025, những điểm mới và yêu cầu đặt ra đối với chính quyền địa phương các cấp, đặc biệt là UBND cấp xã; làm rõ vai trò, chức năng và trách nhiệm của Kiểm toán nhà nước trong quản lý, giám sát việc sử dụng ngân sách nhà nước; mối quan hệ phối hợp giữa Kiểm toán nhà nước với chính quyền địa phương trong quá trình thực hiện ngân sách; Hướng dẫn thực hiện chế độ kế toán theo Thông tư số 24/2024/TT-BTC đối với  UBND cấp xã, bảo đảm ghi chép, hạch toán, lập báo cáo tài chính - ngân sách đúng quy định. Qua đó, góp phần nâng cao năng lực quản lý tài chính - ngân sách, tăng cường tính công khai, minh bạch và hiệu quả trong quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước tại cơ sở. Ông Nguyễn Huy Hoàng - Phó Giám đốc Trường phát biểu khai giảng khóa đào tạo Phát biểu khai giảng khóa học, ông Nguyễn Huy Hoàng - Phó Giám đốc Trường đề nghị các đồng chí giảng viên mang hết kinh nghiệm, lòng nhiệt huyết để truyền đạt những kiến thức quý báu tới các học viên; đồng chí Phó giám đốc Trường cũng đề nghị các đồng chí học viên nghiêm túc học tập, tích cực trao đổi để khóa học đạt hiệu quả và mục tiêu đề ra. Khóa học diễn ra trong 2 ngày, từ 24-25/3/2026.

Để tăng cường tính độc lập tự chủ và sức chống chịu của nền kinh tế trong bối cảnh hiện nay

Để tăng cường tính độc lập tự chủ và sức chống chịu của nền kinh tế trong bối cảnh hiện nay

Độc lập, tự chủ là là giữ vững chủ quyền và năng lực tự quyết định mọi hoạt động của quốc gia - dân tộc về đối nội, đối ngoại, nhất là lựa chọn con đường, mô hình phát triển, chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại theo lợi ích cao nhất của quốc gia và ý chí của người dân, không phụ thuộc vào bất cứ thế lực nào từ bên ngoài; trong đó, độc lập, tự chủ về kinh tế là nền tảng vật chất cơ bản để giữ vững độc lập, tự chủ về chính trị và tăng cường độc lập, tự chủ của quốc gia… Từ khoá: Lực lượng sản xuất mới; nền kinh tế; độc lập; tự chủ; phát triển; hội nhập; đất nước. 1. Điểm nhấn bối cảnh thế giới hiện nay Thế giới đương đại đang chứng kiến những biến chuyển nhanh chóng, phức tạp và khó lường của tình hình địa chính trị, kinh tế và môi trường khu vực và toàn cầu, trước mắt và lâu dài; đồng thời, tác động lan toả mạnh mẽ đến tất cả các nước dù thuộc chế độ chính trị xã hội nào và có trình độ phát triển cao hay thấp ra sao..., trong đó có Việt Nam, với một số động thái nổi bật sau: Thứ nhất, gia tăng cạnh tranh địa chính trị và tái cấu trúc trật tự kinh tế thế giới và quan hệ quốc tế mới theo hướng đa cực đa trung tâm. Nổi bật trong số đó là xu hướng gia tăng cạnh tranh chiến lược giữa các nước và nhóm nước Mỹ, EU - Nga - Trung Quốc, Ấn Độ; kéo theo dự gia tăng chi phí gắn với chạy đua quân sự và chạy đua công nghệ cao phục vụ chiến tranh tổng lực cả về quân sự, kinh tế, truyền thông, thông tin và tâm lý. Hệ thống đa phương bị thách thức ngày càng lớn, nhưng vẫn được phần đông các nước trong cộng đồng quốc tế coi trọng. Cách mạng công nghiệp 4.0 làm trầm trọng hơn xu hướng phân mảng, chia rẽ, nhất là chia rẽ số giữa các nước, các nhóm nước, gây ra những tác động lâu dài đối với cục diện thế giới và khu vực. Toàn cầu hóa hội nhập quốc tế vẫn tiếp diễn, dù chậm lại; các hoạt động vận tải, di chuyển vật chất toàn cầu suy giảm, nhường chỗ cho những phương cách, lĩnh vực toàn cầu hoá phi vật chất. Thương mại toàn cầu tiếp tục tăng, còn đầu tư quốc tế có thể giảm so với trước và được cấu trúc lại theo hướng gia tăng tính bền vững của các chuỗi sản xuất, cung ứng toàn cầu và hướng vào các lĩnh vực xanh, lĩnh vực số; sự cân bằng ngày càng đậm nét hơn giữa tự do hóa, mở cửa với tự cường; giữa hội nhập sâu rộng, toàn diện với tự chủ chiến lược; giữa tham gia cuộc chơi chung với nâng cao khả năng chống chịu bên trong từng quốc gia, từng nền kinh tế. Tính bền vững, bao trùm được quan tâm hơn; chuyển đổi số và kinh tế số trở thành xu thế lớn; tiến trình khu vực hóa được đẩy nhanh hơn. Đồng thời, sẽ tiếp tục gia tăng sự phân mảnh công nghệ và tái cơ cấu các chuỗi cung ứng kinh tế thế giới theo hướng chuyển dịch chuỗi sản xuất vào các thị trường quốc gia cùng phe nhóm và đồng minh, bạn bè hoặc trở lại trong nước. Tình trạng chạy đua, đối kháng về khoa học - công nghệ, đối kháng về kinh tế, cạnh tranh tài nguyên, cạnh tranh nguồn nhân lực chất lượng cao, chạy đua bảo vệ sở hữu trí tuệ... giữa các nước ngày càng gay gắt. Xu hướng dân chủ hóa quan hệ quốc tế bị thách thức nghiêm trọng hơn bởi chính trị cường quyền, cạnh tranh nước lớn. Nhận thức chung về tầm quan trọng của chủ nghĩa đa phương, hệ thống đa phương và ngoại giao đa phương của đa số các nước được nâng lên cùng với “áp lực buộc phải chọn phe”. Các nước vừa và nhỏ càng coi trọng vai trò của luật pháp quốc tế trong bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc của mình. Ngoài ra, biến động khí hậu cực đoan và yêu cầu về bảo vệ môi trường và sức khoẻ người tiêu dùng cũng ngày càng cao, nghiêm ngặt và mở rộng hơn. Các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống ngày càng gia tăng và đan xen, cộng hưởng gây hậu quả nặng nề hơn cho mỗi quốc gia và toàn thế giới, cả hiện tại và tương lai. Về tổng thể, thế giới đang bước vào giai đoạn kinh tế tăng trưởng chậm lại và áp lực nợ công và rủi ro trên thị trường tài chính, tiền tệ quốc tế, lạm phát, bất bình đẳng