Chủ nhật, 17/5/2026

Điện thoại (024) 6287 3463

Đường dây nóng (024) 6287 3463

Liên hệ quảng cáo (+84)915.632.345

Chủ nhật, 17/5/2026
Bồi dưỡng kiến thức về định giá tài sản cho Kiểm toán viên nhà nước

Bồi dưỡng kiến thức về định giá tài sản cho Kiểm toán viên nhà nước

Thực hiện Kế hoạch đào tạo bồi dưỡng năm 2026 của Kiểm toán nhà nước, sáng 14/5, Trường Đào tạo và Bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm toán tổ chức khai giảng Lớp bồi dưỡng kiến thức về định giá tài sản cho đội ngũ Kiểm toán viên nhà nước đến từ các đơn vị Kiểm toán nhà nước chuyên ngành, khu vực và các đơn vị thuộc bộ máy điều hành. Khóa học do giảng viên đến từ Học viện Tài chính, Bộ Tài chính, Bộ Tài nguyên và Môi trường và Kiểm toán nhà nước trực tiếp giảng dạy. Toàn cảnh lớp học Trong bối cảnh kế hoạch kiểm toán năm 2026 tập trung vào một số nội dung trọng yếu như kiểm toán việc xác định giá đất, tính tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với các dự án theo Nghị quyết của Quốc hội; ​kiểm toán việc xử lý trụ sở, tài sản công khi thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính và mô hình chính quyền địa phương; ​nâng cao chất lượng kiến nghị kiểm toán, phải “rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm”, ​để thực hiện tốt các nhiệm vụ này, việc am hiểu sâu sắc về lý luận và thực tiễn định giá tài sản là yêu cầu cấp thiết, là “vũ khí” sắc bén để mỗi kiểm toán viên tự tin thực thi công vụ. Tham dự khóa học, học viên được trang bị kiến thức theo 4 chuyên đề: Cập nhật quy định liên quan đến quản lý, sử dụng đất đai; Kiến thức chung về định giá và thẩm định giá đất; Thực tiễn định giá và thẩm định giá đất, tài sản trên đất; Kỹ năng kiểm toán đối với quản lý, sử dụng đất đai & tài sản trên đất. Theo đó, các giảng viên sẽ trao đổi các vấn đề cụ thể về những điểm mới về Luật Đất đai 2024 liên quan đến giá đất và định giá đất (quyết định giá đất, trình tự, thủ tục thực hiện xác định giá đất, lựa chọn tổ chức có chức năng tư vấn xác định giá đất …); Giới  thiệu Nghị quyết 29/2026/QH16 về cơ chế, chính sách đặc thù để xử lý vi phạm pháp luật về đất đai của tổ chức, cá nhân xảy ra trước khi Luật Đất đai năm 2024 có hiệu lực và tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án tồn đọng, kéo dài; Giới thiệu chung về định giá, thẩm định giá, phân biệt định giá và thẩm định giá; Hệ thống chuẩn mực thẩm định giá Việt Nam (gồm 11 chuẩn mực thẩm định giá) và làm rõ cơ sở giá trị trong thẩm định giá, phạm vi công việc thẩm định giá, thành phần hồ sơ thẩm định giá (trong đó có Chứng thư thẩm định giá/ Thông báo kết quả thẩm định giá, Báo cáo kết quả thẩm định giá; Dịch vụ thẩm định giá và thẩm định giá nhà nước; Điều kiện hoạt động, hành nghề của doanh nghiệp, Thẩm định viên về giá và Các phương pháp thẩm định giá. Giảng viên đồng thời chia sẻ khái quát chung về thực tiễn định giá và thẩm định giá đất, tài sản trên đất; quy trình thực hiện; Các khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện định giá, thẩm định giá đất hiện nay (Các khó khăn về mặt quy định, điều kiện; thực tiễn) cũng như các tình huống thực tiễn, các bài học kinh nghiệm. Chuyên đề cuối cùng của lớp học do giảng viên của Kiểm toán nhà nước thực hiện sẽ tập trung trao đổi các quy định về phân định thẩm quyền và phân cấp trong lĩnh vực đất đai khi thực hiện chính quyền địa phương 02 cấp cũng như kiểm toán việc quản lý, sử dụng đất đai khi thực hiện chính quyền địa phương 2 cấp. Phát biểu khai giảng lớp học, ông Hà Minh Tuấn, Phó Giám đốc Trường cho biết, ​Khóa học này không chỉ đơn thuần là cập nhật kiến thức mà còn là diễn đàn để củng cố tư duy nghiệp vụ “Tâm - Đức - Tầm – Tài”. Chương trình được thiết kế chuyên sâu với 04 nội dung cốt lõi: ​Cập nhật khung pháp lý mới nhất: Đặc biệt là Luật Đất đai 2024 với những điểm mới về định giá đất, trình tự thủ tục và Nghị quyết 29/2026/QH16 về xử lý vi phạm, tháo gỡ khó khăn cho các dự án tồn đọng. ​Khóa học cũng nhằm hệ thống hóa lý luận chuyên môn: Làm rõ 11 chuẩn mực thẩm định giá Việt Nam, phân biệt rõ giữa “định giá” và “thẩm định giá”, cùng các phương pháp thẩm định; ​Thực tiễn và kỹ năng kiểm toán: Tập trung vào kỹ năng kiểm toán việc quản lý, sử dụng đất đai tại các địa phương; nhận diện các vướng mắc thực tế và bài học kinh nghiệm từ các chuyên gia của Cục Quản lý giá và Cục Quản lý đất đai. Để khóa học đạt kết quả thực chất, ông Hà Minh Tuấn đề nghị các học viên nêu cao tinh thần trách nhiệm, tự giác chấp hành kỷ luật lớp học. “Với đối tượng là các kiểm toán viên từ các đơn vị tham mưu và các Kiểm toán nhà nước chuyên ngành, khu vực, tôi mong các đồng chí chủ động trao đổi, thảo luận những vấn đề “nóng”, những khó khăn trong thực tiễn kiểm toán tại đơn vị mình.” - ông Tuấn đề nghị. ​Về phía giảng viên, Phó Giám đốc Trường đề nghị các chuyên gia bám sát đặc thù hoạt động của Kiểm toán nhà nước, tập trung vào các tình huống thực chiến để học viên có thể áp dụng ngay vào các đợt kiểm toán sắp tới. ​ Đây là lớp đầu tiên trong chuỗi 7 lớp bồi dưỡng kiến thức về định giá tài sản, dành cho gần 400 kiểm toán viên đến từ các đơn vị trong toàn Ngành, được tổ chức tại các Kiểm toán nhà nước khu vực và tại trụ sở Hà Nội trong tháng 5/2026.

Bồi dưỡng kiến thức về định giá tài sản cho Kiểm toán viên nhà nước

Bồi dưỡng kiến thức về định giá tài sản cho Kiểm toán viên nhà nước

Thực hiện Kế hoạch đào tạo bồi dưỡng năm 2026 của Kiểm toán nhà nước, sáng 14/5, Trường Đào tạo và Bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm toán tổ chức khai giảng Lớp bồi dưỡng kiến thức về định giá tài sản cho đội ngũ Kiểm toán viên nhà nước đến từ các đơn vị Kiểm toán nhà nước chuyên ngành, khu vực và các đơn vị thuộc bộ máy điều hành. Khóa học do giảng viên đến từ Học viện Tài chính, Bộ Tài chính, Bộ Tài nguyên và Môi trường và Kiểm toán nhà nước trực tiếp giảng dạy. Toàn cảnh lớp học Trong bối cảnh kế hoạch kiểm toán năm 2026 tập trung vào một số nội dung trọng yếu như kiểm toán việc xác định giá đất, tính tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với các dự án theo Nghị quyết của Quốc hội; ​kiểm toán việc xử lý trụ sở, tài sản công khi thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính và mô hình chính quyền địa phương; ​nâng cao chất lượng kiến nghị kiểm toán, phải “rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm”, ​để thực hiện tốt các nhiệm vụ này, việc am hiểu sâu sắc về lý luận và thực tiễn định giá tài sản là yêu cầu cấp thiết, là “vũ khí” sắc bén để mỗi kiểm toán viên tự tin thực thi công vụ. Tham dự khóa học, học viên được trang bị kiến thức theo 4 chuyên đề: Cập nhật quy định liên quan đến quản lý, sử dụng đất đai; Kiến thức chung về định giá và thẩm định giá đất; Thực tiễn định giá và thẩm định giá đất, tài sản trên đất; Kỹ năng kiểm toán đối với quản lý, sử dụng đất đai & tài sản trên đất. Theo đó, các giảng viên sẽ trao đổi các vấn đề cụ thể về những điểm mới về Luật Đất đai 2024 liên quan đến giá đất và định giá đất (quyết định giá đất, trình tự, thủ tục thực hiện xác định giá đất, lựa chọn tổ chức có chức năng tư vấn xác định giá đất …); Giới  thiệu Nghị quyết 29/2026/QH16 về cơ chế, chính sách đặc thù để xử lý vi phạm pháp luật về đất đai của tổ chức, cá nhân xảy ra trước khi Luật Đất đai năm 2024 có hiệu lực và tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án tồn đọng, kéo dài; Giới thiệu chung về định giá, thẩm định giá, phân biệt định giá và thẩm định giá; Hệ thống chuẩn mực thẩm định giá Việt Nam (gồm 11 chuẩn mực thẩm định giá) và làm rõ cơ sở giá trị trong thẩm định giá, phạm vi công việc thẩm định giá, thành phần hồ sơ thẩm định giá (trong đó có Chứng thư thẩm định giá/ Thông báo kết quả thẩm định giá, Báo cáo kết quả thẩm định giá; Dịch vụ thẩm định giá và thẩm định giá nhà nước; Điều kiện hoạt động, hành nghề của doanh nghiệp, Thẩm định viên về giá và Các phương pháp thẩm định giá. Giảng viên đồng thời chia sẻ khái quát chung về thực tiễn định giá và thẩm định giá đất, tài sản trên đất; quy trình thực hiện; Các khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện định giá, thẩm định giá đất hiện nay (Các khó khăn về mặt quy định, điều kiện; thực tiễn) cũng như các tình huống thực tiễn, các bài học kinh nghiệm. Chuyên đề cuối cùng của lớp học do giảng viên của Kiểm toán nhà nước thực hiện sẽ tập trung trao đổi các quy định về phân định thẩm quyền và phân cấp trong lĩnh vực đất đai khi thực hiện chính quyền địa phương 02 cấp cũng như kiểm toán việc quản lý, sử dụng đất đai khi thực hiện chính quyền địa phương 2 cấp. Phát biểu khai giảng lớp học, ông Hà Minh Tuấn, Phó Giám đốc Trường cho biết, ​Khóa học này không chỉ đơn thuần là cập nhật kiến thức mà còn là diễn đàn để củng cố tư duy nghiệp vụ “Tâm - Đức - Tầm – Tài”. Chương trình được thiết kế chuyên sâu với 04 nội dung cốt lõi: ​Cập nhật khung pháp lý mới nhất: Đặc biệt là Luật Đất đai 2024 với những điểm mới về định giá đất, trình tự thủ tục và Nghị quyết 29/2026/QH16 về xử lý vi phạm, tháo gỡ khó khăn cho các dự án tồn đọng. ​Khóa học cũng nhằm hệ thống hóa lý luận chuyên môn: Làm rõ 11 chuẩn mực thẩm định giá Việt Nam, phân biệt rõ giữa “định giá” và “thẩm định giá”, cùng các phương pháp thẩm định; ​Thực tiễn và kỹ năng kiểm toán: Tập trung vào kỹ năng kiểm toán việc quản lý, sử dụng đất đai tại các địa phương; nhận diện các vướng mắc thực tế và bài học kinh nghiệm từ các chuyên gia của Cục Quản lý giá và Cục Quản lý đất đai. Để khóa học đạt kết quả thực chất, ông Hà Minh Tuấn đề nghị các học viên nêu cao tinh thần trách nhiệm, tự giác chấp hành kỷ luật lớp học. “Với đối tượng là các kiểm toán viên từ các đơn vị tham mưu và các Kiểm toán nhà nước chuyên ngành, khu vực, tôi mong các đồng chí chủ động trao đổi, thảo luận những vấn đề “nóng”, những khó khăn trong thực tiễn kiểm toán tại đơn vị mình.” - ông Tuấn đề nghị. ​Về phía giảng viên, Phó Giám đốc Trường đề nghị các chuyên gia bám sát đặc thù hoạt động của Kiểm toán nhà nước, tập trung vào các tình huống thực chiến để học viên có thể áp dụng ngay vào các đợt kiểm toán sắp tới. ​ Đây là lớp đầu tiên trong chuỗi 7 lớp bồi dưỡng kiến thức về định giá tài sản, dành cho gần 400 kiểm toán viên đến từ các đơn vị trong toàn Ngành, được tổ chức tại các Kiểm toán nhà nước khu vực và tại trụ sở Hà Nội trong tháng 5/2026.

Trao Nghị quyết của Quốc hội về bầu Tổng Kiểm toán nhà nước đối với đồng chí Nguyễn Hữu Nghĩa

Trao Nghị quyết của Quốc hội về bầu Tổng Kiểm toán nhà nước đối với đồng chí Nguyễn Hữu Nghĩa

