Thứ sáu, 23/10/2026

Điện thoại (024) 6287 3463

Đường dây nóng (024) 6287 3463

Liên hệ quảng cáo (+84)915.632.345

Thứ sáu, 23/10/2026
Share on Facebook
Copy to Clipboard

Kê khai tài sản thu nhập, những điều công chức nên biết để hạn chế các tồn tại, sai sót

Thực hiện Luật Phòng, chống tham nhũng, từ năm 2022 đến 2024, Kiểm toán nhà nước đã tiến hành xác minh tài sản, thu nhập theo kế hoạch hằng năm đối với 20 đơn vị trực thuộc, với 130 công chức. Qua đó, có thể thấy được những tồn tại, hạn chế trong việc kê khai tài sản, thu nhập, để từ đó đưa ra một số giải pháp để khắc phục các vấn đề này.

Qua công tác xác minh, kiểm tra bản kê khai tài sản, thu nhập tại các cơ quan, đơn vị của các bộ, ngành, địa phương trong cả nước cũng như tại Kiểm toán nhà nước đã chỉ ra việc kê khai tài sản, thu nhập còn một số lỗi thường gặp từ phía người kê khai, như:

Không thực hiện theo mẫu bản kê khai và không đọc kỹ các chú thích hướng dẫn việc kê khai tại Phụ lục I, Phụ lục II được ban hành kèm theo Nghị định 130/2020/NĐ-CP ngày 30/10/2020 của Chính phủ. Chưa tuân thủ đầy đủ quy định về thể thức, thông tin chung của bản kê khai tài sản, thu nhập, như: Không ghi rõ phương thức kê khai là kê khai hằng năm, kê khai phục vụ công tác tổ chức cán bộ, kê khai bổ sung; không giữ nguyên mẫu và tự ý lược bỏ các mục của mẫu bản kê khai tài sản, thu nhập…

Kê khai thiếu thông tin hoặc kê khai chưa đầy đủ, chính xác các thông tin chi tiết đối với loại tài sản đã kê khai tại bản kê khai tài sản, thu nhập, như: kê khai không đầy đủ, không chính xác về giá trị, diện tích xây dựng, tên người được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng, sở hữu, tình trạng thực tế quản lý, sử dụng đối với tài sản là đất ở, nhà ở, công trình xây dựng. Kê khai chưa đúng, hoặc chưa kê khai rõ loại tiền (tiền mặt, tiền gửi, tiền cho vay…). Đối với ngoại tệ chưa ghi số tiền quy đổi ra tiền Việt Nam; chưa kê khai đúng về giá trị cổ phiếu là giá gốc, chưa kê khai đầy đủ các cổ phiếu, trái phiếu đang sở hữu tại thời điểm kê khai… Đối với tài sản khác chưa kê khai đầy đủ về tên tài sản, số đăng ký và chưa kê đúng giá trị của tài sản. Kê khai tổng thu nhập giữa hai lần kê khai của người kê khai hoặc của vợ/chồng và con chưa thành niên chưa chính xác. Đối với biến động về tài sản: chưa kê khai chi tiết thông tin tài sản, thu nhập, biến động tăng/giảm tài sản, thu nhập; chưa kê khai thông tin về vốn góp; kê khai chưa đầy đủ, chính xác tổng thu nhập giữa hai lần kê khai…

thumbnail

Bên cạnh đó, việc tiếp nhận, công khai bản kê khai tài sản, thu nhập tại đơn vị còn trường hợp chưa có văn bản bàn giao bản kê khai giữa đơn vị và công chức/bộ phận tiếp nhận bản kê khai. Người được giao nhiệm vụ tiếp nhận bản kê khai tài sản, thu nhập chưa kiểm tra việc tuân thủ mẫu bản kê khai, tính đầy đủ của các nội dung phải kê khai, chưa yêu cầu người kê khai thực hiện kê khai lại.