trong xã hội gia tăng so với 3 thập kỷ trước. Thứ hai, lực lượng sản xuất mới với những cấu thành mới và đặc tính mới đang đặt ra những nhận thức và yêu cầu mới về xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ của mỗi quốc gia. Một trong những đặc trưng thời đại hiện nay là sự xuất hiện các cấu trúc lực lượng sản xuất mới, bao gồm cả các yếu tố đầu vào (như vật liệu mới, năng lượng mới, robot hình người và công nghệ tự động mới, AI và dữ liệu…), không gian kinh tế (nền kinh tế số và không gian kinh tế số), đồng tiền số/ảo và thị trường mới (mua bán các yếu tố và thành phẩm kinh tế số…)… Đặc điểm nổi bật của lực lượng sản xuất mới này là ngày càng hoạt động theo chuỗi, kết nối thành hệ thống dây chuyền, vừa có tính khép kín, vừa mang tính mở cao. Các biến động về cung - cầu, giá cả và chu kỳ thị trường liên quan cũng có nhiều động thái mới lạ, nhanh chóng, khó lường và mạnh mẽ, lan toả rộng, với phạm vi ngày càng bao quát hơn cả vĩ mô và vi mô, trong nước và quốc tế. Không gian kinh tế và năng suất lao động tăng nhanh, song các ranh giới và chủ quyền quốc gia ngày càng bị mờ dần trước sức mạnh, sự phụ thuộc và sự độc quyền công nghệ. Các lợi thế so sánh truyền thống cạn dần hoặc giảm dần ý nghĩa, trong khi các thách thức và cả các cơ hội mới xuất hiện ngày càng nhiều. Đặc biệt, một quốc gia và tập đoàn, doanh nghiệp kinh doanh ngày càng phụ thuộc nhiều hơn vào các chuỗi cung ứng đầu vào, thị trường đầu ra và các đối tác công nghệ liên quan ngoài biên giới. Dữ liệu và thông tin, cũng như công nghệ và khả năng đổi mới, sáng tạo trở thành nguồn tài nguyên mới vô giá, ngày càng quyết định năng lực cạnh tranh hiệu quả của quốc gia và doanh nghiệp trong các hoạt động kinh tế mới, với nhiều sản phẩm và thị trường mới khó tính đúng tính đủ giá trị bằng tiền như các dạng kinh té vật chất truyền thống. Ngày càng nhiều ngành nghề truyền thống bị mất đi và xuất hiện những lĩnh vực, nghề nghiệp mới; cơ cấu lao động và yêu cầu giáo dục, đào tạo và đảm bảo an sinh xã hội cũng theo đó mà có sự chuyển dịch mới, sâu sắc. Trong bối cảnh đó, tính độc lập, tự chủ của quốc gia bị thách thức mạnh, thậm chí mất đi nhiều ý nghĩa nội hàm yêu cầu cũ, nhất là các quốc gia chậm thích ứng với chuyển đổi số, không có công nghệ nguồn và năng lực đổi mới, sáng tạo cao, thiếu phản ứng thị trường và chính sách nhanh nhạy và hiệu quả. Cách mạng công nghiệp 4.0 trong khi đem lại cơ hội học hỏi, gia tăng các loại hình việc làm mới, cơ hội “rượt đuổi và bắt kịp” cho những nước đi sau như Việt Nam, thì cũng làm tăng áp lực về và thách thức về nâng cao năng lực tham gia chuỗi sản xuất, cung ứng toàn cầu, cơ hội thu hút FDI và đảm bảo an sinh xã hội cho lao động Việt Nam. Thứ ba, các tiêu chí đo lường sức mạnh quốc gia ngày càng dựa trên cộng hưởng sức mạnh nội lực kinh tế, quốc phòng và khả năng phản ứng chính sách, phản ứng thị trường thông minh và hiệu quả. Ngày nay sức mạnh của các nước thường được đo bằng: i, Sức mạnh cứng: sức mạnh kinh tế (quy mô GDP, khả năng cạnh tranh thị trường và sự lành mạnh tài chính), tiềm lực khoa học - công nghệ; sức mạnh quốc phòng (số lượng quân đội, chi tiêu quốc phòng, công nghiệp quốc phòng, mạng lưới đồng minh…); ii, Sức mạnh mềm (sức hấp dẫn về mô hình, hệ giá trị; số lượng đối tác, vị thế, ảnh hưởng trên thế giới…); iii, Sức mạnh thông minh (khả năng sử dụng các loại sức mạnh để đạt được mục tiêu quốc gia, sự đúng đắn của chính sách và hiệu quả triển khai chính sách, khả năng điều chỉnh, phản ứng khi khủng hoảng…). Tổng thể sức mạnh quốc gia ngày càng dựa trên cộng hưởng sức mạnh nội lực kinh tế, quốc phòng và khả năng phản ứng chính sách, phản ứng thị trường thông minh và hiệu quả. Sức mạnh quốc gia còn được đánh giá theo nhiều tiêu chí khác tuỳ góc nhìn của các tổ chức quốc tế, song độc lập, tự chủ và đảm bảo sức chống chịu cao của nền kinh tế luôn là tiêu chí trọng tâm hội tụ và đo lường sức mạnh kinh tế quốc gia cả hiện tại và tương lai. Thực tế thế giới hiện đại cho thấy, không có ngoại lệ không đổ vỡ và phá sản nào cho bất kỳ mô hình phát triển, nền kinh tế quốc gia và doanh nghiệp, cũng như mọi tỷ phú thế giới nào nếu không có nhận thức đúng và kịp thời phản ứng linh hoạt chính sách và thị trường trong một bối cảnh trong nước và quốc tế ngày càng nhiều biến động phức tạp và khó lường. Đặc biệt, sự thành công của mỗi quốc gia tỷ lệ thuận với năng lực và hiệu lực, hiệu quả xây dựng và vận hành cơ chế đảm bảo hài hoà lợi ích, hội tụ, lan toả và phát huy được tổng hợp sức mạnh, các nguồn lực trong nước và quốc tế cho các mục tiêu lựa chọn phù hợp với từng giai đoạn lịch sử và thực tiễn trong nước, quốc tế; giữ vững niềm tin chính trị, niềm tin chính sách, niềm tin đầu tư và tiêu dùng thị trường; củng cố sự đoàn kết và đồng thuận xã hội cao; chủ động bám sát tình hình, tăng năng lực thông tin, dự báo và linh hoạt các kịch bản ứng phó kịp thời. 2. Nhận diện nền kinh tế độc lập tự chủ và sức chống chịu nền kinh tế theo tinh thần văn kiện Đại hội Đảng Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), xác định: “xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ ngày càng cao trong điều kiện hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng”. Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020, nêu rõ: “Phát huy nội lực và sức mạnh dân tộc là yếu tố quyết định, đồng thời tranh thủ ngoại lực và sức mạnh thời đại là yếu tố quan trọng để phát triển nhanh, bền vững và xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ”. Giải quyết mối quan hệ giữa xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ và tích cực, chủ động hội nhập nhằm tạo dựng sức mạnh dân tộc; trong đó, nội lực là quyết định; tranh thủ yếu tố ngoại lực và thời đại có vai trò quan trọng. Nghị quyết số 22-NQ/TW, ngày 01/4/2013 của Bộ Chính trị (khóa XI) về hội nhập quốc tế, chủ trương: hội nhập kinh tế quốc tế là trọng tâm, hội nhập trong các lĩnh vực khác phải tạo thuận lợi cho hội nhập kinh tế và góp phần tích cực vào phát triển kinh tế. Đại hội XII (năm 2016), xác định: “chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế; đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ kinh tế quốc tế… kết hợp hiệu quả ngoại lực và nội lực, gắn hội nhập kinh tế quốc tế với xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ”. Nghị quyết số 06-NQ/TW, ngày 05/11/2016 của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XII) về thực hiện có hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị - xã hội trong bối cảnh nước ta tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, chủ trương: tăng cường khả năng tự chủ của nền kinh tế, mở rộng thị trường, tranh thủ thêm vốn, công nghệ, tri thức, kinh nghiệm quản lý, bảo đảm phát triển nhanh và bền vững. Trong văn kiện Đại hội XIII, lần đầu tiên Đảng nêu rõ yêu cầu: Nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế trước các tác động tiêu cực từ các biến động kinh tế thế giới; Xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn bó mật thiết với giữ vững các cân đối lớn đi đôi với bảo đảm an ninh kinh tế; Đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ kinh tế quốc tế, tránh lệ thuộc vào một thị trường, một đối tác; Chủ động hoàn thiện hệ thống phòng vệ để bảo vệ doanh nghiệp và thị trường trong nước; Hoàn thiện hệ thống pháp luật phù hợp với những điều ước và cam kết quốc tế mà Việt Nam đã ký kết; Giữ vững độc lập, tự chủ trong việc xác định chủ trương, đường lối, chiến lược phát triển kinh tế đất nước; Phát triển doanh nghiệp Việt Nam lớn mạnh trở thành nòng cốt của kinh tế đất nước; Giữ vững các cân đối lớn, chú trọng bảo đảm an ninh kinh tế; Không ngừng tăng cường tiềm lực kinh tế quốc gia; Tăng cường đào tạo cán bộ… có khả năng làm việc trong môi trường quốc tế…; Tập trung xây dựng kết cấu hạ tầng và phát triển đô thị; Phát triển kinh tế nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới; Đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia; Phát triển kinh tế số trên nền tảng khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Điểm mới trong định hướng, nhiệm vụ, giải pháp xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ và nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế theo tinh thần Đại hội XIII là nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xây dựng hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển phù hợp với nền kinh tế thị trường đầy đủ, hiện đại, hội nhập; phát triển đồng bộ và tạo ra sự liên kết giữa các khu vực, các vùng, các thành phần kinh tế, các loại hình sản xuất kinh doanh và công nghệ, đổi mới sáng tạo, nhất là những thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, phát triển kinh tế số, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế; huy động, phân bổ, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, tạo động lực để phát triển kinh tế nhanh và bền vững; nâng cao chất lượng, hiệu quả quản trị cả ở cấp quốc gia và doanh nghiệp; tạo môi trường thuận lợi thúc đẩy khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo và hoạt động của những lĩnh vực, mô hình kinh doanh mới; phát huy vai trò của các tổ chức xã hội - nghề nghiệp trong tham gia hình thành và điều tiết các quan hệ kinh tế thị trường; phát triển doanh nghiệp Việt Nam lớn mạnh, nòng cốt của kinh tế đất nước; giữ vững các cân đối lớn, bảo đảm an ninh kinh tế; đẩy mạnh đa phương hóa và đa dạng hóa các quan hệ kinh tế, tránh lệ thuộc vào một thị trường, một đối tác. Đặc biệt, văn kiện Đại hội XIII nhấn mạnh yêu cầu “bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước”. Điều đó là cần thiết, tạo sự linh hoạt và vận dụng hiệu quả nguyên tắc “dĩ bất biến ứng vạn biến” trong chỉ đạo, điều hành thực tiễn của Đảng trước mọi biến động nhanh, khó lường của thế giới. Đây cũng là thông điệp khẳng định sự nhất quán trong nhận thức chính trị nói chung của Đảng ta về định hướng nội dung và mục tiêu con đường đổi mới, hội nhập của cách mạng Việt Nam trong thời kỳ mới, phù hợp với thực tiễn trong nước và xu hướng chung trên thế giới. Đại hội XIII cũng phân định rõ hơn vai trò, nội dung, yêu cầu và các công cụ quản lý kinh tế của nhà nước trong phát triển và củng cố các quan hệ gắn kết giữa kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài; lần đầu tiên mở rộng, nhấn mạnh và làm rõ hơn mối quan hệ chặt chẽ giữa Nhà nước, Thị trường và Xã hội, thay vì chỉ có quan hệ Nhà nước với Thị trường trong văn kiện các kỳ Đại hội trước đây… 3. Yêu cầu mới và giải pháp cần có để đảm bảo tính độc lập tự chủ và tăng sức chống chịu của nền kinh tế Việt Nam trong thời gian tới Để xây dựng thành công nền kinh tế