(BKTO) - Chiều 07/4, tại Hà Nội, Kiểm toán nhà nước phối hợp với Ủy ban Công tác đại biểu của Quốc hội, Văn phòng Quốc hội tổ chức Hội nghị công bố Nghị quyết của Quốc hội về bầu Tổng Kiểm toán nhà nước nhiệm kỳ 2026-2031 đối với đồng chí Nguyễn Hữu Nghĩa. Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn trao Nghị quyết của Quốc hội về công tác cán bộ cho đồng chí Nguyễn Hữu Nghĩa Tham dự Hội nghị có các đồng chí: Trần Thanh Mẫn - Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội; Nguyễn Hồng Diên - Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Quốc hội; Nguyễn Thị Hồng - Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Quốc hội; Ngô Văn Tuấn - Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Nguyên Tổng Kiểm toán nhà nước; Lê Quang Mạnh - Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Tổng Thư ký Quốc hội; Bùi Văn Nghiêm - Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Phó Trưởng Ban Nội chính Trung ương. Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn tặng hoa chúc mừng đồng chí Nguyễn Hữu Nghĩa Dự Hội nghị còn có các đồng chí Phó Chủ nhiệm các Ủy ban của Quốc hội, đại diện các Ban Đảng ở Trung ương, các Ủy ban của Quốc hội. Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn phát biểu tại Hội nghị Về phía tỉnh Hưng Yên có các đồng chí: Phạm Quang Ngọc - Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh; Trần Quốc Toản - Phó Bí thư thường trực Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Hưng Yên; Nguyễn Mạnh Quyền - Phó Bí thư Tỉnh ủy. Cùng dự có các đồng chí Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, lãnh đạo Ủy ban nhân dân tỉnh, lãnh đạo Hội đồng nhân dân tỉnh và các đồng chí lãnh đạo các cơ quan tham mưu giúp việc cho Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân, Hội đồng nhân dân tỉnh và Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Hưng Yên. Về phía Kiểm toán nhà nước có các đồng chí: Nguyễn Hữu Nghĩa - Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Tổng Kiểm toán nhà nước; Bùi Quốc Dũng - Ủy viên dự khuyết BCH Trung ương Đảng, Phó Tổng Kiểm toán nhà nước; các đồng chí Phó Tổng Kiểm toán nhà nước: Hà Thị Mỹ Dung, Doãn Anh Thơ, Trần Minh Khương; thủ trưởng các đơn vị trực thuộc Kiểm toán nhà nước, cùng đông đảo các đồng chí Phó Vụ trưởng, Trưởng phòng của các đơn vị có trụ sở tại Hà Nội. Quang cảnh Hội nghị Tại Hội nghị, Tổng Thư ký Quốc hội Lê Quang Mạnh đã công bố Nghị quyết số 07/2026/QH16 của Quốc hội về bầu Tổng Kiểm toán nhà nước nhiệm kỳ 2026-2031 đối với đồng chí Nguyễn Hữu Nghĩa. Thay mặt lãnh đạo Quốc hội, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn đã trao Nghị quyết của Quốc hội về công tác cán bộ cho đồng chí Nguyễn Hữu Nghĩa; đồng thời tặng hoa chúc mừng đồng chí Ngô Văn Tuấn và đồng chí Nguyễn Hữu Nghĩa. Chủ tịch Quốc hội cho biết, đồng chí Nguyễn Hữu Nghĩa đã có một quá trình công tác ở ngành ngân hàng, Ban Kinh tế Trung ương, tỉnh Hưng Yên, là một Tiến sĩ chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng; có nhiều kinh nghiệm ở Trung ương và địa phương. Chủ tịch Quốc hội mong rằng với bề dày kinh nghiệm, đồng chí sẽ cùng tập thể Kiểm toán nhà nước hoàn thành được nhiệm vụ trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI. Đồng chí Nguyễn Hữu Nghĩa và đồng chí Ngô Văn Tuấn trao Biên bản bàn giao nhiệm vụ. Theo Chủ tịch Quốc hội, trong thời gian tới, Kiểm toán nhà nước được đồng chí Tổng Bí thư chỉ đạo giao nhiệm vụ cùng với công tác giám sát, công tác kiểm tra để góp phần đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, tăng cường kiểm soát quyền lực trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Chủ tịch Quốc hội đề nghị đồng chí Nguyễn Hữu Nghĩa cùng tập thể Đảng ủy Kiểm toán nhà nước, lãnh đạo Kiểm toán nhà nước tập trung thực hiện tốt một số nhiệm vụ: Một là, tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật của Kiểm toán nhà nước, đảm bảo thiết chế kiểm toán đủ năng lực, đáp ứng được yêu cầu kiểm tra, giám sát việc quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công, thực hiện nghiêm Luật Kiểm toán nhà nước và xây dựng Chiến lược phát triển Kiểm toán nhà nước đến năm 2040, tầm nhìn đến năm 2045. Hai là, nâng cao chất lượng toàn diện nguồn nhân lực, xây dựng đội ngũ kiểm toán viên nhà nước “Đức - Tâm - Tầm - Tài”; tư tưởng chính trị, phẩm chất, năng lực chuyên môn phải vững vàng, phải có đạo đức nghề nghiệp. Ba là, đổi mới nâng cao hiệu quả hoạt động của Kiểm toán nhà nước, chủ động kiểm toán từ sớm, từ xa, không chỉ dừng lại ở phát hiện sai phạm mà phải nâng cao năng lực dự báo, phân tích, kiến nghị hoàn thiện cơ chế chính sách. Đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong kiểm toán. Đồng chí Nguyễn Hữu Nghĩa phát biểu nhận nhiệm vụ Bốn là, phát huy truyền thống, tiếp tục tăng cường hợp tác với các cơ quan kiểm toán tối cao trên thế giới. Năm là, tăng cường công khai minh bạch kết quả kiểm toán. “Điều quan trọng là sau kiểm toán, đơn vị, địa phương phải thực hiện như thế nào để khắc phục những bất cập được Kiểm toán nhà nước chỉ ra” - Chủ tịch Quốc hội nhấn mạnh. Chủ tịch Quốc hội bày tỏ mong muốn đồng chí Nguyễn Hữu Nghĩa cùng Ban Thường vụ Đảng ủy và lãnh đạo Kiểm toán nhà nước tiếp tục phát huy truyền thống đoàn kết, chung sức đồng lòng; lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng Đảng bộ Kiểm toán nhà nước thật sự trong sạch, vững mạnh. Đoàn kết để xây dựng Kiểm toán nhà nước ngày càng phát triển, vươn tầm, thực hiện hiệu quả Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV; Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quốc hội lần thứ I, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Kiểm toán nhà nước lần thứ VIII; triển khai tốt Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2026-2030, kế hoạch tài chính - ngân sách nhà nước, đầu tư công trung hạn cũng như quản lý vay, trả nợ công. Ngành Kiểm toán cần chủ động tham gia sâu vào các lĩnh vực này nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác kiểm toán. Cũng tại Hội nghị, Chủ tịch Quốc hội cảm ơn và đánh giá quá trình công tác cũng như những đóng góp của đồng chí Ngô Văn Tuấn đối với Thường vụ Đảng ủy Quốc hội, đối với ngành Kiểm toán nhà nước trong hơn 3 năm qua; đồng thời chúc mừng đồng chí được giao nhiệm vụ mới, tiếp tục phát huy năng lực, hoàn thành nhiệm vụ được giao. Phát biểu nhận nhiệm vụ, tân Tổng Kiểm toán nhà nước Nguyễn Hữu Nghĩa trân trọng bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Quốc hội, các  đại biểu Quốc hội đã tin tưởng, tín nhiệm bầu đồng chí giữ chức Tổng Kiểm toán nhà nước. Theo tân Tổng Kiểm toán nhà nước, Kiểm toán nhà nước sau gần 32 năm xây dựng và trưởng thành đã có những phát triển vượt bậc, từ một tổ chức không có tiền thân, đến nay đã trở thành một thể chế được Hiến định. Hoạt động kiểm toán đã góp phần tăng cường kỷ luật, kỷ cương, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, sử dụng tài chính, ngân sách nhà nước và tài sản công; phục vụ có hiệu quả cho các hoạt động của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp và công tác quản lý, điều hành của Chính phủ, góp phần thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Cũng theo tân Tổng Kiểm toán nhà nước, đất nước ta bước vào kỷ nguyên phát triển mới, kỷ nguyên phát triển giàu mạnh, văn minh, phồn vinh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội với 2 mục tiêu 100 năm, đặt ra yêu cầu mới, nặng nề hơn đối với toàn Đảng, toàn dân, quân ta cũng như toàn ngành Kiểm toán nhà nước, nhất là việc thực hiện mục tiêu phát triển nhanh và bền vững, mà trọng tâm là đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số. Bối cảnh mới đặt ra nhiều yêu cầu mới khó khăn và nặng nề hơn đối với Kiểm toán nhà nước, nhất là phải tiếp tục đổi mới và phát triển mạnh mẽ, toàn diện hơn nữa với tư duy mới, tầm nhìn mới mang tính đột phá nhằm phát huy vai trò, trách nhiệm của Kiểm toán nhà nước thực sự là công cụ của Đảng và Nhà nước trong công tác kiểm tra, giám sát việc quản lý, sử dụng tài chính, tài sản công và ngân sách nhà nước. Tân Tổng Kiểm toán nhà nước cho biết, dù đã trải qua nhiều vị trí công tác khác nhau từ Trung ương đến địa phương, song với trọng trách mới ở lĩnh vực mới, bản thân đồng chí sẽ không tránh khỏi những bỡ ngỡ, khó khăn. “Tôi mong muốn tiếp tục nhận được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát, sự hỗ trợ, giúp đỡ hơn nữa của các cấp lãnh đạo Trung ương, đặc biệt trực tiếp và thường xuyên là Đảng ủy Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội và đồng chí Chủ tịch Quốc hội; các đồng chí Phó Chủ tịch Quốc hội; sự hỗ trợ, hợp tác, giúp đỡ của các đồng chí trong Ban Thường vụ Đảng ủy, lãnh đạo Kiểm toán nhà nước và công chức, viên chức, người lao động của Kiểm toán nhà nước để tôi hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao” - tân Tổng Kiểm toán nhà nước phát biểu. Tổng Kiểm toán nhà nước Nguyễn Hữu Nghĩa, nguyên Tổng Kiểm toán nhà nước Ngô Văn Tuấn chụp ảnh lưu niệm cùng lãnh đạo Kiểm toán nhà nước và thủ trưởng các đơn vị trực thuộc Kiểm toán nhà nước Đặc biệt, tân Tổng Kiểm toán nhà nước xin nghiêm túc tiếp thu các ý kiến chỉ đạo của đồng chí Chủ tịch Quốc hội và sẽ cụ thể hóa thành kế hoạch và các nhiệm vụ, giải pháp cụ thể để triển khai thực hiện trong thời gian tới. Trên cương vị mới, đồng chí bày tỏ cam kết cùng tập thể Đảng ủy, Ban lãnh đạo và toàn thể công chức, viên chức, người lao động của Kiểm toán nhà nước tập trung thực hiện tốt các nhiệm vụ theo chỉ đạo của Chủ tịch Quốc hội và 6 định hướng quan trọng sau: 1- Kế thừa, phát huy những thành tựu và kết quả đạt được trong 32 năm xây dựng và phát triển, tiếp tục xây dựng Đảng bộ và cơ quan Kiểm toán nhà nước trong sạch, vững mạnh toàn diện, đoàn kết, thống nhất, kỷ cương, kỷ luật, hiệu lực, hiệu quả với môi trường làm việc lành mạnh, liêm chính, kỷ cương, chuyên nghiệp, xứng đáng với niềm tin mà Đảng, Nhà nước và Nhân dân giao phó. 2- Triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Nghị quyết Đại hội đại biểu lần thứ nhất của Đảng bộ Quốc hội, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Kiểm toán nhà nước lần thứ VIII và Chiến lược Phát triển Kiểm toán nhà nước đến năm 2030. Đồng thời, tiếp tục rà soát, hoàn thiện hệ thống thể chế, các quy định, chế độ, chính sách liên quan đến hoạt động kiểm toán của Kiểm toán nhà nước nhằm tạo lập và hoàn thiện khuôn khổ thể chế cho hoạt động Kiểm toán nhà nước, đáp ứng yêu cầu đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động trong thời gian tới, đặc biệt trọng tâm là rà soát, tổng kết, thực hiện Chiến lược phát triển Kiểm toán nhà nước đến năm 2030, từ đó đề xuất một số định hướng, mục tiêu, tầm nhìn đến năm 2045. 3- Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương thức tổ chức và hoạt động kiểm toán theo hướng chuyên nghiệp, hiệu lực, hiệu quả và tiệm cận các chuẩn mực quốc tế; nâng cao chất lượng kiểm toán, chú trọng hơn đến kiểm toán tuân thủ và kiểm toán hoạt động ở các cơ quan, đơn vị có sử dụng vốn, tài sản và ngân sách của Nhà nước; bảo đảm kết luận, kiến nghị kiểm toán có cơ sở vững chắc, có tính khả thi như đồng chí Chủ tịch Quốc hội đã nhấn mạnh. Hoạt động của Kiểm toán nhà nước vừa bảo đảm việc quản lý, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, các tài sản, tài chính công, nhưng đồng thời cũng phải đi cùng với việc kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, kịp thời phát hiện từ sớm từ xa, đồng thời kiến nghị cơ quan có thẩm quyền để xử lý các nguy cơ, các rủi ro dễ vi phạm, các hạn chế, yếu kém trong hoạt động của các cơ quan, đơn vị có sử dụng nguồn lực công, tạo thuận lợi tốt nhất cho các cơ quan, đơn vị có sử dụng ngân sách và tài chính của Nhà nước, phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội. 4- Tăng cường kiểm toán các lĩnh vực, các cơ quan, các đơn vị và các đối tượng nhạy cảm, tiềm ẩn nhiều rủi ro; các chương trình, dự án trọng điểm quốc gia, qua đó góp phần bảo đảm tuân thủ đúng các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; nâng cao hiệu quả đầu tư và sử dụng ngân sách nhà nước; phòng ngừa, phát hiện và kiến nghị xử lý kịp thời những hành vi vi phạm pháp luật, các nguy cơ về thất thoát, lãng phí trong sử dụng vốn và tài sản nhà nước. Lãnh đạo Kiểm toán nhà nước tặng hoa chúc mừng đồng chí Nguyễn Hữu Nghĩa và đồng chí Ngô Văn Tuấn 5- Đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong hoạt động Kiểm toán nhà nước, trọng tâm là xây dựng cơ sở dữ liệu đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất và kết nối liên thông; đầu tư các hệ thống nền tảng, ứng dụng số, trí tuệ nhân tạo. Nâng cao năng lực phân tích, dự báo, kiến nghị hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật, qua đó phát huy tốt hơn nữa vai trò của Kiểm toán nhà nước trong việc cung cấp thông tin đáng tin cậy cho Quốc hội phục vụ hoạt động xây dựng pháp luật, giám sát tối cao, quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước cũng như giúp Chính phủ trong hoạt động quản lý, điều hành kinh tế - xã hội. 6- Tiếp tục chú trọng xây dựng, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là đội ngũ kiểm toán viên nhà nước, đề cao trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu. Cán bộ, công chức Kiểm toán nhà nước phải là những người luôn liêm chính, chí công, vô tư, khách quan, tuân thủ pháp luật, có “Đức, Trí, Tâm, Tầm, Tài”; có tư tưởng, chính trị vững vàng, đạo đức, trình độ, chuyên môn nghiệp vụ tốt, tính chuyên nghiệp cao, nắm chắc quy định của pháp luật và những chuẩn mực kiểm toán. “Tập thể lãnh đạo, cán bộ, công chức, viên chức, người lao động của Kiểm toán nhà nước quán triệt sâu sắc và quyết tâm thực hiện phương châm: Biến chủ trương, ý chí thành hành động, biến quyết sách, nhiệm vụ thành kết quả, sản phẩm cụ thể; nói là làm, làm ngay, làm đúng, làm quyết liệt, làm đến cùng và làm hiệu quả như chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm” - tân Tổng Kiểm toán nhà nước khẳng định. Cũng tại Hội nghị, Nguyên Tổng Kiểm toán nhà nước Ngô Văn Tuấn đã tặng hoa chúc mừng đồng chí Nguyễn Hữu Nghĩa; đồng thời, hai đồng chí đã ký biên bản bàn giao nhiệm vụ./.                                                                                                                                                                                                                                        (Theo Báo Kiểm toán online)

Định vị kế toán như một lĩnh vực STEM và tác động đến chất lượng nguồn nhân lực kế toán trong kỷ nguyên chuyển đổi số

Định vị kế toán như một lĩnh vực STEM và tác động đến chất lượng nguồn nhân lực kế toán trong kỷ nguyên chuyển đổi số