Có thể thấy rằng, qua việc kê khai tài sản, thu nhập, người có nghĩa vụ và quyền đối với việc kê khai vẫn còn do chủ quan, vô tình hoặc hữu ý sai sót khi thực hiện kê khai. Trong khi đó, quy định của pháp luật cũng đã có những quy định về xử lý vi phạm trong kê khai tài sản, thu nhập như sau:

Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị thiếu trách nhiệm trong tổ chức việc kê khai, công khai bản kê khai, nộp bản kê khai thì tùy theo tính chất, mức độ mà bị xử lý kỷ luật bằng một trong các hình thức khiển trách, cảnh cáo, giáng chức theo Điều 21 Nghị định 130/2020/NĐ-CP.

Người có nghĩa vụ kê khai mà kê khai tài sản, thu nhập không trung thực, giải trình nguồn gốc của tài sản, thu nhập tăng thêm không trung thực thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, bị xử lý kỷ luật bằng một trong các hình thức cảnh cáo, hạ bậc lương, giáng chức, cách chức, buộc thôi việc hoặc bãi nhiệm; nếu được quy hoạch vào các chức danh lãnh đạo, quản lý thì còn bị đưa ra khỏi danh sách quy hoạch; trường hợp xin thôi làm nhiệm vụ, từ chức, miễn nhiệm thì có thể xem xét không kỷ luật theo Điều 51 Luật Phòng chống tham nhũng năm 2018 và Điều 20 Nghị định 130/2020/NĐ-CP.

Để hạn chế các tồn tại, sai sót trong công tác kê khai, kiểm soát tài sản, thu nhập, các cơ quan, đơn vị và người có nghĩa vụ kê khai cần triển khai thực hiện một số giải pháp sau:

1. Đối với cơ quan đơn vị: (1) Thường xuyên quán triệt Chỉ thị số 33-CT/TW, ngày 03/01/2014 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với việc kê khai và kiểm soát việc kê khai tài sản; Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018, Nghị định số 130/2020/NĐ-CP ngày 30/10/2020 của Chính phủ về kiểm soát tài sản, thu nhập. (2) Tổ chức hội nghị chuyên đề phổ biến lại các nội dung về kê khai tài sản, thu nhập được quy định tại Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 và Nghị định số 130/2020/NĐ-CP ngày 30/10/2020 của Chính phủ tới toàn thể những người có nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập trong các cơ quan, đơn vị. (3) Quán triệt, chỉ đạo bộ phận chuyên môn của cơ quan, đơn vị tự kiểm tra, rà soát lại nội dung, hình thức các bản kê khai từ bản kê khai lần đầu đến nay, chỉ rõ những tồn tại, hạn chế, sai phạm (nếu có). (4) Kịp thời phát hiện, chấn chỉnh, uốn nắn, xử lý nghiêm các hành vi thiếu trách nhiệm, buông lỏng lãnh đạo, chỉ đạo, vi phạm về kê khai và kiểm soát tài sản, thu nhập. (5) Định kỳ sơ kết, tổng kết các chỉ thị, nghị quyết, kết luận theo chỉ đạo của Trung ương để đánh giá, rút kinh nghiệm việc tổ chức thực hiện, qua đó kiến nghị điều chỉnh và có giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện.

thumbnail

2. Đối với người có nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập: (1) Hiểu rõ về nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập được pháp luật quy định như thế nào (Điều 33 Luật Phòng chống tham nhũng); những tài sản nào phải kê khai theo quy định của pháp luật (Điều 35 Luật Phòng chống tham nhũng); phương thức và thời điểm kê khai (Điều 36 Luật Phòng chống tham nhũng); quyền và nghĩa vụ khi được xác minh tài sản, thu nhập (Điều 47 Luật Phòng chống tham nhũng). (2) Cần quan tâm, đọc kỹ các hướng dẫn chi tiết về kê khai tại mục B của Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định 130/2020/NĐ-CP để kê khai trung thực, đầy đủ và giải trình rõ ràng về các thông tin đã kê khai khi được kiểm tra, xác minh. (3) Tại thời điểm thực hiện kê khai nên dành thời gian rà soát tài sản thuộc quyền sở hữu, sử dụng hiện có của mình, của vợ hoặc chồng và con chưa thành niên, để tránh trường hợp bỏ sót các thông tin tài sản thuộc diện phải kê khai. (4) Nên nghiên cứu các tài liệu tập huấn hướng dẫn và giải đáp về khó khăn vướng mắc trong công tác kê khai tài sản, thu nhập đã được cung cấp để vận dụng, thực hiện và rút kinh nghiệm trong thực tiễn công tác kê khai, tài sản, thu nhập trong thời gian tới.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018;