độc lập, tự chủ trong bối cảnh trên, đòi hỏi Việt Nam tiếp tục coi trọng giải quyết một số vấn đề sau: Một là, tiếp tục đổi mới nhận thức, hoàn thiện nội dung yêu cầu mô hình kinh tế tự chủ, linh hoạt hoá vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước và doanh nghiệp nhà nước. Vai trò chủ đạo của kinh tế tư nhân và doanh nghiệp nhà nước cần điều chỉnh phù hợp với cơ chế thị trường và yêu cầu hội nhập quốc tế ngày càng sâu, rộng, đầy đủ và thực chất của Việt Nam. Theo đó, thu hẹp dần cả về quy mô, tỷ trọng và phạm vi hoạt động, nhất là trong hoạt động kinh tế vì lợi nhuận, tập trung nắm chủ đạo một số lĩnh vực, ngành kinh tế chủ chốt và hoạt động do Nhà nước cần độc quyền thuộc lĩnh vực đảm bảo quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội; chủ động giữ vững các cân đối cơ cấu lớn, liên ngành, cấp quốc gia và ở địa phương, địa bàn cần thiết; chủ động và trực tiếp đảm nhận đầu tư vào những dự án, địa bàn không hấp dẫn hoặc cần thiết để định hướng, mở rộng đầu tư phát triển từ các nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước. Đồng thời, phương thức chủ đạo cũng mềm và tỷ lệ cũng linh hoạt hơn, chủ yếu tham gia dưới hình thức cổ phần và giảm tối đa việc Nhà nước tham gia trực tiếp vào hoạt động kinh tế thông qua các doanh nghiệp nhà nước, chuyển một số nhiệm vụ mà các bộ, ngành, cơ quan nhà nước không cần thiết phải thực hiện cho tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp đảm nhận. Theo thống kê chung trên thế giới, ở các nước, Chính phủ chỉ giữ 20% vốn tại doanh nghiệp nhà nước và khu vực doanh nghiệp nhà nước chỉ chiếm khoảng 5%-20% GDP… Thứ hai, đề cao vai trò kinh tế tư nhân và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, sử dụng hiệu quả các nguồn lực, vừa thu hút công nghệ từ bên ngoài, vừa tăng cường năng lực đổi mới, sáng tạo và tự chủ công nghệ trong nước. Việt Nam cần đồng bộ và đa dạng hoá nhiều giải pháp từ chính trị, đối ngoại đến các cơ chế, chính sách kinh tế - tài chính thích ứng bảo đảm lòng tin chiến lược từ đối tác, nhất là các “đối tác chiến lược toàn diện”, để nhận được đầu tư FDI vào các ngành công nghệ cao hoặc được mua công nghệ cao, cho phép Việt Nam tham gia các chuỗi cung ứng công nghệ cao “mang tính bạn bè” trong khu vực và trên phạm vi toàn cầu. Đồng thời, triển khai nhanh và hiệu quả thực chất các chủ trương, nhiệm vụ và giải pháp theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia và Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân. Do đó, phải sớm thể chế hoá chủ trương coi kinh tế tư nhân là động lực quan trọng nhất của đất nước về tăng trưởng GDP, tăng năng suất lao động, tạo công ăn việc làm; lực lượng tiên phong trong kỷ nguyên mới, lực lượng chủ lực, đi đầu trong ứng dụng công nghệ và đổi mới, sáng tạo trong tầm nhìn chung của đất nước. Nhà nước bên cạnh việc phải củng cố mạnh mẽ khu vực doanh nghiệp nhà nước, nhất là các tập đoàn kinh tế nhà nước, cần ưu tiên xây dựng các tập đoàn kinh tế tư nhân tầm cỡ khu vực và toàn cầu, có năng lực cạnh tranh quốc tế, có sứ mệnh dẫn dắt, hỗ trợ trở lại các doanh nghiệp nội địa khác cùng tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. Đồng thời, phải có chính sách riêng trong việc hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa phát triển, cũng như thành phần kinh tế hộ gia đình và kinh tế hợp tác xã, khuyến khích hộ kinh doanh chuyển đổi thành doanh nghiệp và phát triển mô hình hợp tác xã kiểu mới, hiệu quả; khuyến khích doanh nghiệp tư nhân nâng cao năng lực nghiên cứu và đổi mới công nghệ, tham gia các lĩnh vực chiến lược, phát triển cơ sở hạ tầng quan trọng, công nghệ cao, công nghiệp mũi nhọn, an ninh năng lượng và một số lĩnh vực đặc biệt trong các dự án quan trọng quốc gia; kiểm soát chặt chẽ tình trạng doanh nghiệp độc quyền và thao túng chính sách; bảo vệ hữu hiệu quyền tài sản, quyền sở hữu (trong đó có quyền sở hữu trí tuệ và tài sản vô hình), quyền tự do kinh doanh và bảo đảm thực thi hợp đồng của doanh nghiệp tư nhân; giảm thiểu rủi ro pháp lý, hạn chế tối đa tình trạng thay đổi chính sách đột ngột gây tổn thất cho doanh nghiệp; tạo lập cơ chế hỗ trợ và bảo vệ nhà đầu tư tư nhân, nhất là các doanh nghiệp khởi nghiệp, doanh nghiệp đổi mới sáng tạo… Thứ ba, củng cố niềm tin chính trị, nỗ lực đột phá thể chế, tinh gọn và nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả bộ máy quản lý nhà nước và toàn hệ thống chính trị để tạo động lực mới cho phát triển kinh tế đất nước theo hướng độc lập, tự chủ. Động lực mới được cộng hưởng và gắn với kết quả trực tiếp và gián tiếp, trước mắt và lâu dài của quá trình tinh gọn bộ máy; củng cố lòng tin, cải thiện vị thế và sự hấp dẫn của môi trường đầu tư, khai thác hiệu quả cơ hội đầu tư mới và các nguồn lực tiềm năng cho phát triển cả vĩ mô và vi mô, trước mắt và lâu dài, trong nước và ngoài nước. Với tinh thần đó, trong quá trình xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ thời gian tới cần tiếp tục giữ vững độc lập, tự chủ trong việc xác định chủ trương, đường lối, chiến lược phát triển kinh tế đất nước; đẩy nhanh quá trình hoàn thiện thể chế, nhất là về hệ thống pháp luật phù hợp với những điều ước quốc tế và cam kết quốc tế mà Việt Nam đã ký kết; coi trọng duy trì sự ổn định và phát triển trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, môi