Chuyển đổi số đang làm thay đổi căn bản nghề nghiệp kế toán từ vai trò ghi chép, tuân thủ sang vai trò phân tích, tư vấn và kiến tạo giá trị dựa trên dữ liệu và công nghệ. Trong bối cảnh đó, Hiệp hội Kế toán Công chứng Hoa Kỳ (AICPA) đã ủng hộ Accounting STEM Pursuit Act, một sáng kiến lập pháp nhằm công nhận kế toán như một lộ trình nghề nghiệp thuộc khối Khoa học - Công nghệ - Kỹ thuật - Toán học (STEM) và mở rộng khả năng sử dụng nguồn lực tài trợ giáo dục phổ thông để tăng tiếp cận sớm với giáo dục kế toán. Tại Việt Nam, yêu cầu chuyển đổi số và hiện đại hóa lĩnh vực kế toán - kiểm toán đã được định hướng trong Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 và Chiến lược kế toán - kiểm toán đến năm 2030; đồng thời lộ trình áp dụng IFRS/VFRS tạo thêm áp lực nâng cấp năng lực nghề nghiệp. Bài viết này sử dụng cách tiếp cận phân tích nội dung và phân tích tài liệu để (i) làm rõ logic chính sách và lập luận nghề nghiệp đằng sau việc định vị kế toán như STEM, (ii) đối sánh với bối cảnh thể chế Việt Nam và (iii) đề xuất hàm ý chính sách nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực kế toán trong nền kinh tế số. Kết quả phân tích cho thấy định vị STEM có thể được hiểu như một cơ chế điều phối kỳ vọng xã hội, phân bổ nguồn lực và thiết kế chương trình đào tạo theo hướng dữ liệu - công nghệ; tuy nhiên, giá trị của nó phụ thuộc vào mức độ chuyển hóa thành thay đổi thực chất về chuẩn đầu ra, học liệu, phương pháp đánh giá năng lực và hợp tác trường - nghề nghiệp - doanh nghiệp. Bài viết gợi ý chương trình nghiên cứu tiếp theo, trong đó các giả thuyết và thiết kế định lượng chỉ được xem là hướng mở rộng sau khi đã làm rõ khung khái niệm và các điều kiện thực thi trong bối cảnh Việt Nam. Từ khóa: Kế toán số; STEM; giáo dục kế toán; chuyển đổi số; chất lượng nguồn nhân lực. Positioning accounting as a STEM field and its impact on accounting human resources in the digital transformation Era Digital transformation is fundamentally shifting the accounting profession from recording and compliance to data-driven analysis, advisory and value creation. In this context, the American Institute of Certified Public Accountants (AICPA) has supported a legislative initiative to recognize accounting as a career path within the Science, Technology, Engineering and Mathematics (STEM) fields and to expand the use of public education funding to increase early access to accounting education. In Vietnam, the need for digital transformation and modernization of the accounting and auditing sector has been outlined into the National Digital Transformation Program to 2025, with a vision to 2030 and the Accounting and Auditing Strategy to 2030. At the same time, the IFRS/VFRS adoption roadmap creates additional pressure to upgrade professional skills. This paper employs document analysis to: (i) clarify the policy logic of STEM positioning, (ii) compare it with the Vietnamese institutional context and (iii) propose policy implications for enhancing accounting human resources. The analysis results reveal that STEM positioning serves as a mechanism to coordinate social expectations and resource allocation and designing data - and technology - oriented training programs; however, its value depends on the extent to which it translates into substantive changes in learning outcomes, learning materials, competency assessment methods and collaboration between schools, professions, and businesses. The article suggests further research, in which quantitative hypotheses and designs should only be considered as extensions after clarifying the conceptual framework and implementation conditions in the Vietnamese context. Keywords: Digital accounting; STEM; accounting education; digital transformation; human resource quality JEL classification: M41, O33, I25, J24 https://doi.org/10.65771/ati-jas.04202601 1. Đặt vấn đề Chuyển đổi số đang tái cấu trúc cách thức tạo lập, lưu chuyển và kiểm soát thông tin tài chính trong cả doanh nghiệp và khu vực công. Khi dữ liệu giao dịch được số hóa, chứng từ điện tử trở thành chuẩn vận hành, các quy trình kế toán - thuế được liên thông trên nền tảng số và các hệ thống quản trị như ERP (Hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp - Enterprise Resource Planning), ngân hàng điện tử hay nền tảng phân tích dữ liệu ngày càng phổ biến, giá trị gia tăng của nghề kế toán dịch chuyển mạnh từ thao tác nhập liệu sang thiết kế kiểm soát, bảo đảm chất lượng dữ liệu, phân tích và truyền đạt thông tin phục vụ quyết định quản trị. Xu hướng này khiến năng lực công nghệ, năng lực dữ liệu và tư duy phản biện trở thành yêu cầu nền tảng của người làm kế toán, đồng thời đặt lại câu hỏi về cách thức đào tạo và định vị nghề nghiệp trong xã hội. Ở Việt Nam, định hướng chuyển đổi số đã được xác lập ở tầm quốc gia trong Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 (Thủ tướng Chính phủ, 2020). Trong lĩnh vực kế toán - kiểm toán, Chiến lược kế toán - kiểm toán đến năm 2030 đặt mục tiêu hiện đại hóa khung khổ pháp lý và tổ chức thực thi theo hướng tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, thực hiện chuyển đổi số và xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ quản lý, giám sát (Thủ tướng Chính phủ, 2022). Cùng với đó, việc triển khai hóa đơn, chứng từ điện tử theo Nghị định 123/2020/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/7/2022 tạo ra một bước ngoặt vận hành, khiến năng lực tác nghiệp trên môi trường số trở thành yêu cầu phổ biến của nhiều doanh nghiệp (Chính phủ, 2020). Song song với chuyển đổi số, Việt Nam thúc đẩy hội nhập chuẩn mực báo cáo tài chính thông qua Đề án áp dụng chuẩn mực báo cáo tài chính tại Việt Nam theo Quyết định 345/QĐ-BTC ngày 16/3/2020, nhấn mạnh lộ trình áp dụng IFRS và xây dựng VFRS, cũng như vai trò của các cơ sở đào tạo và hội nghề nghiệp trong nghiên cứu, đào tạo và hỗ trợ triển khai (Bộ Tài chính, 2020). Kết hợp lại, các dòng áp lực thể chế này làm nổi bật một yêu cầu trung tâm rằng chất lượng nguồn nhân lực kế toán phải được nhìn nhận như khả năng sẵn sàng đáp ứng đồng thời yêu cầu chuẩn mực, tuân thủ và yêu cầu công nghệ, dữ liệu trong môi trường số. Trong khi đó, ở một số quốc gia phát triển, nghề kế toán đang được tái định vị như một nghề nghiệp công nghệ hóa. Tại Hoa Kỳ, AICPA ủng hộ dự luật Accounting STEM Pursuit Act (S.3784) nhằm công nhận kế toán như một lộ trình nghề nghiệp thuộc khối Khoa học - Công nghệ - Kỹ thuật - Toán học (STEM) và mở rộng khả năng sử dụng nguồn lực tài trợ giáo dục phổ thông để tăng tiếp cận sớm với giáo dục kế toán (AICPA, 2026; Strickland, 2026). AICPA cũng công bố kết quả khảo sát do The Harris Poll thực hiện cho thấy tỷ lệ ủng hộ cao đối với việc coi các khóa học kế toán là STEM, qua đó gợi ý rằng nhãn STEM có thể tác động đến lựa chọn ngành học và mở rộng nguồn cung nhân lực cho nghề kế toán (AICPA, 2025; Strickland, 2025). Truyền thông chuyên ngành quốc tế ghi nhận đây là một bước đi mang tính thể chế nhằm gắn kế toán với các kỹ năng dữ liệu và công nghệ trong hệ sinh thái giáo dục (The Accountant, 2026). Từ các diễn biến này, câu hỏi đặt ra cho Việt Nam không chỉ là có nên gắn kế toán với STEM hay không, mà quan trọng hơn là gắn như thế nào để tạo ra chuyển biến thực chất về chất lượng nguồn nhân lực. Vì vậy, chọn cách tiếp cận phân tích nội dung và phân tích tài liệu, bài viết này tập trung vào việc đọc, phân tích chính sách, cấu trúc ngôn ngữ nghề nghiệp và các điều kiện thực thi; qua đó đề xuất hàm ý cho quản lý nhà nước, cơ sở đào tạo và tổ chức nghề nghiệp. Các đề xuất về kiểm định định lượng, giả thuyết và mô hình thống kê chỉ được trình bày như hướng nghiên cứu mở rộng ở phần kết luận. 2. Phương pháp nghiên cứu Bài viết sử dụng phương pháp phân tích tài liệu và phân tích nội dung theo hướng định tính, dựa trên các văn bản chính sách và tài liệu nghề nghiệp ở hai cấp độ. Ở cấp độ quốc tế, nguồn tư liệu trọng tâm gồm thông cáo và bài viết của AICPA về Accounting STEM Pursuit Act, các bài phân tích của Journal of Accountancy và tin chuyên ngành của The Accountant về việc AICPA ủng hộ dự luật (AICPA, 2025, 2026; Strickland, 2025, 2026; The Accountant, 2026). Ở cấp độ Việt Nam, tư liệu gồm Chương trình Chuyển đổi số quốc gia (Thủ tướng Chính phủ, 2020), Chiến lược kế toán - kiểm toán đến năm 2030 (Thủ tướng Chính phủ, 2022), Đề án áp dụng IFRS/VFRS (Bộ Tài chính, 2020) và quy định về hóa đơn, chứng từ điện tử (Chính phủ, 2020). Ngoài ra, bài viết tham chiếu các cập nhật về Chuẩn mực Giáo dục Quốc tế liên quan năng lực công nghệ thông tin - truyền thông và hoài nghi nghề nghiệp như một chuẩn quy chiếu về năng lực (IAESB, 2019). Quy trình phân tích nội dung được triển khai theo hướng mã hóa chủ đề. Trước hết, bài viết xác định các nội dung chính trong lập luận của AICPA về bản chất công nghệ hóa của nghề kế toán và mục tiêu chính sách của dự luật. Tiếp đó, bài viết đối sánh các tuyên bố này với bối cảnh thể chế Việt Nam nhằm nhận diện sự tương thích, các khoảng trống và điều kiện cần để chuyển hóa từ “nhãn nghề nghiệp” sang “năng lực thực hành”. Cuối cùng, bài viết tổng hợp thành các chủ đề hàm ý chính sách theo ba tầng: tầng nhà nước (khung pháp lý, cơ chế khuyến khích), tầng cơ sở đào tạo (chuẩn đầu ra, thiết kế chương trình, đánh giá) và tầng nghề nghiệp - doanh nghiệp (chuẩn năng lực, chứng chỉ, hệ sinh thái thực hành). 3. Kết quả nghiên cứu Phân tích nội dung cho thấy, trong lập luận của AICPA, “STEM” không được sử dụng như một phân loại học thuật thuần túy, mà như một công cụ thể chế để tái định nghĩa nghề nghiệp và mở rộng cơ chế nguồn lực cho giáo dục kế toán. Nói cách khác, “định vị STEM” vừa mang tính mô tả (mô tả nghề kế toán hiện đại dựa trên dữ liệu và công nghệ) vừa mang tính thiết kế chính sách (tạo căn cứ để huy động, phân bổ hoặc hợp thức hóa các nguồn lực phát triển kỹ năng cho người học từ sớm) (AICPA, 2026; Strickland, 2026). 3.1. STEM như ngôn ngữ tái định nghĩa nghề kế toán trong kỷ nguyên dữ liệu Chủ đề thứ nhất là STEM được vận dụng như một ngôn ngữ tái định nghĩa nghề kế toán theo hướng “dữ liệu - công nghệ - tư duy phân tích”. Các bài viết liên quan dự luật nhấn mạnh rằng kế toán ngày nay vận hành trên nền tảng hệ thống số và đòi hỏi năng lực phân tích, xử lý dữ liệu, cùng tư duy phản biện trong ra quyết định (AICPA, 2026; Strickland, 2026). Khi STEM được hiểu theo nghĩa rộng như vậy, nó giúp chuyển trọng tâm truyền thông nghề nghiệp từ hình ảnh ghi chép sang hình ảnh kiến tạo giá trị, qua đó điều chỉnh kỳ vọng xã hội về nghề kế toán. So sánh với Việt Nam cho thấy, nhu cầu tái định nghĩa này có cơ sở thực tiễn mạnh. Việc vận hành hóa đơn, chứng từ điện tử theo Nghị định 123/2020/ NĐ-CP khiến nhiều nghiệp vụ kế toán chuyển sang môi trường số, kéo theo yêu cầu hiểu quy trình hệ thống, kiểm soát dữ liệu đầu vào và đối chiếu dữ liệu liên thông (Chính phủ, 2020). Đồng thời, lộ trình IFRS/VFRS làm tăng yêu cầu về xét đoán và chất lượng thông tin tài chính, vốn không thể tách rời năng lực xử lý dữ liệu và hiểu hệ thống tạo lập dữ liệu (Bộ Tài chính, 2020). Vì vậy, việc định vị kế toán theo hướng dữ liệu - công nghệ có thể coi là phù hợp với biến đổi của môi trường nghề nghiệp trong nước, thay vì chỉ là nhập khẩu một nhãn từ nước ngoài. 