2. Nghị định số 130/2020/NĐ-CP ngày 30/10/2020 của Chính phủ;

3. Quyết định số 56-QĐ/TW ngày 08/02/2022 của Bộ Chính trị về quy chế phối hợp các cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập;

4. Chỉ thị số 33-CT/TW ngày 03/01/2014 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với việc kê khai, kiểm soát việc kê khai tài sản;

5. Kết luận số 105-KL/TW ngày 04/12/2024 về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 33-CT/TW ngày 03/01/2014 của Bộ Chính trị về việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với việc kê khai và kiểm soát việc kê khai tài sản.

Tác giả:

ThS. Vũ Thị Quỳnh Hương, Thanh tra Kiểm toán nhà nước

(Theo Tạp chí Nghiên cứu Khoa học kiểm toán, số tháng 01/2025)

Lượt xem: 343

Xác định giá đất – những vướng mắc từ thực tiễn

Đất đai và tài sản trên đất hiện là nhóm tài sản có giá trị lớn nhất trong nền kinh tế quốc dân và cũng là nhóm tài sản phát sinh nhiều hoạt động xác định giá trị nhất. Do đó, xác định giá đất là căn cứ quan trọng để xác định nguồn thu ngân sách song vẫn còn nhiều vướng mắc trong quá trình thực hiện. Cơ sở pháp lý và căn cứ xác định giá đất Đất đai và tài sản trên đất hiện là nhóm tài sản có giá trị lớn nhất trong nền kinh tế quốc dân và cũng là nhóm tài sản phát sinh nhiều hoạt động xác định giá trị nhất. Theo thống kê của Cục Quản lý giá - Bộ Tài chính, bất động sản luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu hồ sơ thẩm định giá của các doanh nghiệp thẩm định giá. Hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt động xác định giá trị tài sản đang được hoàn thiện theo hướng ngày càng chuyên nghiệp và tiệm cận với thông lệ quốc tế, đặc biệt là lĩnh vực thẩm định giá. Luật Giá 2023 có hiệu lực từ ngày 01/7/2024 đã tạo lập khuôn khổ pháp lý mới cho hoạt động thẩm định giá; đồng thời, song song với đó, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 78/2024/NĐ-CP ngày 01/7/2024 quy định chi tiết một số điều của Luật Giá về hoạt động thẩm định giá. Cùng với đó, Bộ Tài chính đã ban hành các Thông tư quy định hệ thống Chuẩn mực thẩm định giá Việt Nam về đạo đức nghề nghiệp, thu thập và phân tích thông tin, hồ sơ thẩm định giá, phạm vi công việc, cách tiếp cận thị trường, chi phí, thu nhập, thẩm định giá bất động sản, doanh nghiệp, tài sản vô hình... Đối với đất đai và tài sản trên đất, Luật Đất đai 2024 quy định khung pháp lý cơ bản cho hoạt động định giá đất; trong đó phương pháp định giá đất theo nguyên tắc thị trường. Việc định giá đất phải bảo đảm khách quan, minh bạch, độc lập và hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, người sử dụng đất và nhà đầu tư. Giá đất được xác định trên cơ sở mục đích sử dụng đất, thời hạn sử dụng đất, thông tin đầu vào, yếu tố ảnh hưởng đến giá đất và các quy định pháp luật liên quan đến thời điểm định giá. Luật Đất đai 2024 quy định có 04 phương pháp định giá đất gồm: phương pháp so sánh, phương pháp thu nhập, phương pháp thặng dư và phương pháp hệ số điều chỉnh giá đất. Mỗi phương pháp được áp dụng đối với các trường hợp và điều kiện cụ thể nhằm bảo đảm phù hợp với đặc điểm của thửa đất, khu đất cần định