trường, hội nhập quốc tế; thúc đẩy sự chuyển biến mạnh mẽ hơn về cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới động lực tăng trưởng, nâng cao năng suất lao động, tăng tính cạnh tranh chất lượng của nền kinh tế; tập trung tạo mọi điều kiện nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước, phát triển cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam gắn kết và lớn mạnh trở thành nòng cốt của kinh tế đất nước; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ kinh tế quốc tế, tránh lệ thuộc vào một thị trường, một đối tác, nhất là khi thị trường hay đối tác đó có sự biến động; thực hiện nhiều hình thức hội nhập kinh tế quốc tế với các lộ trình linh hoạt, phù hợp với điều kiện, mục tiêu của đất nước từng giai đoạn; phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và tăng cường đổi mới sáng tạo, phát triển và từng bước làm chủ khoa học công nghệ đáp ứng yêu cầu cạnh tranh quốc tế, bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc. Đặc biệt, cần sớm hoàn thiện cơ chế kết hợp hài hoà Nhà nước - Thị truờng - Xã hội trong một mô hình Nhà nước kiểu mới; coi trọng tính đồng bộ và chú ý đến tính hai mặt của các giải pháp chính sách đa dạng hóa và phối hợp các nguồn lực trong nước và quốc tế; khả năng tăng cường dự báo, thông tin, bảo vệ người tiêu dùng và giữ vững lòng tin trên thị trường, củng cố uy tín quốc gia và niềm tin chiến lược quốc tế vào các đột phá thể chế Việt Nam có tính hội nhập cao và bền vững hơn, từng bước định hình một tầm nhìn mới, một thực tiễn mới và mở ra triển vọng phát triển mới trong toàn bộ đời sống kinh tế - xã hội Việt Nam thời kỳ chuyển mình hội nhập cùng thế giới… Không ngừng hoàn thiện, củng cố nhận thức toàn diện, đầy đủ, sâu sắc và tổ chức xây dựng hiệu quả mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, có sức chống chịu cao ở nước ta là biểu hiện và thước đo sự thành công bản lĩnh, trí tuệ về Đổi mới và Cách mạng của Đảng. Đồng thời, đó cũng là quá trình tạo lập và hiện thực hóa các mục tiêu, động lực và cơ chế để gắn kết chặt chẽ phát triển kinh tế với phát triển văn hoá, xã hội, bảo vệ môi trường, phát huy dân chủ, sáng tạo và bảo vệ quyền con người, quyền công dân và để người dân được hưởng thụ ngày càng nhiều hơn thành quả của công cuộc đổi mới; để giữ vững được ổn định chính trị và kinh tế, củng cố đồng thuận và đoàn kết xã hội, không ngừng cải thiện các quan hệ và vị thế quốc tế, xây dựng và phát triển đất nước Việt Nam phát triển nhanh, bền vững hơn trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế ngày càng sâu, rộng và toàn diện hơn… Tài liệu tham khảo: 1. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, H. 2011, tr. 102; 2. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, H. 2016, tr. 111; 3. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021; 4. Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; 5. Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân; 6.https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/kinh-te/-/2018/824082/quan-diem-moi-ve-xaydung-nen-kinh-te-viet-nam-doc-lap%2C-tu-chu-trong-van-kien-dai-hoi-xiii-cua-dang.aspx#. Tác giả: PGS.TS Ngô Thanh Hoàng, Ủy viên Hội đồng tư vấn kinh tế, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam TS Nguyễn Minh Phong, Báo Nhân dân (Theo Tạp chí Nghiên cứu Khoa học kiểm toán, số tháng 2/2026)

KPMG Việt Nam và ACCA ký kết hợp tác chiến lược hỗ trợ phát triển Trung tâm Tài chính Quốc tế Việt Nam

Ngày 30/10/2025, KPMG Việt Nam và Hiệp hội Kế toán Công chứng Anh quốc (ACCA) hôm nay ký kết Biên bản ghi nhớ hợp tác (MOU) nhằm tăng cường phối hợp trong việc hỗ trợ xây dựng và phát triển Trung tâm Tài chính Quốc tế (International Financial Center - IFC) tại Việt Nam. Lễ ký kết diễn ra trong khuôn khổ Diễn đàn Cấp cao Kinh tế Việt Nam - Vương quốc Anh tại Luân Đôn, với sự chứng kiến của Tổng Bí thư Tô Lâm. Sự kiện là một điểm nhấn quan trọng trong chuyến thăm chính thức Vương quốc Anh của Tổng Bí thư, thể hiện cam kết của Việt Nam trong việc thúc đẩy hợp tác tài chính, đổi mới sáng tạo và tăng trưởng xanh. Theo thỏa thuận, KPMG và ACCA sẽ cùng chia sẻ kinh nghiệm, chuyên môn và nguồn lực quốc tế để hỗ trợ các cơ quan chức năng trong việc hình thành khung chính sách, chuẩn mực và năng lực vận hành phù hợp với mô hình Trung tâm Tài chính Quốc tế của Việt Nam. Phát biểu tại lễ ký kết, ông Warrick Cleine MBE, Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc KPMG Việt Nam, cho biết: “Chúng tôi tin rằng việc hợp tác cùng ACCA sẽ góp phần thiết thực vào mục tiêu xây dựng Trung tâm Tài chính Quốc tế của Việt Nam – một nền tảng quan trọng để tăng cường sức cạnh tranh và thu hút đầu tư toàn cầu.” Bà Helen Brand, Tổng Giám đốc Toàn cầu ACCA, chia sẻ: “ACCA rất vinh dự được đồng hành cùng KPMG Việt Nam trong sáng kiến mang tầm chiến lược quốc gia này. Việc phát triển IFC không chỉ thúc đẩy chuẩn mực tài chính quốc tế tại Việt Nam, mà còn tạo động lực cho sự phát triển của cộng đồng nghề nghiệp tài chính – kế toán trong nước.” Sự kiện đánh dấu bước tiến mới trong quan hệ hợp tác giữa hai tổ chức hàng đầu trong lĩnh vực tài chính và kế toán, đồng thời thể hiện cam kết chung trong việc hỗ trợ Việt Nam xây dựng một hệ sinh thái tài chính minh bạch, chuẩn mực và hội nhập quốc tế.