3.2. STEM như cơ chế nguồn lực và tiếp cận sớm trong hệ sinh thái giáo dục Chủ đề thứ hai là STEM được sử dụng như một cơ chế tiếp cận nguồn lực và tăng tiếp cận sớm với giáo dục kế toán. Dự luật mà AICPA ủng hộ hướng đến việc cho phép các nguồn tài trợ giáo dục phổ thông được sử dụng cho chương trình kế toán, qua đó tạo điều kiện để người học tiếp xúc sớm hơn với tư duy dữ liệu và các kỹ năng nền tảng liên quan (AICPA, 2026; Strickland, 2026). Điểm này cho thấy trọng tâm của lập luận không chỉ nằm ở xếp loại ngành mà nằm ở thiết kế cơ chế giúp tái cấu trúc chuỗi đào tạo nhân lực từ bậc phổ thông đến đại học. Trong bối cảnh Việt Nam, Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đặt mục tiêu phát triển kỹ năng số rộng khắp và thúc đẩy chuyển đổi số trong nhiều lĩnh vực (Thủ tướng Chính phủ, 2020). Từ góc nhìn phân tích chính sách, điều này mở ra khả năng lồng ghép nội dung kỹ năng dữ liệu tài chính cơ bản trong các hoạt động hướng nghiệp, giáo dục tài chính, hoặc các mô-đun kỹ năng số ở phổ thông. Dù Việt Nam không có cơ chế tài trợ giáo dục K-12 giống Hoa Kỳ, logic tiếp cận sớm vẫn có thể triển khai bằng các mô hình hợp tác giữa nhà trường, doanh nghiệp và tổ chức nghề nghiệp, ví dụ thiết kế học liệu mở, cuộc thi dữ liệu tài chính, hoặc chương trình trải nghiệm nghề kế toán số cho học sinh. 3.3. STEM như tín hiệu thị trường và cuộc cạnh tranh thu hút nhân lực Chủ đề thứ ba là STEM hoạt động như một tín hiệu thị trường, tác động đến lựa chọn ngành học và khả năng thu hút nhân lực. AICPA sử dụng kết quả khảo sát công chúng để củng cố lập luận rằng việc gắn kế toán với STEM có thể làm tăng khuynh hướng lựa chọn học kế toán, từ đó góp phần mở rộng nguồn cung nhân lực cho ngành (AICPA, 2025; Strickland, 2025). Dù dữ liệu khảo sát thuộc bối cảnh Hoa Kỳ, thông điệp chính sách có thể khái quát: trong môi trường cạnh tranh nhân lực với các ngành công nghệ, nghề kế toán cần một ngôn ngữ mới để mô tả giá trị nghề nghiệp và lộ trình phát triển. Ở Việt Nam, cạnh tranh nhân lực giữa các nhóm ngành kinh tế và nhóm ngành công nghệ đang gia tăng, trong khi nhu cầu kế toán - kiểm toán lại đòi hỏi ngày càng nhiều kỹ năng số. Vì vậy, định vị STEM có thể đóng vai trò như một chiến lược truyền thông nghề nghiệp, song chỉ hiệu quả nếu gắn với các cam kết thực chất về chuẩn đầu ra và cơ hội nghề nghiệp. Nếu STEM chỉ dừng ở khẩu hiệu, rủi ro kỳ vọng sai sẽ xuất hiện: người học kỳ vọng một nghề nghiệp công nghệ cao nhưng lại gặp chương trình đào tạo nặng ghi nhớ chế độ, ít thực hành dữ liệu và hệ thống. Điều này có thể làm giảm niềm tin vào thương hiệu chương trình và làm suy yếu tín hiệu mà STEM dự định tạo ra. 3.4. Điều kiện chuyển hóa Chủ đề thứ tư là điều kiện chuyển hóa. Phân tích đối sánh cho thấy định vị STEM chỉ có ý nghĩa đối với chất lượng nguồn nhân lực nếu được hiện thực hóa bằng bốn điều kiện then chốt: chuẩn năng lực, thiết kế chương trình, phương pháp đánh giá và hệ sinh thái thực hành. Ở cấp chuẩn năng lực, các sửa đổi Chuẩn mực Giáo dục Quốc tế nhấn mạnh năng lực công nghệ thông tin - truyền thông và hoài nghi nghề nghiệp như kết quả học tập quan trọng trong đào tạo kế toán (IAESB, 2019). Điều này gợi ý một chuẩn tham chiếu phù hợp để Việt Nam xây dựng hoặc cập nhật khung năng lực kế toán số, giúp tránh tình trạng STEM hóa bằng cách thêm các môn học rời rạc. Ở cấp thiết kế chương trình, Chiến lược kế toán - kiểm toán đến năm 2030 đã nhấn mạnh chuyển đổi số và xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ quản lý, giám sát (Thủ tướng Chính phủ, 2022). Nếu chuyển hóa vào giáo dục, điều này đòi hỏi chương trình đào tạo không chỉ dạy phần mềm, mà dạy nguyên lý hệ thống thông tin kế toán, quản trị dữ liệu, thiết kế kiểm soát, phân tích dữ liệu phục vụ quyết định và chuẩn mực đạo đức trong môi trường số. Ở cấp phương pháp đánh giá, thay vì kiểm tra ghi nhớ, đánh giá cần hướng tới năng lực giải quyết vấn đề trên dữ liệu và tình huống số hóa, bao gồm mô phỏng quy trình hóa đơn - chứng từ điện tử và đối chiếu dữ liệu liên thông (Chính phủ, 2020). Ở cấp hệ sinh thái thực hành, vai trò của doanh nghiệp và tổ chức nghề nghiệp trở nên quyết định, bởi dữ liệu, tình huống và công cụ thực tế là nguyên liệu để đào tạo theo hướng STEM. 4. Thảo luận và hàm ý chính sách cho Việt Nam Từ các chủ đề trên, có thể xem định vị kế toán như STEM là một đòn bẩy thể chế nhằm đưa kỹ năng dữ liệu - công nghệ trở thành trung tâm của chất lượng nguồn nhân lực, đồng thời tái cấu trúc cách xã hội nhìn nhận nghề kế toán. Tuy nhiên, trong bối cảnh Việt Nam, cần phân biệt rõ giữa định vị và cải cách. Định vị là bước tạo khung nhận thức và huy động nguồn lực, còn cải cách là bước thay đổi thực chất chương trình, chuẩn năng lực và cơ chế liên kết. 4.1. Hàm ý cho quản lý nhà nước Trước hết, quản lý nhà nước có thể xem xét thiết kế chương trình hành động về phát triển nhân lực kế toán số như một cấu phần của thực thi Chiến lược kế toán - kiểm toán đến năm 2030, thay vì coi đào tạo là hoạt động tách rời. Từ góc nhìn chính sách công, chương trình hành động này cần xác định rõ chuẩn năng lực kế toán số ở các bậc đào tạo, đồng thời đề xuất cơ chế khuyến khích các trường cập nhật học liệu, hạ tầng dữ liệu và phòng thực hành hệ thống. Việc tham chiếu các chuẩn quốc tế về năng lực công nghệ thông tin - truyền thông và hoài nghi nghề nghiệp là cần thiết để bảo đảm tính tương thích và tính cập nhật. Thứ hai, cần kết nối định vị STEM với hai ưu tiên thể chế đang triển khai, cụ thể là: số hóa chứng từ và hội nhập chuẩn mực. Hóa đơn, chứng từ điện tử theo Nghị định 123/2020/NĐ-CP đã làm thay đổi cấu trúc quy trình kế toán ở cấp tổ chức, còn lộ trình IFRS/VFRS làm gia tăng yêu cầu xét đoán và chất lượng thông tin tài chính. Vì vậy, chính sách nhân lực kế toán số nên được thiết kế như mắt xích hỗ trợ hai ưu tiên này, ví dụ bằng các tiêu chí kiểm định chất lượng chương trình gắn với năng lực hệ thống và năng lực xét đoán. 4.2. Hàm ý cho cơ sở đào tạo Đối với cơ sở đào tạo, trọng tâm không phải là thêm nhiều học phần công nghệ, mà là tổ chức lại trải nghiệm học tập theo hướng dữ liệu và hệ thống. Điều này có nghĩa các học phần kế toán tài chính, kế toán quản trị, kiểm toán, thuế và kiểm soát nội bộ cần tích hợp dữ liệu và tình huống số hóa vào bài tập, dự án và đánh giá. Việc dạy nguyên lý để vận dụng, thay vì dạy ghi nhớ, trở nên đặc biệt quan trọng khi công cụ và phần mềm thay đổi nhanh. Một cách tiếp cận phù hợp là phát triển các môđun phòng thực hành dữ liệu trong đó người học làm việc với bộ dữ liệu giao dịch lớn (được làm mờ, hoặc ẩn danh), thực hiện làm sạch dữ liệu, đối chiếu dữ liệu, phát hiện bất thường và trình bày ý nghĩa kế toán của kết quả phân tích. Các bài tập mô phỏng quy trình hóa đơn, chứng từ điện tử cũng giúp người học hiểu logic hệ thống và kiểm soát, qua đó tăng năng lực tuân thủ và giảm rủi ro vận hành. Ở cấp chương trình, sự liên kết với lộ trình IFRS/VFRS đòi hỏi tăng cường nội dung xét đoán nghề nghiệp, đồng thời gắn với cách dữ liệu được tạo lập và kiểm soát trong hệ thống số. 4.3. Hàm ý cho tổ chức nghề nghiệp và doanh nghiệp Tổ chức nghề nghiệp và doanh nghiệp giữ vai trò “bảo trợ năng lực” trong giai đoạn chuyển đổi số. Về mặt chuẩn hóa, tổ chức nghề nghiệp có thể phát triển bộ học liệu và chứng chỉ theo hướng kế toán số, phân tích dữ liệu và kiểm soát hệ thống, đồng thời cập nhật yêu cầu đạo đức và hoài nghi nghề nghiệp trong môi trường số theo chuẩn quốc tế. Về mặt truyền thông, kinh nghiệm AICPA cho thấy việc tái định vị nghề nghiệp cần đi kèm lập luận nghề nghiệp và bằng chứng xã hội để tạo đồng thuận. Ở Việt Nam, truyền thông nghề nghiệp theo hướng kế toán là năng lực dữ liệu có thể hỗ trợ thu hút người học, nhưng phải được bảo chứng bằng năng lực thực hành và cơ hội nghề nghiệp cụ thể. Đối với doanh nghiệp, định vị STEM gợi ý rằng kế toán không chỉ là chức năng tuân thủ, mà là một mắt xích của quản trị dữ liệu và quản trị rủi ro. Khi doanh nghiệp đầu tư vào hệ thống và chuẩn hóa dữ liệu, vai trò của kế toán chuyển mạnh sang thiết kế kiểm soát, phân tích và tư vấn. Do đó, doanh nghiệp nên thiết kế lộ trình phát triển nhân sự kế toán theo hướng kết hợp nghiệp vụ và công nghệ, đồng thời hợp tác với cơ sở đào tạo để cung cấp tình huống, dữ liệu và nền tảng thực hành. Sự hợp tác này cũng giúp giảm chênh lệch giữa đào tạo và yêu cầu công việc thực tế. Kết luận Bài viết đã phân tích nội dung các tài liệu nghề nghiệp và chính sách để làm rõ logic của việc định vị kế toán như một lĩnh vực Khoa học - Công nghệ - Kỹ thuật - Toán học (STEM) và so sánh với bối cảnh Việt Nam. Kết quả cho thấy, trong lập luận của quốc tế, định vị STEM vừa là một ngôn ngữ tái định nghĩa nghề kế toán trong kỷ nguyên dữ liệu, vừa là một cơ chế thể chế nhằm mở rộng tiếp cận và nguồn lực cho giáo dục kế toán. Trong bối cảnh Việt Nam, nơi chuyển đổi số quốc gia và chiến lược ngành đã đặt yêu cầu hiện đại hóa kế toán - kiểm toán, lộ trình IFRS/VFRS gia tăng yêu cầu xét đoán và minh bạch, và hóa đơn - chứng từ điện tử tạo chuẩn vận hành số, định vị STEM có thể là một đòn bẩy hữu ích nếu được chuyển hóa thành cải cách thực chất về chuẩn năng lực, chương trình, đánh giá và hệ sinh thái thực hành. Hạn chế của bài viết là mới dừng ở phân tích tài liệu và lập luận, chưa có dữ liệu thực nghiệm để đánh giá mức độ tác động của định vị STEM đến lựa chọn ngành học, chất lượng đầu ra hay năng suất lao động. Các nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng theo hướng kiểm định thực nghiệm sau khi khung khái niệm và điều kiện thực thi đã được làm rõ. Về mặt định lượng, có thể phát triển mô hình kiểm định trong đó định vị STEM (nhận thức của người học và cơ sở đào tạo) tác động đến chất lượng nguồn nhân lực thông qua các cơ chế trung gian như mức độ tích hợp công nghệ trong chương trình, năng lực số và mức độ hấp dẫn nghề nghiệp; đồng thời xem xét vai trò điều tiết của hỗ trợ thể chế và hợp tác doanh nghiệp - nhà trường. Các giả thuyết cơ bản có thể được rút gọn thành: (i) định vị STEM thúc đẩy tích hợp công nghệ trong chương trình; (ii) tích hợp công nghệ nâng năng lực số; (iii) năng lực số nâng chất lượng nguồn nhân lực; và (iv) định vị STEM gia tăng hấp dẫn nghề nghiệp, từ đó cải thiện động cơ học tập và ý định theo nghề. Việc kiểm định các giả thuyết này bằng dữ liệu đa nguồn (người học - nhà tuyển dụng - tổ chức nghề nghiệp) sẽ giúp lượng hóa hiệu quả của các can thiệp chính sách và tối ưu thiết kế chương trình đào tạo trong kỷ nguyên số. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. AICPA. (2025). AICPA survey indicates strong support for accounting to be designated as a STEM program. AICPA & CIMA; 2. AICPA. (2026). AICPA applauds introduction of Accounting STEM Pursuit Act in Senate. AICPA & CIMA; 3. Bộ Tài chính. (2020). Quyết định số 345/QĐ-BTC phê duyệt Đề án áp dụng chuẩn mực báo cáo tài chính tại Việt Nam; 4. Chính phủ. (2020). Nghị định số 123/2020/NĐ-CP quy định về hóa đơn, chứng từ; 5. IAESB. (2019). Revisions to IES 2, 3, 4 and 8. International Federation of Accountants; 6. Nguyễn, L. (2021). Chuyển đổi số và nâng cao chất lượng đào tạo kế toán, kiểm toán; 7. Strickland, B. (2025). STEM designation for accounting has strong support. Journal of Accountancy; 8. Strickland, B. (2026). AICPA supports Accounting STEM Pursuit Act legislation. Journal of Accountancy; 9. The Accountant. (2026). AICPA backs US bill to classify accounting as STEM discipline. The Accountant; 10. Thủ tướng Chính phủ. (2020). Quyết định số 749/QĐ-TTg phê duyệt “Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”; 11. Thủ tướng Chính phủ. (2022). Quyết định số 633/QĐ-TTg về việc phê duyệt Chiến lược kế toán - kiểm toán đến năm 2030. Ngày nhận bài: 26/02/2026 Ngày biên tập: 03/3/2026 Ngày duyệt đăng: 10/4/2026 Tác giả: Trần Khánh Lâm Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA) Nguyễn Phong Nguyên Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh Email: trankhanhlam@vacpa.org.vn (Theo Tạp chí Nghiên cứu Khoa học kiểm toán, số tháng 4/2026)