giá. Các phương pháp này được sử dụng để xác định giá đất cụ thể và xây dựng bảng giá đất. Trường hợp áp dụng phương pháp so sánh, thu nhập hoặc hệ số điều chỉnh mà kết quả thấp hơn giá đất trong bảng giá đất thì phải sử dụng mức giá trong bảng giá đất. Việc lựa chọn phương pháp định giá đất do tổ chức thực hiện định giá đề xuất và Hội đồng thẩm định giá đất cụ thể quyết định. Luật Đất đai 2024 cũng cho phép Chính phủ quy định phương pháp định giá đất khác sau khi được sự đồng ý của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, điều này góp phần linh hoạt hơn trong quá trình tổ chức thực hiện. Hoạt động xác định giá trị đất đai và tài sản trên đất hiện nay không còn là vấn đề thuần túy về kỹ thuật thẩm định giá, mà đã trở thành một vấn đề quản trị nhà nước tổng hợp, đòi hỏi sự phối hợp giữa nhiều ngành, nhiều lĩnh vực và nhiều chủ thể khác nhau. Thông tin đầu vào để định giá đất là giá đất đã hoàn thành chuyển nhượng trên thị trường, giá đất đã trúng đấu giá quyền sử dụng đất sau khi hoàn thành nghĩa vụ tài chính, thông tin về doanh thu, chi phí, thu nhập từ việc sử dụng đất; được thu thập từ cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai, cơ sở dữ liệu quốc gia về giá; Văn phòng đăng ký đất đai; cơ quan thuế; đơn vị, tổ chức thực hiện việc đấu giá quyền sử dụng đất, đấu giá tài sản; sàn giao dịch bất động sản, doanh nghiệp bất động sản; thông tin thu thập qua điều tra, khảo sát. Thông tin giá đất đã hoàn thành chuyển nhượng trên thị trường, đã trúng đấu giá quyền sử dụng đất sau khi hoàn thành nghĩa vụ tài chính là các thông tin được hình thành trong thời gian 24 tháng tính từ thời điểm định giá đất trở về trước và ưu tiên sử dụng thông tin gần nhất với thời điểm định giá đất. Để xác định giá đất cần căn cứ vào bảng giá đất, trong đó có tính đến hệ số điều chỉnh giá đất. Bảng giá đất được xây dựng theo loại đất, khu vực, vị trí. Đối với khu vực có bản đồ địa chính dạng số và cơ sở dữ liệu giá đất thì được xây dựng bảng giá đất đến từng thửa đất. Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định bảng giá đất, công bố và áp dụng từ ngày 01/01/2026; sửa đổi, bổ sung bảng giá đất khi cần thiết. Hệ số điều chỉnh giá đất là tỷ lệ tăng, giảm giá đất của các loại đất tương ứng với khu vực, vị trí đã quy định trong bảng giá đất. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định ban hành hệ số điều chỉnh giá đất áp dụng từ ngày 01 tháng 01 hằng năm; trường hợp cần thiết, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định sửa đổi, bổ sung hệ số điều chỉnh giá đất trong năm hoặc cho từng khu vực, vị trí để áp dụng. Hệ số điều chỉnh giá đất bao gồm: (i) hệ số điều chỉnh mức biến động thị trường, (ii) hệ số điều chỉnh theo quy hoạch và (iii) hệ số điều chỉnh theo yếu tố khác ảnh hưởng đến giá đất. Hệ số điều chỉnh giá đất được phân chia thành các mức khác nhau. Những vướng mắc khi xác định giá đất Việc bãi bỏ khung giá đất và chuyển sang cơ chế xây dựng bảng giá đất hằng năm được đánh giá là bước đổi mới quan trọng nhằm từng bước đưa giá đất do Nhà nước quy định tiệm cận với giá đất thị trường. Bên cạnh những thuận lợi, trong