Xây dựng đề cương thực hiện kiểm toán hoạt động nợ chính quyền địa phương

Chủ nhiệm: Ths. Nguyễn Khắc Chí và TS. Cù Hoàng Diệu Thư ký: Ths. Nguyễn Mạnh Cường Thành viên chính: Ths. Hoàng Liên Sơn                                 Ths. Nguyễn Thị Thu Hà Đơn vị thực hiện: Kiểm toán nhà nước Khu vực VII Sự cần thiết phải nghiên cứu Một trong những nhiệm vụ quan trọng của Kiểm toán nhà nước khi kiểm toán báo cáo quyết toán ngân sách địa phương là thực hiện kiểm toán nợ chính quyền địa phương, trên cơ sở đó ngăn ngừa được các rủi ro phát sinh, từ đó đề ra các biện pháp quản lý nợ chính quyền địa phương một cách tốt hơn. Kiểm toán nhà nước Việt Nam đã trải qua gần 30 năm hoạt động, nhưng đến nay kiểm toán nợ chính quyền địa phương vẫn còn nhiều hạn chế. Trên thực tế, Kiểm toán nhà nước chưa thực hiện một cuộc kiểm toán độc lập đối với các khoản nợ chính quyền địa phương. Hằng năm, Kiểm toán nhà nước đã thực hiện cuộc kiểm toán nợ công, trong đó cũng đề cập đến nợ chính quyền địa phương; tuy nhiên cũng chưa đầy đủ và cụ thể. Bên cạnh đó, các cuộc kiểm toán quyết toán ngân sách nhà nước tại các địa phương cũng có đề cập đến các khoản vay, nợ chính quyền theo những quy định của Luật Ngân sách nhà nước, Luật Quản lý nợ công nhưng mới ở những nội dung hết sức đơn giản. Vì vậy việc nghiên cứu đề tài: “Xây dựng đề cương kiểm toán hoạt động nợ chính quyền địa phương” là hết sức cấp thiết. Mục tiêu nghiên cứu - Làm rõ cơ sở lý luận về nợ chính quyền địa phương; tình hình về vay, nợ chính quyền địa phương và kiểm toán hoạt động nợ chính quyền địa phương ở Việt Mam; - Đánh giá thực trạng kiểm toán hoạt động nợ chính quyền địa phương ở Việt Nam và kinh nghiệm quốc tế; - Xây dựng đề cương kiểm toán hoạt động nợ chính quyền địa phương (bao gồm nội dung, trình tự các tiêu chí và phương thức tổ chức kiểm toán hoạt động nợ chính quyền địa phương). Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài được chia làm 3 chương: Chương 1. Lý luận cơ bản về nợ chính quyền địa phương và kiểm toán hoạt động nợ chính quyền địa phương Đề tài trình bày về nợ chính quyền địa phương và cơ chế quản lý nợ chính quyền địa phương trong đó có các khái niệm cơ bản; phân loại nợ chính quyền địa phương; Sự khác nhau giữa nợ công, nợ chính phủ, nợ quốc gia, nợ chính quyền địa phương. Đề tài liệt kê một số chỉ tiêu đánh giá khả năng thanh toán nợ gồm: Chỉ tiêu an toàn nợ công; Kế hoạch vay, trả nợ công và kế hoạch vay, trả nợ của chính quyền địa phương; Bảo đảm khả năng trả nợ công và nợ chính quyền địa phương. Đề tài tài trình bày một số rủi ro trong việc quản lý nợ chính quyền địa phương; cơ sở lý luận về kiểm toán hoạt động nợ chính quyền địa phương; mối liên hệ giữa quản lý, kiểm toán hoạt động nợ chính quyền địa phương với tính bền vững của ngân sách nhà nước tại địa phương. Bên cạnh đó đề tài tổng hợp số liệu và cơ cấu nợ công các năm 2017, 2018 và 2019 theo báo cáo của Bộ Tài chính. Chương 2. Thực trạng kiểm toán hoạt động nợ chính quyền địa phương ở Việt Nam và kinh nghiệm quốc tế Đề tài khái quát thực trạng kiểm toán nợ công của Kiểm toán nhà nước (những kết quả đạt được, chỉ ra các tồn tại hạn chế và nguyên nhân của các tồn tại hạn chế. Đề tài trình bày thực trạng kiểm toán hoạt động nợ chính quyền địa phương của Kiểm toán nhà nước trong đó khái quát tình hình tổ chức thực hiện kiểm toán hoạt động nợ chính quyền địa phương của Kiểm toán nhà nước trong những năm qua; đánh giá thực trạng kiểm toán hoạt động nợ chính quyền địa phương của Kiểm toán nhà nước trong thời gian qua và chỉ ra các tồn tại, hạn chế; phân tích nguyên nhân của các tồn tại hạn chế. Bên cạnh đó, đề tài còn tổng hợp kinh nghiệm quốc tế về kiểm toán nợ của INTOSAI Chương 3. Xây dựng đề cương kiểm toán hoạt động nợ chính quyền địa phương tại Việt Nam Đề tài trình bày xu hướng quản lý nợ chính quyền địa phương ở Việt Nam trong tương lai; định hướng hoàn thiện kiểm toán hoạt động nợ chính quyền địa phương của Kiểm toán nhà nước. Đề cương kiểm toán hoạt động nợ chính quyền địa phương cần được xây dựng trên cơ sở cụ thể hóa các bước trong Hướng dẫn kiểm toán hoạt động và Hướng dẫn kiểm toán công tác quản lý nợ công. Trong đó những nội dung chính bao gồm: + Mục tiêu kiểm toán hoạt động nợ chính quyền địa phương; + Nội dung và tiêu chí kiểm toán hoạt động nợ chính quyền địa phương; + Trình tự kiểm toán hoạt động nợ chính quyền địa phương; + Xây dựng phương thức tổ chức kiểm toán hoạt động nợ chính quyền địa phương; Ngoài ra, đề tài còn đề xuất một số kiến nghị những điều kiện cần thiết để nâng cao chất lượng kiểm toán hoạt động nợ chính quyền địa phương./.