Để tăng cường tính độc lập tự chủ và sức chống chịu của nền kinh tế trong bối cảnh hiện nay

Để tăng cường tính độc lập tự chủ và sức chống chịu của nền kinh tế trong bối cảnh hiện nay

Độc lập, tự chủ là là giữ vững chủ quyền và năng lực tự quyết định mọi hoạt động của quốc gia - dân tộc về đối nội, đối ngoại, nhất là lựa chọn con đường, mô hình phát triển, chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại theo lợi ích cao nhất của quốc gia và ý chí của người dân, không phụ thuộc vào bất cứ thế lực nào từ bên ngoài; trong đó, độc lập, tự chủ về kinh tế là nền tảng vật chất cơ bản để giữ vững độc lập, tự chủ về chính trị và tăng cường độc lập, tự chủ của quốc gia… Từ khoá: Lực lượng sản xuất mới; nền kinh tế; độc lập; tự chủ; phát triển; hội nhập; đất nước. 1. Điểm nhấn bối cảnh thế giới hiện nay Thế giới đương đại đang chứng kiến những biến chuyển nhanh chóng, phức tạp và khó lường của tình hình địa chính trị, kinh tế và môi trường khu vực và toàn cầu, trước mắt và lâu dài; đồng thời, tác động lan toả mạnh mẽ đến tất cả các nước dù thuộc chế độ chính trị xã hội nào và có trình độ phát triển cao hay thấp ra sao..., trong đó có Việt Nam, với một số động thái nổi bật sau: Thứ nhất, gia tăng cạnh tranh địa chính trị và tái cấu trúc trật tự kinh tế thế giới và quan hệ quốc tế mới theo hướng đa cực đa trung tâm. Nổi bật trong số đó là xu hướng gia tăng cạnh tranh chiến lược giữa các nước và nhóm nước Mỹ, EU - Nga - Trung Quốc, Ấn Độ; kéo theo dự gia tăng chi phí gắn với chạy đua quân sự và chạy đua công nghệ cao phục vụ chiến tranh tổng lực cả về quân sự, kinh tế, truyền thông, thông tin và tâm lý. Hệ thống đa phương bị thách thức ngày càng lớn, nhưng vẫn được phần đông các nước trong cộng đồng quốc tế coi trọng. Cách mạng công nghiệp 4.0 làm trầm trọng hơn xu hướng phân mảng, chia rẽ, nhất là chia rẽ số giữa các nước, các nhóm nước, gây ra những tác động lâu dài đối với cục diện thế giới và khu vực. Toàn cầu hóa hội nhập quốc tế vẫn tiếp diễn, dù chậm lại; các hoạt động vận tải, di chuyển vật chất toàn cầu suy giảm, nhường chỗ cho những phương cách, lĩnh vực toàn cầu hoá phi vật chất. Thương mại toàn cầu tiếp tục tăng, còn đầu tư quốc tế có thể giảm so với trước và được cấu trúc lại theo hướng gia tăng tính bền vững của các chuỗi sản xuất, cung ứng toàn cầu và hướng vào các lĩnh vực xanh, lĩnh vực số; sự cân bằng ngày càng đậm nét hơn giữa tự do hóa, mở cửa với tự cường; giữa hội nhập sâu rộng, toàn diện với tự chủ chiến lược; giữa tham gia cuộc chơi chung với nâng cao khả năng chống chịu bên trong từng quốc gia, từng nền kinh tế. Tính bền vững, bao trùm được quan tâm hơn; chuyển đổi số và kinh tế số trở thành xu thế lớn; tiến trình khu vực hóa được đẩy nhanh hơn. Đồng thời, sẽ tiếp tục gia tăng sự phân mảnh công nghệ và tái cơ cấu các chuỗi cung ứng kinh tế thế giới theo hướng chuyển dịch chuỗi sản xuất vào các thị trường quốc gia cùng phe nhóm và đồng minh, bạn bè hoặc trở lại trong nước. Tình trạng chạy đua, đối kháng về khoa học - công nghệ, đối kháng về kinh tế, cạnh tranh tài nguyên, cạnh tranh nguồn nhân lực chất lượng cao, chạy đua bảo vệ sở hữu trí tuệ... giữa các nước ngày càng gay gắt. Xu hướng dân chủ hóa quan hệ quốc tế bị thách thức nghiêm trọng hơn bởi chính trị cường quyền, cạnh tranh nước lớn. Nhận thức chung về tầm quan trọng của chủ nghĩa đa phương, hệ thống đa phương và ngoại giao đa phương của đa số các nước được nâng lên cùng với “áp lực buộc phải chọn phe”. Các nước vừa và nhỏ càng coi trọng vai trò của luật pháp quốc tế trong bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc của mình. Ngoài ra, biến động khí hậu cực đoan và yêu cầu về bảo vệ môi trường và sức khoẻ người tiêu dùng cũng ngày càng cao, nghiêm ngặt và mở rộng hơn. Các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống ngày càng gia tăng và đan xen, cộng hưởng gây hậu quả nặng nề hơn cho mỗi quốc gia và toàn thế giới, cả hiện tại và tương lai. Về tổng thể, thế giới đang bước vào giai đoạn kinh tế tăng trưởng chậm lại và áp lực nợ công và rủi ro trên thị trường tài chính, tiền tệ quốc tế, lạm phát, bất bình đẳng trong xã hội gia tăng so với 3 thập kỷ trước. Thứ hai, lực lượng sản xuất mới với những cấu thành mới và đặc tính mới đang đặt ra những nhận thức và yêu cầu mới về xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ của mỗi quốc gia. Một trong những đặc trưng thời đại hiện nay là sự xuất hiện các cấu trúc lực lượng sản xuất mới, bao gồm cả các yếu tố đầu vào (như vật liệu mới, năng lượng mới, robot hình người và công nghệ tự động mới, AI và dữ liệu…), không gian kinh tế (nền kinh tế số và không gian kinh tế số), đồng tiền số/ảo và thị trường mới (mua bán các yếu tố và thành phẩm kinh tế số…)… Đặc điểm nổi bật của lực lượng sản xuất mới này là ngày càng hoạt động theo chuỗi, kết nối thành hệ thống dây chuyền, vừa có tính khép kín, vừa mang tính mở cao. Các biến động về cung - cầu, giá cả và chu kỳ thị trường liên quan cũng có nhiều động thái mới lạ, nhanh chóng, khó lường và mạnh mẽ, lan toả rộng, với phạm vi ngày càng bao quát hơn cả vĩ mô và vi mô, trong nước và quốc tế. Không gian kinh tế và năng suất lao động tăng nhanh, song các ranh giới và chủ quyền quốc gia ngày càng bị mờ dần trước sức mạnh, sự phụ thuộc và sự độc quyền công nghệ. Các lợi thế so sánh truyền thống cạn dần hoặc giảm dần ý nghĩa, trong khi các thách thức và cả các cơ hội mới xuất hiện ngày càng nhiều. Đặc biệt, một quốc gia và tập đoàn, doanh nghiệp kinh doanh ngày càng phụ thuộc nhiều hơn vào các chuỗi cung ứng đầu vào, thị trường đầu ra và các đối tác công nghệ liên quan ngoài biên giới. Dữ liệu và thông tin, cũng như công nghệ và khả năng đổi mới, sáng tạo trở thành nguồn tài nguyên mới vô giá, ngày càng quyết định năng lực cạnh tranh hiệu quả của quốc gia và doanh nghiệp trong các hoạt động kinh tế mới, với nhiều sản phẩm và thị trường mới khó tính đúng tính đủ giá trị bằng tiền như các dạng kinh té vật chất truyền thống. Ngày càng nhiều ngành nghề truyền thống bị mất đi và xuất hiện những lĩnh vực, nghề nghiệp mới; cơ cấu lao động và yêu cầu giáo dục, đào tạo và đảm bảo an sinh xã hội cũng theo đó mà có sự chuyển dịch mới, sâu sắc. Trong bối cảnh đó, tính độc lập, tự chủ của quốc gia bị thách thức mạnh, thậm chí mất đi nhiều ý nghĩa nội hàm yêu cầu cũ, nhất là các quốc gia chậm thích ứng với chuyển đổi số, không có công nghệ nguồn và năng lực đổi mới, sáng tạo cao, thiếu phản ứng thị trường và chính sách nhanh nhạy và hiệu quả. Cách mạng công nghiệp 4.0 trong khi đem lại cơ hội học hỏi, gia tăng các loại hình việc làm mới, cơ hội “rượt đuổi và bắt kịp” cho những nước đi sau như Việt Nam, thì cũng làm tăng áp lực về và thách thức về nâng cao năng lực tham gia chuỗi sản xuất, cung ứng toàn cầu, cơ hội thu hút FDI và đảm bảo an sinh xã hội cho lao động Việt Nam. Thứ ba, các tiêu chí đo lường sức mạnh quốc gia ngày càng dựa trên cộng hưởng sức mạnh nội lực kinh tế, quốc phòng và khả năng phản ứng chính sách, phản ứng thị trường thông minh và hiệu quả. Ngày nay sức mạnh của các nước thường được đo bằng: i, Sức mạnh cứng: sức mạnh kinh tế (quy mô GDP, khả năng cạnh tranh thị trường và sự lành mạnh tài chính), tiềm lực khoa học - công nghệ; sức mạnh quốc phòng (số lượng quân đội, chi tiêu quốc phòng, công nghiệp quốc phòng, mạng lưới đồng minh…); ii, Sức mạnh mềm (sức hấp dẫn về mô hình, hệ giá trị; số lượng đối tác, vị thế, ảnh hưởng trên thế giới…); iii, Sức mạnh thông minh (khả năng sử dụng các loại sức mạnh để đạt được mục tiêu quốc gia, sự đúng đắn của chính sách và hiệu quả triển khai chính sách, khả năng điều chỉnh, phản ứng khi khủng hoảng…). Tổng thể sức mạnh quốc gia ngày càng dựa trên cộng hưởng sức mạnh nội lực kinh tế, quốc phòng và khả năng phản ứng chính sách, phản ứng thị trường thông minh và hiệu quả. Sức mạnh quốc gia còn được đánh giá theo nhiều tiêu chí khác tuỳ góc nhìn của các tổ chức quốc tế, song độc lập, tự chủ và đảm bảo sức chống chịu cao của nền kinh tế luôn là tiêu chí trọng tâm hội tụ và đo lường sức mạnh kinh tế quốc gia cả hiện tại và tương lai. Thực tế thế giới hiện đại cho thấy, không có ngoại lệ không đổ vỡ và phá sản nào cho bất kỳ mô hình phát triển, nền kinh tế quốc gia và doanh nghiệp, cũng như mọi tỷ phú thế giới nào nếu không có nhận thức đúng và kịp thời phản ứng linh hoạt chính sách và thị trường trong một bối cảnh trong nước và quốc tế ngày càng nhiều biến động phức tạp và khó lường. Đặc biệt, sự thành công của mỗi quốc gia tỷ lệ thuận với năng lực và hiệu lực, hiệu quả xây dựng và vận hành cơ chế đảm bảo hài hoà lợi ích, hội tụ, lan toả và phát huy được tổng hợp sức mạnh, các nguồn lực trong nước và quốc tế cho các mục tiêu lựa chọn phù hợp với từng giai đoạn lịch sử và thực tiễn trong nước, quốc tế; giữ vững niềm tin chính trị, niềm tin chính sách, niềm tin đầu tư và tiêu dùng thị trường; củng cố sự đoàn kết và đồng thuận xã hội cao; chủ động bám sát tình hình, tăng năng lực thông tin, dự báo và linh hoạt các kịch bản ứng phó kịp thời. 2. Nhận diện nền kinh tế độc lập tự chủ và sức chống chịu nền kinh tế theo tinh thần văn kiện Đại hội Đảng Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), xác định: “xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ ngày càng cao trong điều kiện hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng”. Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020, nêu rõ: “Phát huy nội lực và sức mạnh dân tộc là yếu tố quyết định, đồng thời tranh thủ ngoại lực và sức mạnh thời đại là yếu tố quan trọng để phát triển nhanh, bền vững và xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ”. Giải quyết mối quan hệ giữa xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ và tích cực, chủ động hội nhập nhằm tạo dựng sức mạnh dân tộc; trong đó, nội lực là quyết định; tranh thủ yếu tố ngoại lực và thời đại có vai trò quan trọng. Nghị quyết số 22-NQ/TW, ngày 01/4/2013 của Bộ Chính trị (khóa XI) về hội nhập quốc tế, chủ trương: hội nhập kinh tế quốc tế là trọng tâm, hội nhập trong các lĩnh vực khác phải tạo thuận lợi cho hội nhập kinh tế và góp phần tích cực vào phát triển kinh tế. Đại hội XII (năm 2016), xác định: “chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế; đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ kinh tế quốc tế… kết hợp hiệu quả ngoại lực và nội lực, gắn hội nhập kinh tế quốc tế với xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ”. Nghị quyết số 06-NQ/TW, ngày 05/11/2016 của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XII) về thực hiện có hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị - xã hội trong bối cảnh nước ta tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, chủ trương: tăng cường khả năng tự chủ của nền kinh tế, mở rộng thị trường, tranh thủ thêm vốn, công nghệ, tri thức, kinh nghiệm quản lý, bảo đảm phát triển nhanh và bền vững. Trong văn kiện Đại hội XIII, lần đầu tiên Đảng nêu rõ yêu cầu: Nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế trước các tác động tiêu cực từ các biến động kinh tế thế giới; Xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn bó mật thiết với giữ vững các cân đối lớn đi đôi với bảo đảm an ninh kinh tế; Đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ kinh tế quốc tế, tránh lệ thuộc vào một thị trường, một đối tác; Chủ động hoàn thiện hệ thống phòng vệ để bảo vệ doanh nghiệp và thị trường trong nước; Hoàn thiện hệ thống pháp luật phù hợp với những điều ước và cam kết quốc tế mà Việt Nam đã ký kết; Giữ vững độc lập, tự chủ trong việc xác định chủ trương, đường lối, chiến lược phát triển kinh tế đất nước; Phát triển doanh nghiệp Việt Nam lớn mạnh trở thành nòng cốt của kinh tế đất nước; Giữ vững các cân đối lớn, chú trọng bảo đảm an ninh kinh tế; Không ngừng tăng cường tiềm lực kinh tế quốc gia; Tăng cường đào tạo cán bộ… có khả năng làm việc trong môi trường quốc tế…; Tập trung xây dựng kết cấu hạ tầng và phát triển đô thị; Phát triển kinh tế nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới; Đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia; Phát triển kinh tế số trên nền tảng khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Điểm mới trong định hướng, nhiệm vụ, giải pháp xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ và nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế theo tinh thần Đại hội XIII là nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xây dựng hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển phù hợp với nền kinh tế thị trường đầy đủ, hiện đại, hội nhập; phát triển đồng bộ và tạo ra sự liên kết giữa các khu vực, các vùng, các thành phần kinh tế, các loại hình sản xuất kinh doanh và công nghệ, đổi mới sáng tạo, nhất là những thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, phát triển kinh tế số, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế; huy động, phân bổ, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, tạo động lực để phát triển kinh tế nhanh và bền vững; nâng cao chất lượng, hiệu quả quản trị cả ở cấp quốc gia và doanh nghiệp; tạo môi trường thuận lợi thúc đẩy khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo và hoạt động của những lĩnh vực, mô hình kinh doanh mới; phát huy vai trò của các tổ chức xã hội - nghề nghiệp trong tham gia hình thành và điều tiết các quan hệ kinh tế thị trường; phát triển doanh nghiệp Việt Nam lớn mạnh, nòng cốt của kinh tế đất nước; giữ vững các cân đối lớn, bảo đảm an ninh kinh tế; đẩy mạnh đa phương hóa và đa dạng hóa các quan hệ kinh tế, tránh lệ thuộc vào một thị trường, một đối tác. Đặc biệt, văn kiện Đại hội XIII nhấn mạnh yêu cầu “bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước”. Điều đó là cần thiết, tạo sự linh hoạt và vận dụng hiệu quả nguyên tắc “dĩ bất biến ứng vạn biến” trong chỉ đạo, điều hành thực tiễn của Đảng trước mọi biến động nhanh, khó lường của thế giới. Đây cũng là thông điệp khẳng định sự nhất quán trong nhận thức chính trị nói chung của Đảng ta về định hướng nội dung và mục tiêu con đường đổi mới, hội nhập của cách mạng Việt Nam trong thời kỳ mới, phù hợp với thực tiễn trong nước và xu hướng chung trên thế giới. Đại hội XIII cũng phân định rõ hơn vai trò, nội dung, yêu cầu và các công cụ quản lý kinh tế của nhà nước trong phát triển và củng cố các quan hệ gắn kết giữa kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài; lần đầu tiên mở rộng, nhấn mạnh và làm rõ hơn mối quan hệ chặt chẽ giữa Nhà nước, Thị trường và Xã hội, thay vì chỉ có quan hệ Nhà nước với Thị trường trong văn kiện các kỳ Đại hội trước đây… 3. Yêu cầu mới và giải pháp cần có để đảm bảo tính độc lập tự chủ và tăng sức chống chịu của nền kinh tế Việt Nam trong thời gian tới Để xây dựng thành công nền kinh tế độc lập, tự chủ trong bối cảnh trên, đòi hỏi Việt Nam tiếp tục coi trọng giải quyết một số vấn đề sau: Một là, tiếp tục đổi mới nhận thức, hoàn thiện nội dung yêu cầu mô hình kinh tế tự chủ, linh hoạt hoá vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước và doanh nghiệp nhà nước. Vai trò chủ đạo của kinh tế tư nhân và doanh nghiệp nhà nước cần điều chỉnh phù hợp với cơ chế thị trường và yêu cầu hội nhập quốc tế ngày càng sâu, rộng, đầy đủ và thực chất của Việt Nam. Theo đó, thu hẹp dần cả về quy mô, tỷ trọng và phạm vi hoạt động, nhất là trong hoạt động kinh tế vì lợi nhuận, tập trung nắm chủ đạo một số lĩnh vực, ngành kinh tế chủ chốt và hoạt động do Nhà nước cần độc quyền thuộc lĩnh vực đảm bảo quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội; chủ động giữ vững các cân đối cơ cấu lớn, liên ngành, cấp quốc gia và ở địa phương, địa bàn cần thiết; chủ động và trực tiếp đảm nhận đầu tư vào những dự án, địa bàn không hấp dẫn hoặc cần thiết để định hướng, mở rộng đầu tư phát triển từ các nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước. Đồng thời, phương thức chủ đạo cũng mềm và tỷ lệ cũng linh hoạt hơn, chủ yếu tham gia dưới hình thức cổ phần và giảm tối đa việc Nhà nước tham gia trực tiếp vào hoạt động kinh tế thông qua các doanh nghiệp nhà nước, chuyển một số nhiệm vụ mà các bộ, ngành, cơ quan nhà nước không cần thiết phải thực hiện cho tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp đảm nhận. Theo thống kê chung trên thế giới, ở các nước, Chính phủ chỉ giữ 20% vốn tại doanh nghiệp nhà nước và khu vực doanh nghiệp nhà nước chỉ chiếm khoảng 5%-20% GDP… Thứ hai, đề cao vai trò kinh tế tư nhân và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, sử dụng hiệu quả các nguồn lực, vừa thu hút công nghệ từ bên ngoài, vừa tăng cường năng lực đổi mới, sáng tạo và tự chủ công nghệ trong nước. Việt Nam cần đồng bộ và đa dạng hoá nhiều giải pháp từ chính trị, đối ngoại đến các cơ chế, chính sách kinh tế - tài chính thích ứng bảo đảm lòng tin chiến lược từ đối tác, nhất là các “đối tác chiến lược toàn diện”, để nhận được đầu tư FDI vào các ngành công nghệ cao hoặc được mua công nghệ cao, cho phép Việt Nam tham gia các chuỗi cung ứng công nghệ cao “mang tính bạn bè” trong khu vực và trên phạm vi toàn cầu. Đồng thời, triển khai nhanh và hiệu quả thực chất các chủ trương, nhiệm vụ và giải pháp theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia và Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân. Do đó, phải sớm thể chế hoá chủ trương coi kinh tế tư nhân là động lực quan trọng nhất của đất nước về tăng trưởng GDP, tăng năng suất lao động, tạo công ăn việc làm; lực lượng tiên phong trong kỷ nguyên mới, lực lượng chủ lực, đi đầu trong ứng dụng công nghệ và đổi mới, sáng tạo trong tầm nhìn chung của đất nước. Nhà nước bên cạnh việc phải củng cố mạnh mẽ khu vực doanh nghiệp nhà nước, nhất là các tập đoàn kinh tế nhà nước, cần ưu tiên xây dựng các tập đoàn kinh tế tư nhân tầm cỡ khu vực và toàn cầu, có năng lực cạnh tranh quốc tế, có sứ mệnh dẫn dắt, hỗ trợ trở lại các doanh nghiệp nội địa khác cùng tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. Đồng thời, phải có chính sách riêng trong việc hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa phát triển, cũng như thành phần kinh tế hộ gia đình và kinh tế hợp tác xã, khuyến khích hộ kinh doanh chuyển đổi thành doanh nghiệp và phát triển mô hình hợp tác xã kiểu mới, hiệu quả; khuyến khích doanh nghiệp tư nhân nâng cao năng lực nghiên cứu và đổi mới công nghệ, tham gia các lĩnh vực chiến lược, phát triển cơ sở hạ tầng quan trọng, công nghệ cao, công nghiệp mũi nhọn, an ninh năng lượng và một số lĩnh vực đặc biệt trong các dự án quan trọng quốc gia; kiểm soát chặt chẽ tình trạng doanh nghiệp độc quyền và thao túng chính sách; bảo vệ hữu hiệu quyền tài sản, quyền sở hữu (trong đó có quyền sở hữu trí tuệ và tài sản vô hình), quyền tự do kinh doanh và bảo đảm thực thi hợp đồng của doanh nghiệp tư nhân; giảm thiểu rủi ro pháp lý, hạn chế tối đa tình trạng thay đổi chính sách đột ngột gây tổn thất cho doanh nghiệp; tạo lập cơ chế hỗ trợ và bảo vệ nhà đầu tư tư nhân, nhất là các doanh nghiệp khởi nghiệp, doanh nghiệp đổi mới sáng tạo… Thứ ba, củng cố niềm tin chính trị, nỗ lực đột phá thể chế, tinh gọn và nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả bộ máy quản lý nhà nước và toàn hệ thống chính trị để tạo động lực mới cho phát triển kinh tế đất nước theo hướng độc lập, tự chủ. Động lực mới được cộng hưởng và gắn với kết quả trực tiếp và gián tiếp, trước mắt và lâu dài của quá trình tinh gọn bộ máy; củng cố lòng tin, cải thiện vị thế và sự hấp dẫn của môi trường đầu tư, khai thác hiệu quả cơ hội đầu tư mới và các nguồn lực tiềm năng cho phát triển cả vĩ mô và vi mô, trước mắt và lâu dài, trong nước và ngoài nước. Với tinh thần đó, trong quá trình xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ thời gian tới cần tiếp tục giữ vững độc lập, tự chủ trong việc xác định chủ trương, đường lối, chiến lược phát triển kinh tế đất nước; đẩy nhanh quá trình hoàn thiện thể chế, nhất là về hệ thống pháp luật phù hợp với những điều ước quốc tế và cam kết quốc tế mà Việt Nam đã ký kết; coi trọng duy trì sự ổn định và phát triển trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, môi trường, hội nhập quốc tế; thúc đẩy sự chuyển biến mạnh mẽ hơn về cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới động lực tăng trưởng, nâng cao năng suất lao động, tăng tính cạnh tranh chất lượng của nền kinh tế; tập trung tạo mọi điều kiện nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước, phát triển cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam gắn kết và lớn mạnh trở thành nòng cốt của kinh tế đất nước; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ kinh tế quốc tế, tránh lệ thuộc vào một thị trường, một đối tác, nhất là khi thị trường hay đối tác đó có sự biến động; thực hiện nhiều hình thức hội nhập kinh tế quốc tế với các lộ trình linh hoạt, phù hợp với điều kiện, mục tiêu của đất nước từng giai đoạn; phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và tăng cường đổi mới sáng tạo, phát triển và từng bước làm chủ khoa học công nghệ đáp ứng yêu cầu cạnh tranh quốc tế, bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc. Đặc biệt, cần sớm hoàn thiện cơ chế kết hợp hài hoà Nhà nước - Thị truờng - Xã hội trong một mô hình Nhà nước kiểu mới; coi trọng tính đồng bộ và chú ý đến tính hai mặt của các giải pháp chính sách đa dạng hóa và phối hợp các nguồn lực trong nước và quốc tế; khả năng tăng cường dự báo, thông tin, bảo vệ người tiêu dùng và giữ vững lòng tin trên thị trường, củng cố uy tín quốc gia và niềm tin chiến lược quốc tế vào các đột phá thể chế Việt Nam có tính hội nhập cao và bền vững hơn, từng bước định hình một tầm nhìn mới, một thực tiễn mới và mở ra triển vọng phát triển mới trong toàn bộ đời sống kinh tế - xã hội Việt Nam thời kỳ chuyển mình hội nhập cùng thế giới… Không ngừng hoàn thiện, củng cố nhận thức toàn diện, đầy đủ, sâu sắc và tổ chức xây dựng hiệu quả mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, có sức chống chịu cao ở nước ta là biểu hiện và thước đo sự thành công bản lĩnh, trí tuệ về Đổi mới và Cách mạng của Đảng. Đồng thời, đó cũng là quá trình tạo lập và hiện thực hóa các mục tiêu, động lực và cơ chế để gắn kết chặt chẽ phát triển kinh tế với phát triển văn hoá, xã hội, bảo vệ môi trường, phát huy dân chủ, sáng tạo và bảo vệ quyền con người, quyền công dân và để người dân được hưởng thụ ngày càng nhiều hơn thành quả của công cuộc đổi mới; để giữ vững được ổn định chính trị và kinh tế, củng cố đồng thuận và đoàn kết xã hội, không ngừng cải thiện các quan hệ và vị thế quốc tế, xây dựng và phát triển đất nước Việt Nam phát triển nhanh, bền vững hơn trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế ngày càng sâu, rộng và toàn diện hơn… Tài liệu tham khảo: 1. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, H. 2011, tr. 102; 2. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, H. 2016, tr. 111; 3. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021; 4. Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; 5. Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân; 6.https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/kinh-te/-/2018/824082/quan-diem-moi-ve-xaydung-nen-kinh-te-viet-nam-doc-lap%2C-tu-chu-trong-van-kien-dai-hoi-xiii-cua-dang.aspx#. Tác giả: PGS.TS Ngô Thanh Hoàng, Ủy viên Hội đồng tư vấn kinh tế, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam TS Nguyễn Minh Phong, Báo Nhân dân (Theo Tạp chí Nghiên cứu Khoa học kiểm toán, số tháng 2/2026)