quá trình triển khai thực hiện các quy định mới về giá đất vẫn còn phát sinh khó khăn, vướng mắc đó là việc thu thập thông tin đầu vào phục vụ định giá đất. Thực tế cho thấy nhiều giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất vẫn kê khai giá trị thấp hơn giá giao dịch thực tế, dẫn đến nguồn dữ liệu thị trường chưa phản ánh đầy đủ giá trị thực của đất đai. Hệ thống cơ sở dữ liệu đất đai, cơ sở dữ liệu giá đất tại nhiều địa phương còn đang trong quá trình hoàn thiện, chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu về tính đồng bộ, cập nhật và chia sẻ thông tin phục vụ công tác định giá. Việc áp dụng các phương pháp định giá đất theo quy định mới đặt ra yêu cầu về chuyên môn, nghiệp vụ, trong khi đó, đội ngũ cán bộ làm công tác định giá đất ở một số địa phương còn thiếu về số lượng và hạn chế về kinh nghiệm thực tiễn; số lượng tổ chức tư vấn thẩm định, định giá đất đủ điều kiện hoạt động chưa đáp ứng nhu cầu định giá ngày càng tăng của các địa phương; một số đơn vị tư vấn định giá, thẩm định giá không muốn tham gia định giá đất cụ thể.  Tuy nhiên, khó khăn lớn nhất hiện nay là vấn đề dữ liệu thị trường phục vụ thẩm định giá. Mặc dù thị trường bất động sản đã phát triển mạnh trong những năm gần đây, song hệ thống dữ liệu về giao dịch đất đai và bất động sản vẫn chưa thực sự đầy đủ, đồng bộ và minh bạch. Trong nhiều trường hợp, giá chuyển nhượng được ghi nhận trên hợp đồng công chứng hoặc hồ sơ kê khai thuế chưa phản ánh đúng giá giao dịch thực tế trên thị trường. Bên cạnh đó, dữ liệu từ cơ quan thuế, cơ quan đăng ký đất đai, cơ quan công chứng, sàn giao dịch bất động sản và các tổ chức tín dụng hiện vẫn được quản lý phân tán, chưa hình thành cơ chế chia sẻ và khai thác hiệu quả. Một khó khăn khác là tính đa dạng và phức tạp của đất đai và tài sản gắn liền với đất. Trên thực tế, không có hai bất động sản hoàn toàn giống nhau. Ngay cả những tài sản có vị trí tương đồng cũng có thể khác biệt đáng kể về mục đích sử dụng đất, quy hoạch, hạ tầng kỹ thuật, điều kiện pháp lý, thời hạn sử dụng đất, khả năng khai thác thương mại hoặc tiềm năng phát triển trong tương lai. Bên cạnh đó, trong quá trình xác định giá trị tài sản trên đất, nhiều trường hợp hồ sơ pháp lý về công trình chưa đầy đủ hoặc chưa được cập nhật kịp thời. Đối với đất phát triển dự án, việc áp dụng phương pháp thặng dư vẫn là một trong những nội dung có nhiều tranh luận trong thực tiễn. Đây là phương pháp phụ thuộc rất lớn vào các giả định về doanh thu phát triển, chi phí đầu tư, tiến độ thực hiện dự án, tỷ suất lợi nhuận của nhà đầu tư và các yếu tố thị trường trong tương lai. Trong điều kiện thị trường bất động sản biến động nhanh, việc dự báo các yếu tố này luôn tiềm ẩn rủi ro và có thể dẫn đến sự chênh lệch đáng kể về kết quả định giá giữa các đơn vị tư vấn khác nhau. Phương pháp thặng dư là phương pháp chủ đạo cho các dự án quy mô lớn, song các chỉ tiêu đầu vào để tính toán doanh thu phát triển hiện nay đang chịu ảnh hưởng nặng nề bởi các yếu tố chủ quan và sự biến động cơ học của địa giới hành chính. Ngoài ra, công tác định giá đất cụ thể phục vụ tính tiền sử dụng đất