Quản lý, điều hành ngân sách địa phương - Thực trạng và giải pháp hoàn thiện thông qua hoạt động kiểm toán của Kiểm toán nhà nước

Chủ nhiệm: TS. Nguyễn Hữu Hiểu và Ths. Đỗ Xuân Long Thư ký: Ths. Trịnh Thị Na     Thành viên chính: TS. Lê Đình Thăng                                Ths. Trương Khánh Hưng Đơn vị chủ trì: Trường Đào tạo và Bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm toán  Sự cần thiết nghiên cứu đề tài Ngân sách nhà nước Việt Nam được quản lý thống nhất, gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa phương. Quản lý, điều hành ngân sách địa phương gắn với các cấp chính quyền địa phương, nhưng có mối liên hệ chặt chẽ với ngân sách trung ương và ngân sách nhà nước. Công tác quản lý, điều hành ngân sách địa phương thời gian qua luôn được cải tiến và đạt nhiều kết quả tích cực góp phần lành mạnh tài chính quốc gia. Kiểm toán ngân sách nhà nước, trong đó có kiểm toán ngân sách địa phương là nhiệm vụ chủ yếu của Kiểm toán nhà nước. Thông qua hoạt động kiểm toán ngân sách địa phương, Kiểm toán nhà nước cung cấp thông tin cho Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân nơi kiểm toán và các cơ quan khác để phục vụ công tác quản lý, điều hành ngân sách địa phương. Những năm qua, Kiểm toán nhà nước đã thực hiện kiểm toán ngân sách địa phương với quy mô bao phủ tương đối rộng, qua kiểm toán đã phát hiện nhiều bất cập trong quản lý, điều hành ngân sách của các cấp chính quyền địa phương, từ đó Kiểm toán nhà nước kiến nghị hoàn thiện. Điều này đặt ra sự cần thiết phải nghiên cứu đề tài. Mục tiêu nghiên cứu - Hệ thống hóa kiến thức lý luận về quản lý, điều hành ngân sách địa phương và vai trò của Kiểm toán nhà nước đối với quản lý, điều hành ngân sách địa phương. - Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động kiểm toán đánh giá công tác quản lý, điều hành ngân sách địa phương của Kiểm toán nhà nước. - Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động kiểm toán đánh giá công tác quản lý, điều hành ngân sách địa phương của Kiểm toán nhà nước. Nội dung đề tài: Ngoài phần Mở đầu, Mục lục, Kết luận, Tài liệu tham khảo, nội dung chính của đề tài thể hiện ở 3 chương: Chương 1. Lý luận chung về quản lý, điều hành ngân sách địa phương Đề tài nêu tổng quan về quản lý, điều hành ngân sách địa phương. Trong đó đề cập đến các khái niệm, các yếu tố tác động đến quản lý, điều hành ngân sách địa phương (như hệ thống văn bản; tổ chức bộ máy; phân cấp quản lý; năng lực quản lý điều hành của chính quyền địa phương; hoạt động kiểm tra, giám sát, thanh tra ngân sách địa phương). Đề tài khái quát vai trò của Kiểm toán nhà nước đối với công tác quản lý, điều hành ngân sách địa phương gồm 5 vai trò. Bên cạnh đó, đề tài còn nêu những nội dung chủ yếu đánh giá công tác quản lý, điều hành ngân sách địa phương của Kiểm toán nhà nước. Chương 2. Thực trạng công tác đánh giá việc quản lý, điều hành ngân sách địa phương của Kiểm toán nhà nước Đề tài khái quát một số kết quả chủ yếu trong quản lý, điều hành ngân sách địa phương được đánh giá thông qua hoạt động kiểm toán đồng thời chỉ ra hạn chế trong quản lý, điều hành ngân sách địa phương được đánh giá thông qua hoạt động kiểm toán và nguyên nhân cơ bản. Đó là việc phân cấp quản lý thu, chi ngân sách còn chưa hợp lý; công tác lập, quyết định, giao dự toán ngân sách nhà nước còn một số bất cập; quá trình chấp hành ngân sách nhà nước còn bộc lộ nhiều lỗi, sai sót ảnh hưởng đến kỷ luật tài khóa; công tác quyết toán ngân sách địa phương tại nhiều nơi còn mang tính hình thức, tính bền vững của ngân sách địa phương chưa được chú trọng. Đề tài còn phân tích nguyên nhân chủ quan và khách quan dẫn đến các bất cập nêu trên. Bên cạnh đó, đề tài trình bày chi tiết thực trạng công tác đánh giá việc quản lý, điều hành ngân sách địa phương của Kiểm toán nhà nước đồng thời chỉ ra 8 hạn chế cơ bản và phân tích nguyên nhân của các hạn chế đó. Chương 3. Giải pháp hoàn thiện công tác đánh giá việc quản lý, điều hành ngân sách địa phương của Kiểm toán nhà nước Đề tài trình bày 4 định hướng công tác đánh giá việc quản lý, điều hành ngân sách địa phương của Kiểm toán nhà nước. Trên cơ sở đó, đề tài đề xuất 6 nhóm giải pháp hoàn thiện công tác đánh giá việc quản lý, điều hành ngân sách địa phương của Kiểm toán nhà nước gồm: cơ cấu nguồn thu, nhiệm vụ chi ngân sách địa phương; Hoàn thiện việc phân cấp ngân sách địa phương; hoàn thiện công tác lập và quyết định dự toán ngân sách địa phương; hoàn thiện công tác tổ chức quản lý thu ngân sách nhà nước; hoàn thiện công tác quản lý chi ngân sách địa phương; hoàn thiện công tác kế toán và quyết toán ngân sách địa phương; hoàn thiện công tác phê chuẩn quyết toán ngân sách địa phương./.