Agribank - Dòng vốn bền bỉ, điểm tựa vững chắc cho người dân và doanh nghiệp

Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đang chuyển dịch mạnh mẽ theo hướng xanh, số và bền vững, vai trò của hệ thống ngân hàng với tư cách là kênh dẫn vốn chủ lực ngày càng trở nên quan trọng. Trong tiến trình đó, Agribank khẳng định vai trò là định chế tài chính trụ cột, với quy mô hoạt động và việc định hướng, phân bổ hiệu quả dòng vốn vào các lĩnh vực ưu tiên, đặc biệt là khu vực nông nghiệp, nông dân, nông thôn và khu vực sản xuất kinh doanh. Qua đó, Agribank góp phần tạo dựng nền tảng tài chính vững chắc, đồng hành cùng người dân và doanh nghiệp phát triển ổn định, bền vững trong dài hạn. Dòng vốn xuyên suốt - nền tảng cho phát triển “Tam nông” Ra đời trong bối cảnh đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, Agribank mang trên mình sứ mệnh cung ứng vốn và dịch vụ ngân hàng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông dân và nông thôn. Trải qua gần bốn thập kỷ hình thành và phát triển, dòng vốn tín dụng của Agribank luôn duy trì tính liên tục, ổn định và mở rộng, trở thành nguồn lực quan trọng thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng hiện đại, hiệu quả. Với mạng lưới hoạt động rộng khắp toàn quốc, hiện diện sâu rộng tới cả vùng sâu, vùng xa, khu vực biên giới, hải đảo, dòng vốn tín dụng của Agribank hiện đã phủ kín 100% số xã trên cả nước, qua đó mở rộng khả năng tiếp cận vốn cho người dân, đặc biệt tại khu vực nông thôn và những địa bàn còn nhiều khó khăn. Không chỉ đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh, nguồn vốn ấy còn góp phần cải thiện sinh kế, nâng cao thu nhập và từng bước thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng miền, tạo nền tảng cho phát triển kinh tế - xã hội một cách bao trùm và bền vững.  Agribank đưa nguồn vốn tới tận vùng sâu, vùng xa đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh của từng khách hàng Đến cuối năm 2025, dư nợ tín dụng phục vụ lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn đạt gần 1,3 triệu tỷ đồng, chiếm khoảng 64% tổng dư nợ cho vay của Agribank, tiếp tục khẳng định vị thế là ngân hàng có quy mô và thị phần tín dụng “Tam nông” lớn nhất hệ thống. Từ dòng vốn này, nhiều vùng sản xuất tập trung quy mô lớn đã được hình thành, từ cây công nghiệp, cây ăn quả đến nuôi trồng thủy sản; các mô hình nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp sạch, nông nghiệp hữu cơ ngày càng được nhân rộng. Trong đó, có thể kể đến khu vực đồng bằng sông Cửu Long, dòng vốn Agribank đã đồng hành cùng các mô hình sản xuất lúa chất lượng cao, phát thải thấp, hỗ trợ người dân tổ chức lại sản xuất theo hướng liên kết chuỗi từ canh tác đến tiêu thụ, qua đó nâng cao giá trị hạt gạo Việt Nam và ổn định thu nhập cho nông dân. Đồng hành cùng doanh nghiệp - tạo lực đẩy cho khu vực sản xuất kinh doanh Bên cạnh vai trò chủ lực trong lĩnh vực “Tam nông”, Agribank còn là đối tác tin cậy của cộng đồng doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã và hộ sản xuất kinh doanh. Với chính sách tín dụng linh hoạt, phù hợp với đặc thù từng ngành nghề và địa bàn, Agribank đã tạo điều kiện cho hàng trăm nghìn doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn kịp thời, phục vụ mở rộng sản xuất, đổi mới công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh. Không chỉ cung ứng vốn, Agribank còn đồng hành cùng doanh nghiệp thông qua các giải pháp tài chính tổng thể như tư vấn phương án sản xuất kinh doanh, cơ cấu lại thời hạn trả nợ, giảm lãi suất, đơn giản hóa thủ tục vay vốn. Cách tiếp cận này giúp doanh nghiệp không chỉ vượt qua khó khăn trước mắt mà còn nâng cao khả năng thích ứng và phát triển bền vững. Thực tiễn cho thấy, tại nhiều địa phương, nguồn vốn Agribank đã góp phần hình thành và phát triển các mô hình sản xuất - chế biến - tiêu thụ nông sản theo chuỗi, tiêu biểu như các vùng trồng cây ăn quả xuất khẩu, sản xuất cà phê chất lượng cao gắn với chế biến sâu và mở rộng thị trường quốc tế. Từ những cơ sở sản xuất ban đầu còn nhỏ lẻ, nhiều doanh nghiệp và hợp tác xã đã từng bước nâng cao năng lực, xây dựng thương hiệu và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu, qua đó tạo việc làm ổn định và gia tăng giá trị cho nền kinh tế. Định hướng dòng vốn xanh - thúc đẩy phát triển bền vững Trong bối cảnh yêu cầu phát triển bền vững ngày càng trở nên cấp thiết, Agribank chủ động định hướng dòng vốn tín dụng vào các lĩnh vực xanh, thân thiện với môi trường, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu tăng trưởng xanh của quốc gia. Nhiều chương trình tín dụng quy mô lớn đã được triển khai như chương trình cho vay phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp sạch; chương trình tín dụng dành cho các dự án xanh và các ngành kinh tế trọng điểm; chương trình tín dụng ưu đãi cho khách hàng cá nhân đầu tư vào các mô hình sản xuất thân thiện môi trường… Đến nay, dư nợ tín dụng xanh của Agribank đạt khoảng 28.000 tỷ đồng, tập trung vào các lĩnh vực như nông nghiệp sạch, lâm nghiệp bền vững, năng lượng tái tạo và kinh tế tuần hoàn. Agribank không chỉ cung cấp nguồn vốn mà còn đóng vai trò dẫn dắt, định hướng các chủ thể sản xuất chuyển đổi sang mô hình xanh, bền vững. Thông qua chính sách lãi suất ưu đãi, cơ chế tín dụng linh hoạt và sự đồng hành trong suốt chu kỳ sản xuất, Agribank góp phần tạo động lực để người dân và doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư, đổi mới phương thức sản xuất.  Agribank hướng dòng vốn vào lĩnh vực nông nghiệp xanh Nhận diện rõ những hạn chế của sản xuất nông nghiệp nhỏ lẻ, phân tán, Agribank đã chủ động tổ chức dòng vốn theo chuỗi giá trị, gắn kết giữa người nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp. Agribank triển khai nhiều chính sách tín dụng ưu đãi đối với các mô hình liên kết sản xuất - chế biến - tiêu thụ sản phẩm; hỗ trợ cho vay không có tài sản bảo đảm đối với các phương án khả thi; đồng thời lồng ghép các yếu tố phát triển bền vững trong quá trình cấp tín dụng. Cách tiếp cận này không chỉ nâng cao hiệu quả sử dụng vốn mà còn góp phần kiểm soát rủi ro, tăng tính ổn định của hoạt động sản xuất kinh doanh. Khi các chủ thể được liên kết chặt chẽ trong chuỗi giá trị, khả năng kiểm soát chất lượng, truy xuất nguồn gốc và tiêu thụ sản phẩm được cải thiện rõ rệt, qua đó nâng cao giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của nông sản Việt Nam. Nền tảng công nghệ - nâng cao hiệu quả dẫn vốn và tài chính toàn diện Song hành với việc mở rộng quy mô tín dụng, Agribank xác định chuyển đổi số không chỉ là xu hướng tất yếu mà còn là động lực then chốt để nâng cao hiệu quả hoạt động, tối ưu hóa quy trình và gia tăng chất lượng dịch vụ. Trên cơ sở đó, Agribank từng bước đầu tư, hoàn thiện hạ tầng công nghệ thông tin, xây dựng hệ sinh thái ngân hàng số đồng bộ, hướng tới mô hình ngân hàng hiện đại, lấy khách hàng làm trung tâm. Hiện nay, Agribank đang quản lý dữ liệu của hàng chục triệu khách hàng, đồng thời phát triển hệ sinh thái dịch vụ ngân hàng số với hàng trăm tiện ích, đáp ứng đa dạng nhu cầu từ thanh toán, chuyển tiền, tiết kiệm đến các dịch vụ tài chính cá nhân và doanh nghiệp. Hệ thống công nghệ thông tin vận hành ổn định, xử lý khoảng 60 triệu giao dịch mỗi ngày, phần lớn được thực hiện tự động trên các nền tảng số, qua đó nâng cao năng suất hoạt động và khả năng phục vụ khách hàng trên quy mô lớn. Không chỉ cải thiện trải nghiệm người dùng, chuyển đổi số còn góp phần quan trọng nâng cao năng lực quản trị, kiểm soát rủi ro và điều tiết dòng vốn hiệu quả hơn. Thông qua việc ứng dụng công nghệ, dữ liệu và các công cụ phân tích hiện đại, Agribank nâng cao chất lượng thẩm định tín dụng, giám sát dòng vốn và tối ưu hóa phân bổ nguồn lực theo đúng định hướng phát triển. Agribank xây dựng hệ sinh thái ngân hàng số đồng bộ, hướng tới mô hình ngân hàng hiện đại, lấy khách hàng làm trung tâm Đặc biệt, việc phát triển ngân hàng số đã mở rộng đáng kể khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính tới khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa - nơi điều kiện hạ tầng còn hạn chế. Các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng được số hóa giúp người dân có thể tiếp cận nhanh chóng, thuận tiện, chi phí thấp, góp phần thúc đẩy tài chính toàn diện theo chủ trương của Chính phủ. Gắn kết trách nhiệm xã hội - củng cố nền tảng phát triển bền vững Song hành với hoạt động kinh doanh, Agribank luôn chủ động và tích cực với các hoạt động an sinh xã hội. Agribank luôn gắn hiệu quả kinh doanh với trách nhiệm cộng đồng, coi việc chia sẻ, hỗ trợ xã hội là yếu tố góp phần củng cố nền tảng phát triển lâu dài và bền vững của ngân hàng cũng như của nền kinh tế. Trong nhiều năm qua, Agribank đã dành nguồn lực lớn để triển khai các chương trình an sinh xã hội trên phạm vi cả nước, tập trung vào các lĩnh vực thiết yếu như giáo dục, y tế, giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới và hỗ trợ người dân khắc phục hậu quả thiên tai. Giai đoạn 2020-2025, tổng kinh phí Agribank dành cho công tác an sinh xã hội đạt trên 2.650 tỷ đồng; riêng năm 2025 đạt gần 700 tỷ đồng, trong đó có khoảng 100 tỷ đồng hỗ trợ người dân khắc phục hậu quả thiên tai, bão lũ. Khẳng định vai trò trụ cột trong giai đoạn phát triển mới Bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu tăng trưởng nhanh và bền vững, Agribank tiếp tục khẳng định vai trò là ngân hàng thương mại Nhà nước giữ vị trí trụ cột trong cung ứng vốn cho nền kinh tế, đồng hành chặt chẽ cùng Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước trong thực thi chính sách tiền tệ và tín dụng. Trên cơ sở đó, Agribank định hướng phân bổ nguồn vốn tập trung vào khu vực sản xuất kinh doanh qua đó góp phần thúc đẩy tăng trưởng thực chất, tạo việc làm và giữ ổn định kinh tế vĩ mô. Phát huy thế mạnh truyền thống, Agribank tiếp tục giữ vai trò chủ lực trong đầu tư phát triển “Tam nông”, đồng thời chủ động mở rộng tín dụng vào các lĩnh vực có giá trị gia tăng cao như công nghiệp chế biến, hạ tầng, năng lượng, kinh tế số và tín dụng xanh. Định hướng này không chỉ giúp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn mà còn góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, bền vững, phù hợp với các mục tiêu phát triển dài hạn của đất nước. Dòng vốn của Agribank không chỉ là nguồn lực tài chính mà còn là công cụ điều tiết, dẫn dắt và lan tỏa các mục tiêu phát triển của nền kinh tế. Được hình thành từ sứ mệnh phục vụ “Tam nông”, được củng cố qua quá trình đổi mới và được định hướng bởi yêu cầu phát triển bền vững, dòng vốn ấy đã và đang trở thành điểm tựa tin cậy cho người dân và doanh nghiệp. Trong bối cảnh nền kinh tế nhiều biến động, chính sự ổn định, nhất quán và định hướng đúng đắn của dòng vốn Agribank tiếp tục góp phần giữ vững nền tảng tăng trưởng, tạo dư địa và động lực cho phát triển kinh tế - xã hội trong dài hạn.