và đấu giá quyền sử dụng đất đang vấp phải nhiều nút thắt mang tính kỹ thuật và pháp lý. Cách tính toán tỷ suất chiết khấu, vướng mắc bóc tách chi phí dự phòng trượt giá, tính phi thực tế của chỉ số biến động tăng doanh thu, những tranh biện về phân bổ chi phí hạ tầng kỹ thuật đối với quỹ đất nhà ở xã hội, việc áp dụng quy định của Nghị quyết 254 và Nghị định 49 để tính giá đất từ ngày 01/7/2026… Bên cạnh đó, xây dựng và ban hành hệ số điều chỉnh giá đất cũng là một khó khăn mà các địa phương gặp phải. Theo quy định mới, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phải ban hành hệ số điều chỉnh giá đất trước ngày 01/7/2026. Tuy nhiên, để xây dựng được hệ số điều chỉnh giá đất phải thực hiện đầy đủ nhiều bước. Tổng thời gian thực hiện theo quy định khoảng 07 tháng, trong khi thời gian thực tế chỉ khoảng 05 tháng, dẫn đến nhiều địa phương không đủ điều kiện hoàn thành đúng tiến độ. Thứ hai, còn chồng chéo trong việc xác định trường hợp áp dụng bảng giá đất, hệ số điều chỉnh giá đất và giá đất cụ thể. Điều này dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau giữa các địa phương, gây khó khăn trong tổ chức thực hiện cũng như công tác kiểm tra, kiểm toán. Thứ ba, còn thiếu quy định chuyển tiếp. Một số hồ sơ xác định giá đất cụ thể đã triển khai trước thời điểm quy định mới có hiệu lực nhưng chưa hoàn thành. Hiện chưa có quy định rõ: Tiếp tục xác định theo giá đất cụ thể hay chuyển sang áp dụng hệ số điều chỉnh giá đất. Điều này làm phát sinh tâm lý e ngại, ảnh hưởng đến tiến độ xử lý hồ sơ. Thứ tư, thiếu hướng dẫn về xây dựng mức tối đa, tối thiểu của hệ số điều chỉnh. Pháp luật giao Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định mức tối đa, tối thiểu của hệ số điều chỉnh mức biến động thị trường. Tuy nhiên hiện chưa có quy định cụ thể về tiêu chí; phương pháp và căn cứ kỹ thuật xây dựng hệ số điều chỉnh. Để xác định các mức này, dẫn đến khó khăn trong quá trình xây dựng và ban hành hệ số điều chỉnh giá đất. Đồng thời, khó khăn lớn nhất hiện nay là hạn chế về cơ sở dữ liệu phục vụ định giá đất. Chúng ta chưa hình thành được cơ sở dữ liệu quốc gia đầy đủ về đất đai và bất động sản (trong đó có giá đất và bất động sản) để phục vụ cho hoạt động định giá và thẩm định giá. Việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn (Big Data), hệ thống thông tin địa lý (GIS), mô hình định giá tự động (AVM) hay các công cụ phân tích thị trường hiện đại vẫn đang ở giai đoạn đầu. Phần lớn việc thu thập và xử lý thông tin vẫn được thực hiện thủ công, phụ thuộc nhiều vào kinh nghiệm cá nhân của thẩm định viên, dẫn đến chi phí cao và hiệu quả chưa tương xứng với yêu cầu thực tiễn. Một số kiến nghị, đề xuất Cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về định giá và thẩm định giá theo hướng đồng bộ, thống nhất và phân định rõ trách nhiệm của từng chủ thể tham gia. Một trong những giải pháp có ý nghĩa nền tảng là xây dựng và hoàn thiện hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai và bất động sản (trong đó có giá đất và bất động sản). Cần đẩy nhanh việc xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai thống nhất