Quy trình kiểm toán quản lý và xử lý nước thải công nghiệp tại các khu công nghiệp

Chủ nhiệm: Ths. Đinh Văn Dũng và TS. Lê Doãn Hoài Thư ký: Ths. Nguyễn Ngọc Duyên Thành viên chính: Ths. Nguyễn Viết Hãnh                                 Ths. Vũ Đức Nam Đơn vị thực hiện: Kiểm toán nhà nước chuyên ngành III Sự cần thiết nghiên cứu đề tài Nước thải công nghiệp chứa nhiều chất ô nhiễm, xả thải ra môi trường khi chưa được xử lý gây ô nhiễm nước mặt, nước ngầm, gây ô nhiễm đất và ảnh hưởng tới sức khỏe người dân. Hầu hết các doanh nghiệp sản xuất trong ngành khai thác, công nghiệp chế biến thực phẩm, chế biến đồ uống, thuốc lá, giả da… đều sử dụng hóa chất độc hại, việc tuân thủ các quy định về bảo vệ môi trường còn mang tính hình thức, công tác bảo vệ môi trường chưa được quan tâm đúng mức, gây ra rò rỉ các hóa chất độc hại, xâm nhập vào môi trường gây ô nhiễm nguồn nước mà chưa có giải pháp ngăn chặn hiệu quả. Kiểm toán nhà nước đã thực hiện nhiều cuộc kiểm toán môi trường chuyên đề về hoạt động quản lý và bảo vệ môi trường tại các khu công nghiệp, khu kinh tế nhằm giúp Quốc hội và Chính phủ kiểm tra và giám sát công tác quản lý và bảo vệ môi trường của các cơ quan quản lý nhà nước. Tuy nhiên, kiểm toán môi trường mới xây dựng hướng dẫn/quy trình kiểm toán môi trường chung mà chưa có quy trình kiểm toán môi trường cho từng lĩnh vực cụ thể, đặc biệt là quy trình kiểm toán môi trường đối với công tác quản lý và xử lý nước thải khu công nghiệp. Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài “Quy trình kiểm toán quản lý và xử lý nước thải công nghiệp tại các khu công nghiệp” là hết sức cần thiết. Mục tiêu nghiên cứu - Khái quát hóa cơ sở lý luận, hệ thống cơ cấu tổ chức, cơ chế chính sách, hành lang pháp lý liên quan đến công tác quản lý và xử lý nước thải công nghiệp tại các khu công nghiệp Việt Nam; - Phân tích thực trạng và hoạt động kiểm toán công tác quản lý và xử lý nước thải của Kiểm toán nhà nước và bài học kinh nghiệm của một số nước trên thế giới từ đó đưa ra cách xác định mục tiêu, nội dung và tiêu chí kiểm toán; - Xây dựng quy trình kiểm toán công tác quản lý và xử lý nước thải công nghiệp tại các khu công nghiệp. Nội dung nghiên cứu: Ngoài phần Mở đầu và kết luận, đề tài kết cấu thành 3 chương. Chương 1. Cơ sở lý luận về nước thải công nghiệp và kiểm toán nước thải công nghiệp tại các khu công nghiệp Đề tài trình bày những vấn đề cơ bản về nước thải công nghiệp, khái niệm, phân loại và cơ sở nhận biết về nước thải công nghiệp, các tác động của nước thải công nghiệp đến môi trường, đời sống kinh tế xã hội và sức khỏe của con người; công tác quản lý nước thải công nghiệp tại các khu công nghiệp. Bên cạnh đó, đề tài khái quát vai trò và vị thế của Kiểm toán nhà nước trong công tác bảo vệ môi trường; các khái niệm cơ bản về kiểm toán môi trường và kiểm toán nước thải công nghiệp; những chủ đề, khía cạnh cơ bản về kiểm toán môi trường và kiểm toán nước thải công nghiệp. Chương 2. Thực trạng công tác kiểm toán nước thải công nghiệp tại Việt Nam và một số nước trên thế giới Đề tài khái quát thực trạng kiểm toán liên quan đến hoạt động quản lý và xử lý nước thải ở Việt Nam, trong đó có thực trạng kiểm toán công tác quản lý và xử lý nước thải công nghiệp trên thế giới và tại Việt Nam. Đề tài đi sâu phân tích, đánh giá thực trạng một số cuộc kiểm toán liên quan đến công tác quản lý và xử lý nước thải công nghiệp trên thế giới như cuộc kiểm toán nước thải khu công nghiệp của Trung Quốc, kiểm toán nước thải công nghiệp của Canada, kiểm toán nước thải công nghiệp của GAO. Trên cơ sở đó, đề tài rút ra các bài học kinh nghiệm cho Việt Nam. Chương 3. Quy trình kiểm toán công tác quản lý và xử lý nước thải công nghiệp tại các khu công nghiệp. Đề tài khái quát quy trình kiểm toán, phương pháp xây dựng quy trình kiểm toán, nguyên tắc xây dựng quy trình kiểm toán. Trên cơ sở đó, đề tài đề xuất quy trình kiểm toán công tác quản lý và xử lý nước thải công nghiệp tại các khu công nghiệp (từ khâu chuẩn bị kiểm toán; thực hiện kiểm toán; lập và gửi báo cáo kiểm toán; theo dõi, kiểm tra thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán). Bên cạnh đó, đề tài còn đề xuất các giải pháp và điều kiện thực hiện.