Agribank tiếp lực doanh nghiệp bứt phá tăng trưởng năm 2026

Với vai trò là ngân hàng thương mại chủ lực trong đầu tư phát triển khu vực tam nông, cơ sở hạ tầng và các dự án trọng điểm quốc gia, Agribank đã chủ động triển khai đồng bộ các chương trình tín dụng ưu đãi quy mô lớn dành cho khách hàng doanh nghiệp trong năm 2026, qua đó góp phần tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy sản xuất kinh doanh và tạo động lực tăng trưởng bền vững. Ưu đãi lãi suất vay vốn bằng đồng USD đến 1,0%/năm đối với doanh nghiệp FDI Điểm nổi bật của các chương trình tín dụng Agribank không chỉ nằm ở quy mô hàng trăm nghìn tỷ đồng, mà còn ở chính sách lãi suất cạnh tranh, được điều chỉnh giảm từ 0,6% đến 1,5%/năm so với mức lãi suất thông thường. Cùng với đó là hàng loạt ưu đãi đi kèm như giảm phí dịch vụ thanh toán, ưu đãi tỷ giá ngoại tệ, hỗ trợ tài trợ thương mại và nâng cao hiệu quả quản trị dòng tiền. Những giải pháp này giúp doanh nghiệp không chỉ tiếp cận vốn dễ dàng hơn mà còn tối ưu chi phí tài chính trong bối cảnh thị trường còn nhiều biến động. Hướng tới các lĩnh vực mang tính nền tảng của kinh tế Việt Nam, Agribank triển khai chương trình tín dụng ưu đãi dành cho doanh nghiệp đầu tư vào hạ tầng, giao thông và công nghệ chiến lược theo chủ trương của Đảng, Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước. Với đặc thù là các dự án có quy mô lớn, thời gian hoàn vốn dài, ngân hàng áp dụng chính sách lãi suất ưu đãi thấp hơn tới 1,5%/năm so với lãi suất cho vay bình quân cùng kỳ hạn và thời hạn vay linh hoạt. Tính từ đầu năm 2026, Agribank đã ký kết hợp đồng tín dụng tài trợ nhiều dự án lớn, đóng vai trò trọng yếu trong phát triển kinh tế xã hội. Nổi bật như dự án Đường Vành đai 4 - Vùng Thủ đô Hà Nội, Agribank là đầu mối thu xếp khoản tài trợ 25.453 tỷ đồng; dự án Đường cao tốc Ninh Bình - Hải Phòng kết nối các trung tâm kinh tế vùng Duyên hải Bắc Bộ; cùng các dự án xanh, năng lượng sạch như Khu công nghiệp xanh - thông minh - bền vững Sân bay Tiên Lãng - Khu B tại Hải Phòng, Dự án thành phần 1 - Nhà máy điện thuộc Dự án Nhà máy Nhiệt điện LNG Quảng Trạch II và dự án Nhà máy đốt chất thải rắn phát điện tại Khánh Sơn, Thành phố Đà Nẵng. Bên cạnh việc cấp vốn trung, dài hạn phục vụ đầu tư các dự án lớn, Agribank dành 200.000 tỷ đồng vốn ưu đãi ngắn hạn đồng hành cùng các tập đoàn, tổng công ty và doanh nghiệp lớn với vai trò một đối tác tài chính chiến lược uy tín, để doanh nghiệp an tâm nguồn vốn sản xuất kinh doanh, tái đầu tư để bứt phá tăng trưởng. Đối với khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI), Agribank cũng  dành nguồn lực tài chính, thiết kế các sản phẩm chuyên biệt để hỗ trợ nhóm khách hàng này. Năm 2026, Agribank triển khai chương trình tín dụng ưu đãi dành cho doanh nghiệp FDI với quy mô 5.000 tỷ đồng và 100 triệu USD, lãi suất ưu đãi giảm đến 1,0%/năm so với sàn lãi suất cho vay thông thường. Không chỉ dừng lại ở việc cung cấp vốn, ngân hàng còn tích hợp các dịch vụ tài chính toàn diện như thanh toán quốc tế, tài trợ thương mại, quản lý dòng tiền và ngân hàng số, ưu đãi tỷ giá mua bán ngoại tệ và miễn giảm các loại phí bảo hiểm bắt buộc, qua đó tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp FDI mở rộng hoạt động tại Việt Nam. Bên cạnh đó, trong hoạt động xuất nhập khẩu - động lực quan trọng của tăng trưởng kinh tế, Agribank cũng triển khai chương trình tín dụng ưu đãi quy mô 70.000 tỷ đồng với lãi suất cho vay ngắn hạn thấp hơn đến 0,8%/năm so với sàn lãi suất cho vay thông thường. Song song với đó là các chính sách ưu đãi về phí thanh toán quốc tế, phát hành thư tín dụng (L/C) và tỷ giá mua bán ngoại tệ. Nhờ đó, doanh nghiệp xuất nhập khẩu có thể tối ưu dòng tiền, giảm chi phí giao dịch và nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Agribank dành nhiều ưu đãi đến các doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp xuất nhập khẩu Không chỉ tập trung vào các doanh nghiệp quy mô lớn, với hơn 96% khách hàng doanh nghiệp đang phục vụ thuộc quy mô nhỏ và vừa, Agribank còn đặc biệt quan tâm tới các doanh nghiệp SMEs. Đây cũng là lực lượng chiếm tỷ trọng lớn nhất trong nền kinh tế, trực tiếp tạo việc làm và thu nhập cho người dân tại địa phương, góp phần đáng kể vào an sinh xã hội, phát triển nông thôn mới. Với chương trình tín dụng ưu đãi quy mô 100.000 tỷ đồng, Agribank tạo điều kiện để doanh nghiệp SMEs tiếp cận nguồn vốn giá rẻ, thủ tục thuận tiện hơn và đồng hành tư vấn, hỗ trợ doanh nghiệp quản lý tài chính, quản lý dòng tiền và từng bước chuyển đổi số. Một điểm mới trong các ưu đãi tín dụng năm 2026 là chương trình ưu đãi dành cho doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ với lãi suất ưu đãi thấp hơn đến 0,7%/năm so với sàn lãi suất cho vay thông thường . Chương trình không chỉ hỗ trợ về vốn với lãi suất ưu đãi mà còn tạo điều kiện để các doanh nghiệp nâng cao năng lực quản trị, mở rộng hoạt động kinh doanh, góp phần khẳng định vai trò phụ nữ quản lý, phụ nữ điều hành trong nền kinh tế hiện đại. Agribank luôn đồng hành cùng các doanh nghiệp nhỏ và vừa, hỗ trợ doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ Có thể thấy, các chính sách sản phẩm dịch vụ của Agribank năm 2026 không chỉ đáp ứng nhu cầu vốn đa dạng của doanh nghiệp mà còn góp phần xây dựng một hệ sinh thái tài chính toàn diện, hiện đại, số hóa. Đây chính là nền tảng quan trọng để doanh nghiệp phát triển ổn định, nâng cao hiệu quả hoạt động và từng bước hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế toàn cầu. Phát huy văn hóa phụng sự với định hướng “Khách hàng là trung tâm”, Agribank tiếp tục khẳng định vai trò là người bạn đồng hành tin cậy của cộng đồng doanh nghiệp. Những nỗ lực trong việc triển khai các chương trình tín dụng ưu đãi quy mô lớn không chỉ thể hiện trách nhiệm của ngân hàng đối với cộng đồng doanh nghiệp mà còn là cam kết mạnh mẽ đồng hành thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng bứt phá, phát triển bền vững.

KPMG Việt Nam và ACCA ký kết hợp tác chiến lược hỗ trợ phát triển Trung tâm Tài chính Quốc tế Việt Nam

Ngày 30/10/2025, KPMG Việt Nam và Hiệp hội Kế toán Công chứng Anh quốc (ACCA) hôm nay ký kết Biên bản ghi nhớ hợp tác (MOU) nhằm tăng cường phối hợp trong việc hỗ trợ xây dựng và phát triển Trung tâm Tài chính Quốc tế (International Financial Center - IFC) tại Việt Nam. Lễ ký kết diễn ra trong khuôn khổ Diễn đàn Cấp cao Kinh tế Việt Nam - Vương quốc Anh tại Luân Đôn, với sự chứng kiến của Tổng Bí thư Tô Lâm. Sự kiện là một điểm nhấn quan trọng trong chuyến thăm chính thức Vương quốc Anh của Tổng Bí thư, thể hiện cam kết của Việt Nam trong việc thúc đẩy hợp tác tài chính, đổi mới sáng tạo và tăng trưởng xanh. Theo thỏa thuận, KPMG và ACCA sẽ cùng chia sẻ kinh nghiệm, chuyên môn và nguồn lực quốc tế để hỗ trợ các cơ quan chức năng trong việc hình thành khung chính sách, chuẩn mực và năng lực vận hành phù hợp với mô hình Trung tâm Tài chính Quốc tế của Việt Nam. Phát biểu tại lễ ký kết, ông Warrick Cleine MBE, Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc KPMG Việt Nam, cho biết: “Chúng tôi tin rằng việc hợp tác cùng ACCA sẽ góp phần thiết thực vào mục tiêu xây dựng Trung tâm Tài chính Quốc tế của Việt Nam – một nền tảng quan trọng để tăng cường sức cạnh tranh và thu hút đầu tư toàn cầu.” Bà Helen Brand, Tổng Giám đốc Toàn cầu ACCA, chia sẻ: “ACCA rất vinh dự được đồng hành cùng KPMG Việt Nam trong sáng kiến mang tầm chiến lược quốc gia này. Việc phát triển IFC không chỉ thúc đẩy chuẩn mực tài chính quốc tế tại Việt Nam, mà còn tạo động lực cho sự phát triển của cộng đồng nghề nghiệp tài chính – kế toán trong nước.” Sự kiện đánh dấu bước tiến mới trong quan hệ hợp tác giữa hai tổ chức hàng đầu trong lĩnh vực tài chính và kế toán, đồng thời thể hiện cam kết chung trong việc hỗ trợ Việt Nam xây dựng một hệ sinh thái tài chính minh bạch, chuẩn mực và hội nhập quốc tế.