trên phạm vi toàn quốc; tăng cường kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa cơ quan quản lý đất đai, cơ quan thuế, cơ quan công chứng, cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm, cơ quan quản lý xây dựng và các cơ quan liên quan. Đồng thời, cần nghiên cứu cơ chế cho phép doanh nghiệp thẩm định giá và các tổ chức có chức năng xác định giá đất được tiếp cận, khai thác dữ liệu phục vụ hoạt động nghề nghiệp theo quy định của pháp luật. Đây được xem là giải pháp căn cơ nhằm nâng cao tính khách quan và độ tin cậy của kết quả thẩm định giá trong thời gian tới. Bên cạnh đó, cần chú trọng hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong quá trình xác định giá trị tài sản. Hoạt động định giá đất và thẩm định giá đất hiện nay liên quan đến nhiều cơ quan khác nhau như cơ quan quản lý đất đai, cơ quan tài chính, cơ quan thuế, cơ quan xây dựng, cơ quan tư pháp, cơ quan điều tra và các tổ chức hành nghề thẩm định giá. Việc xây dựng cơ chế phối hợp rõ ràng, minh bạch, có trách nhiệm giải trình cụ thể sẽ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, hạn chế chồng chéo trong thực hiện nhiệm vụ và giảm thiểu các tranh chấp, khiếu nại phát sinh trong quá trình tổ chức thực hiện. Cần có hướng dẫn cụ thể việc xác định tỷ lệ tăng doanh thu đối với các tỉnh, thành phố đã thực hiện sáp nhập; để đảm bảo áp dụng thống nhất trên toàn quốc; hướng dẫn, ví dụ minh họa cụ thể về phương pháp tính tỷ lệ chiết khấu bình quân; sớm sửa đổi Nghị định 71/2024/NĐ-CP để quy định rõ ràng hơn khi tính giá đất của dự án nhà ở thương mại trong đó có phần diện tích nhà ở xã hội để đảm bảo việc hạch toán chi phí được tách bạch, thể hiện đúng bản chất của từng hạng mục đầu tư; đảm bảo công bằng, khách quan. Đối với chi phí dự phòng trượt giá, Bộ Xây dựng cần bổ sung quy định cấu trúc tỷ trọng chi phí chi tiết trong tập suất vốn đầu tư ban hành hằng năm. Trong đó, cần quy định rõ tỷ lệ phần trăm mặc định cho chi phí san lấp mặt bằng tương ứng với từng loại loại hình công trình và địa hình, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho các địa phương thực hiện bóc tách. Cơ quan Thống kê cũng cần sớm xây dựng chỉ số biến động thị trường bất động sản riêng cho nhóm nhà ở, đất ở, tách biệt hoàn toàn với chỉ số giá vật liệu bất động sản trong từng giai đoạn. Các cơ quan hữu quan cần tiếp tục hoàn thiện các quy định còn chưa thống nhất; quy định rõ phạm vi áp dụng bảng giá đất, hệ số điều chỉnh và giá đất cụ thể; bổ sung đầy đủ quy định chuyển tiếp; nghiên cứu điều chỉnh thời hạn ban hành hệ số điều chỉnh giá đất phù hợp với trình tự xây dựng văn bản quy phạm pháp luật. Đồng thời, cần đẩy nhanh xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về giá đất, trong đó cho phép sử dụng các nguồn dữ liệu đã được Nhà nước xác định như: giá đất cụ thể khi giao đất; giá đất bồi thường; giá đất chuyển mục đích; giá đất các dự án đã được phê duyệt làm thông tin đầu vào trong thời gian cơ sở dữ liệu quốc gia chưa hoàn thiện. Cần nghiên cứu rút ngắn thời hạn sử dụng thông tin đầu vào từ 02 năm xuống còn 01 năm nhằm bảo đảm phản ánh sát diễn biến thị trường.