Xây dựng đề cương thực hiện kiểm toán hoạt động nợ chính quyền địa phương

Chủ nhiệm: Ths. Nguyễn Khắc Chí và TS. Cù Hoàng Diệu Thư ký: Ths. Nguyễn Mạnh Cường Thành viên chính: Ths. Hoàng Liên Sơn                                 Ths. Nguyễn Thị Thu Hà Đơn vị thực hiện: Kiểm toán nhà nước Khu vực VII Sự cần thiết phải nghiên cứu Một trong những nhiệm vụ quan trọng của Kiểm toán nhà nước khi kiểm toán báo cáo quyết toán ngân sách địa phương là thực hiện kiểm toán nợ chính quyền địa phương, trên cơ sở đó ngăn ngừa được các rủi ro phát sinh, từ đó đề ra các biện pháp quản lý nợ chính quyền địa phương một cách tốt hơn. Kiểm toán nhà nước Việt Nam đã trải qua gần 30 năm hoạt động, nhưng đến nay kiểm toán nợ chính quyền địa phương vẫn còn nhiều hạn chế. Trên thực tế, Kiểm toán nhà nước chưa thực hiện một cuộc kiểm toán độc lập đối với các khoản nợ chính quyền địa phương. Hằng năm, Kiểm toán nhà nước đã thực hiện cuộc kiểm toán nợ công, trong đó cũng đề cập đến nợ chính quyền địa phương; tuy nhiên cũng chưa đầy đủ và cụ thể. Bên cạnh đó, các cuộc kiểm toán quyết toán ngân sách nhà nước tại các địa phương cũng có đề cập đến các khoản vay, nợ chính quyền theo những quy định của Luật Ngân sách nhà nước, Luật Quản lý nợ công nhưng mới ở những nội dung hết sức đơn giản. Vì vậy việc nghiên cứu đề tài: “Xây dựng đề cương kiểm toán hoạt động nợ chính quyền địa phương” là hết sức cấp thiết. Mục tiêu nghiên cứu - Làm rõ cơ sở lý luận về nợ chính quyền địa phương; tình hình về vay, nợ chính quyền địa phương và kiểm toán hoạt động nợ chính quyền địa phương ở Việt Mam; - Đánh giá thực trạng kiểm toán hoạt động nợ chính quyền địa phương ở Việt Nam và kinh nghiệm quốc tế; - Xây dựng đề cương kiểm toán hoạt động nợ chính quyền địa phương (bao gồm nội dung, trình tự các tiêu chí và phương thức tổ chức kiểm toán hoạt động nợ chính quyền địa phương). Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài được chia làm 3 chương: Chương 1. Lý luận cơ bản về nợ chính quyền địa phương và kiểm toán hoạt động nợ chính quyền địa phương Đề tài trình bày về nợ chính quyền địa phương và cơ chế quản lý nợ chính quyền địa phương trong đó có các khái niệm cơ bản; phân loại nợ chính quyền địa phương; Sự khác nhau giữa nợ công, nợ chính phủ, nợ quốc gia, nợ chính quyền địa phương. Đề tài liệt kê một số chỉ tiêu đánh giá khả năng thanh toán nợ gồm: Chỉ tiêu an toàn nợ công; Kế hoạch vay, trả nợ công và kế hoạch vay, trả nợ của chính quyền địa phương; Bảo đảm khả năng trả nợ công và nợ chính quyền địa phương. Đề tài tài trình bày một số rủi ro trong việc quản lý nợ chính quyền địa phương; cơ sở lý luận về kiểm toán hoạt động nợ chính quyền địa phương; mối liên hệ giữa quản lý, kiểm toán hoạt động nợ chính quyền địa phương với tính bền vững của ngân sách nhà nước tại địa phương. Bên cạnh đó đề tài tổng hợp số liệu và cơ cấu nợ công các năm 2017, 2018 và 2019 theo báo cáo của Bộ Tài chính. Chương 2. Thực trạng kiểm toán hoạt động nợ chính quyền địa phương ở Việt Nam và kinh nghiệm quốc tế Đề tài khái quát thực trạng kiểm toán nợ công của Kiểm toán nhà nước (những kết quả đạt được, chỉ ra các tồn tại hạn chế và nguyên nhân của các tồn tại hạn chế. Đề tài trình bày thực trạng kiểm toán hoạt động nợ chính quyền địa phương của Kiểm toán nhà nước trong đó khái quát tình hình tổ chức thực hiện kiểm toán hoạt động nợ chính quyền địa phương của Kiểm toán nhà nước trong những năm qua; đánh giá thực trạng kiểm toán hoạt động nợ chính quyền địa phương của Kiểm toán nhà nước trong thời gian qua và chỉ ra các tồn tại, hạn chế; phân tích nguyên nhân của các tồn tại hạn chế. Bên cạnh đó, đề tài còn tổng hợp kinh nghiệm quốc tế về kiểm toán nợ của INTOSAI Chương 3. Xây dựng đề cương kiểm toán hoạt động nợ chính quyền địa phương tại Việt Nam Đề tài trình bày xu hướng quản lý nợ chính quyền địa phương ở Việt Nam trong tương lai; định hướng hoàn thiện kiểm toán hoạt động nợ chính quyền địa phương của Kiểm toán nhà nước. Đề cương kiểm toán hoạt động nợ chính quyền địa phương cần được xây dựng trên cơ sở cụ thể hóa các bước trong Hướng dẫn kiểm toán hoạt động và Hướng dẫn kiểm toán công tác quản lý nợ công. Trong đó những nội dung chính bao gồm: + Mục tiêu kiểm toán hoạt động nợ chính quyền địa phương; + Nội dung và tiêu chí kiểm toán hoạt động nợ chính quyền địa phương; + Trình tự kiểm toán hoạt động nợ chính quyền địa phương; + Xây dựng phương thức tổ chức kiểm toán hoạt động nợ chính quyền địa phương; Ngoài ra, đề tài còn đề xuất một số kiến nghị những điều kiện cần thiết để nâng cao chất lượng kiểm toán hoạt động nợ chính quyền địa phương./.

Quản lý, điều hành ngân sách địa phương - Thực trạng và giải pháp hoàn thiện thông qua hoạt động kiểm toán của Kiểm toán nhà nước

Chủ nhiệm: TS. Nguyễn Hữu Hiểu và Ths. Đỗ Xuân Long Thư ký: Ths. Trịnh Thị Na     Thành viên chính: TS. Lê Đình Thăng                                Ths. Trương Khánh Hưng Đơn vị chủ trì: Trường Đào tạo và Bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm toán  Sự cần thiết nghiên cứu đề tài Ngân sách nhà nước Việt Nam được quản lý thống nhất, gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa phương. Quản lý, điều hành ngân sách địa phương gắn với các cấp chính quyền địa phương, nhưng có mối liên hệ chặt chẽ với ngân sách trung ương và ngân sách nhà nước. Công tác quản lý, điều hành ngân sách địa phương thời gian qua luôn được cải tiến và đạt nhiều kết quả tích cực góp phần lành mạnh tài chính quốc gia. Kiểm toán ngân sách nhà nước, trong đó có kiểm toán ngân sách địa phương là nhiệm vụ chủ yếu của Kiểm toán nhà nước. Thông qua hoạt động kiểm toán ngân sách địa phương, Kiểm toán nhà nước cung cấp thông tin cho Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân nơi kiểm toán và các cơ quan khác để phục vụ công tác quản lý, điều hành ngân sách địa phương. Những năm qua, Kiểm toán nhà nước đã thực hiện kiểm toán ngân sách địa phương với quy mô bao phủ tương đối rộng, qua kiểm toán đã phát hiện nhiều bất cập trong quản lý, điều hành ngân sách của các cấp chính quyền địa phương, từ đó Kiểm toán nhà nước kiến nghị hoàn thiện. Điều này đặt ra sự cần thiết phải nghiên cứu đề tài. Mục tiêu nghiên cứu - Hệ thống hóa kiến thức lý luận về quản lý, điều hành ngân sách địa phương và vai trò của Kiểm toán nhà nước đối với quản lý, điều hành ngân sách địa phương. - Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động kiểm toán đánh giá công tác quản lý, điều hành ngân sách địa phương của Kiểm toán nhà nước. - Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động kiểm toán đánh giá công tác quản lý, điều hành ngân sách địa phương của Kiểm toán nhà nước. Nội dung đề tài: Ngoài phần Mở đầu, Mục lục, Kết luận, Tài liệu tham khảo, nội dung chính của đề tài thể hiện ở 3 chương: Chương 1. Lý luận chung về quản lý, điều hành ngân sách địa phương Đề tài nêu tổng quan về quản lý, điều hành ngân sách địa phương. Trong đó đề cập đến các khái niệm, các yếu tố tác động đến quản lý, điều hành ngân sách địa phương (như hệ thống văn bản; tổ chức bộ máy; phân cấp quản lý; năng lực quản lý điều hành của chính quyền địa phương; hoạt động kiểm tra, giám sát, thanh tra ngân sách địa phương). Đề tài khái quát vai trò của Kiểm toán nhà nước đối với công tác quản lý, điều hành ngân sách địa phương gồm 5 vai trò. Bên cạnh đó, đề tài còn nêu những nội dung chủ yếu đánh giá công tác quản lý, điều hành ngân sách địa phương của Kiểm toán nhà nước. Chương 2. Thực trạng công tác đánh giá việc quản lý, điều hành ngân sách địa phương của Kiểm toán nhà nước Đề tài khái quát một số kết quả chủ yếu trong quản lý, điều hành ngân sách địa phương được đánh giá thông qua hoạt động kiểm toán đồng thời chỉ ra hạn chế trong quản lý, điều hành ngân sách địa phương được đánh giá thông qua hoạt động kiểm toán và nguyên nhân cơ bản. Đó là việc phân cấp quản lý thu, chi ngân sách còn chưa hợp lý; công tác lập, quyết định, giao dự toán ngân sách nhà nước còn một số bất cập; quá trình chấp hành ngân sách nhà nước còn bộc lộ nhiều lỗi, sai sót ảnh hưởng đến kỷ luật tài khóa; công tác quyết toán ngân sách địa phương tại nhiều nơi còn mang tính hình thức, tính bền vững của ngân sách địa phương chưa được chú trọng. Đề tài còn phân tích nguyên nhân chủ quan và khách quan dẫn đến các bất cập nêu trên. Bên cạnh đó, đề tài trình bày chi tiết thực trạng công tác đánh giá việc quản lý, điều hành ngân sách địa phương của Kiểm toán nhà nước đồng thời chỉ ra 8 hạn chế cơ bản và phân tích nguyên nhân của các hạn chế đó. Chương 3. Giải pháp hoàn thiện công tác đánh giá việc quản lý, điều hành ngân sách địa phương của Kiểm toán nhà nước Đề tài trình bày 4 định hướng công tác đánh giá việc quản lý, điều hành ngân sách địa phương của Kiểm toán nhà nước. Trên cơ sở đó, đề tài đề xuất 6 nhóm giải pháp hoàn thiện công tác đánh giá việc quản lý, điều hành ngân sách địa phương của Kiểm toán nhà nước gồm: cơ cấu nguồn thu, nhiệm vụ chi ngân sách địa phương; Hoàn thiện việc phân cấp ngân sách địa phương; hoàn thiện công tác lập và quyết định dự toán ngân sách địa phương; hoàn thiện công tác tổ chức quản lý thu ngân sách nhà nước; hoàn thiện công tác quản lý chi ngân sách địa phương; hoàn thiện công tác kế toán và quyết toán ngân sách địa phương; hoàn thiện công tác phê chuẩn quyết toán ngân sách địa phương./.

Quy trình kiểm toán quản lý và xử lý nước thải công nghiệp tại các khu công nghiệp

Chủ nhiệm: Ths. Đinh Văn Dũng và TS. Lê Doãn Hoài Thư ký: Ths. Nguyễn Ngọc Duyên Thành viên chính: Ths. Nguyễn Viết Hãnh                                 Ths. Vũ Đức Nam Đơn vị thực hiện: Kiểm toán nhà nước chuyên ngành III Sự cần thiết nghiên cứu đề tài Nước thải công nghiệp chứa nhiều chất ô nhiễm, xả thải ra môi trường khi chưa được xử lý gây ô nhiễm nước mặt, nước ngầm, gây ô nhiễm đất và ảnh hưởng tới sức khỏe người dân. Hầu hết các doanh nghiệp sản xuất trong ngành khai thác, công nghiệp chế biến thực phẩm, chế biến đồ uống, thuốc lá, giả da… đều sử dụng hóa chất độc hại, việc tuân thủ các quy định về bảo vệ môi trường còn mang tính hình thức, công tác bảo vệ môi trường chưa được quan tâm đúng mức, gây ra rò rỉ các hóa chất độc hại, xâm nhập vào môi trường gây ô nhiễm nguồn nước mà chưa có giải pháp ngăn chặn hiệu quả. Kiểm toán nhà nước đã thực hiện nhiều cuộc kiểm toán môi trường chuyên đề về hoạt động quản lý và bảo vệ môi trường tại các khu công nghiệp, khu kinh tế nhằm giúp Quốc hội và Chính phủ kiểm tra và giám sát công tác quản lý và bảo vệ môi trường của các cơ quan quản lý nhà nước. Tuy nhiên, kiểm toán môi trường mới xây dựng hướng dẫn/quy trình kiểm toán môi trường chung mà chưa có quy trình kiểm toán môi trường cho từng lĩnh vực cụ thể, đặc biệt là quy trình kiểm toán môi trường đối với công tác quản lý và xử lý nước thải khu công nghiệp. Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài “Quy trình kiểm toán quản lý và xử lý nước thải công nghiệp tại các khu công nghiệp” là hết sức cần thiết. Mục tiêu nghiên cứu - Khái quát hóa cơ sở lý luận, hệ thống cơ cấu tổ chức, cơ chế chính sách, hành lang pháp lý liên quan đến công tác quản lý và xử lý nước thải công nghiệp tại các khu công nghiệp Việt Nam; - Phân tích thực trạng và hoạt động kiểm toán công tác quản lý và xử lý nước thải của Kiểm toán nhà nước và bài học kinh nghiệm của một số nước trên thế giới từ đó đưa ra cách xác định mục tiêu, nội dung và tiêu chí kiểm toán; - Xây dựng quy trình kiểm toán công tác quản lý và xử lý nước thải công nghiệp tại các khu công nghiệp. Nội dung nghiên cứu: Ngoài phần Mở đầu và kết luận, đề tài kết cấu thành 3 chương. Chương 1. Cơ sở lý luận về nước thải công nghiệp và kiểm toán nước thải công nghiệp tại các khu công nghiệp Đề tài trình bày những vấn đề cơ bản về nước thải công nghiệp, khái niệm, phân loại và cơ sở nhận biết về nước thải công nghiệp, các tác động của nước thải công nghiệp đến môi trường, đời sống kinh tế xã hội và sức khỏe của con người; công tác quản lý nước thải công nghiệp tại các khu công nghiệp. Bên cạnh đó, đề tài khái quát vai trò và vị thế của Kiểm toán nhà nước trong công tác bảo vệ môi trường; các khái niệm cơ bản về kiểm toán môi trường và kiểm toán nước thải công nghiệp; những chủ đề, khía cạnh cơ bản về kiểm toán môi trường và kiểm toán nước thải công nghiệp. Chương 2. Thực trạng công tác kiểm toán nước thải công nghiệp tại Việt Nam và một số nước trên thế giới Đề tài khái quát thực trạng kiểm toán liên quan đến hoạt động quản lý và xử lý nước thải ở Việt Nam, trong đó có thực trạng kiểm toán công tác quản lý và xử lý nước thải công nghiệp trên thế giới và tại Việt Nam. Đề tài đi sâu phân tích, đánh giá thực trạng một số cuộc kiểm toán liên quan đến công tác quản lý và xử lý nước thải công nghiệp trên thế giới như cuộc kiểm toán nước thải khu công nghiệp của Trung Quốc, kiểm toán nước thải công nghiệp của Canada, kiểm toán nước thải công nghiệp của GAO. Trên cơ sở đó, đề tài rút ra các bài học kinh nghiệm cho Việt Nam. Chương 3. Quy trình kiểm toán công tác quản lý và xử lý nước thải công nghiệp tại các khu công nghiệp. Đề tài khái quát quy trình kiểm toán, phương pháp xây dựng quy trình kiểm toán, nguyên tắc xây dựng quy trình kiểm toán. Trên cơ sở đó, đề tài đề xuất quy trình kiểm toán công tác quản lý và xử lý nước thải công nghiệp tại các khu công nghiệp (từ khâu chuẩn bị kiểm toán; thực hiện kiểm toán; lập và gửi báo cáo kiểm toán; theo dõi, kiểm tra thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán). Bên cạnh đó, đề tài còn đề xuất các giải pháp và điều kiện thực hiện.