Biến năng lượng tiết kiệm thành dòng tiền: cần hình thành thị trường dịch vụ và tài chính cho hiệu quả năng lượng

Trong bối cảnh nhu cầu năng lượng tiếp tục tăng nhanh, sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không thể chỉ dừng ở vận động doanh nghiệp và người dân “tiết kiệm điện”, mà cần được nhìn nhận như một thị trường đầu tư. Muốn thị trường này vận hành, Việt Nam cần phát triển mạnh doanh nghiệp dịch vụ năng lượng – ESCO, mở rộng các công cụ tài chính phù hợp và đặc biệt phải xây dựng hệ thống đo lường, xác minh, kiểm toán đủ tin cậy để biến năng lượng tiết kiệm được thành một dòng tiền có thể định giá và tài trợ. Tiết kiệm năng lượng phải trở thành một nguồn lực phát triển Áp lực bảo đảm năng lượng cho tăng trưởng đang ngày càng lớn. Theo Tập đoàn Điện lực Việt Nam, sản lượng điện thương phẩm năm 2025 đạt khoảng 287,5 tỷ kWh. Sáu tháng đầu năm 2026, điện thương phẩm vượt 152,5 tỷ kWh, tăng 10,2% so với cùng kỳ. Ngày 25/6/2026, hệ thống điện quốc gia ghi nhận sản lượng tiêu thụ kỷ lục khoảng 1,215 tỷ kWh trong một ngày, công suất cực đại trên 57.500 MW. Những con số này cho thấy cùng với đầu tư nguồn và lưới điện, Việt Nam phải coi tiết kiệm năng lượng là một cấu phần quan trọng của bảo đảm an ninh năng lượng. Dư địa còn rất lớn. Bộ Công Thương đánh giá ngành công nghiệp có tiềm năng tiết kiệm khoảng 20%-30% năng lượng, các công trình xây dựng khoảng 30%-35%. Chương trình quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả giai đoạn 2019-2030 đặt mục tiêu đến năm 2030 tiết kiệm 8%-10% tổng tiêu thụ năng lượng toàn quốc. Nếu khai thác được phần tiềm năng này, lợi ích không chỉ nằm ở hóa đơn điện của từng doanh nghiệp. Một đơn vị điện không phải tiêu thụ đồng nghĩa với việc nền kinh tế giảm áp lực đầu tư nguồn điện, truyền tải, nhiên liệu, công suất dự phòng và giảm phát thải. Theo cách tiếp cận đó, tiết kiệm năng lượng có thể được coi như một dạng “nguồn năng lượng không phải sản xuất”. Vấn đề còn lại là phải biến tiềm năng kỹ thuật thành dự án có khả năng tạo dòng tiền và thu hút vốn. ESCO – biến khoản tiết kiệm tương lai thành vốn đầu tư hiện tại Một trong những công cụ quan trọng là phát triển mô hình công ty dịch vụ năng lượng - ESCO. ESCO có thể thực hiện từ kiểm toán năng lượng, xác định giải pháp, thiết kế, lựa chọn thiết bị, triển khai công nghệ đến vận hành, bảo trì và thu xếp vốn. Điểm khác biệt quan trọng là doanh nghiệp sử dụng năng lượng không nhất thiết phải tự bỏ toàn bộ vốn đầu tư ban đầu. Chi phí có thể được hoàn trả từ khoản năng lượng tiết kiệm được trong những năm sau. Giả sử một nhà máy đang chi 100 tỷ đồng mỗi năm cho điện và nhiên liệu. Sau khi cải tạo hệ thống động cơ, khí nén, lò hơi và quản lý năng lượng, chi phí giảm còn 85 tỷ đồng. Khoản 15 tỷ đồng tiết kiệm mỗi năm có thể trở thành nguồn hoàn vốn cho dự án và trả cho ESCO. Về bản chất, ESCO giúp chuyển dòng tiền tiết kiệm trong tương lai thành nguồn vốn đầu tư ở hiện tại. Đây là cơ chế đặc biệt phù hợp với những doanh nghiệp có tiềm năng tiết kiệm lớn nhưng thiếu vốn hoặc không muốn dành vốn lưu động cho việc cải tạo thiết bị. Khung pháp lý đã có bước tiến quan trọng khi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả năm 2025, có hiệu lực từ ngày 01/01/2026, quy định rõ hơn về tổ chức dịch vụ năng lượng. Nghị định số 30/2026/NĐ-CP tiếp tục cụ thể hóa các nội dung liên quan đến kiểm toán năng lượng, tổ chức dịch vụ năng lượng và Quỹ thúc đẩy sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả. Tuy nhiên, có hành lang pháp lý chưa đồng nghĩa thị trường ESCO sẽ tự phát triển. Điểm nghẽn lớn nhất nằm ở khả năng xác định chính xác năng lượng thực sự tiết kiệm được là bao nhiêu. Không đo được thì không thể hình thành dòng tiền Nếu mức tiêu thụ điện của một doanh nghiệp giảm 10% so với năm trước, chưa thể kết luận toàn bộ mức giảm đó là kết quả của dự án tiết kiệm năng lượng. Sản lượng có thể giảm; số giờ vận hành thay đổi; thời tiết khác đi; cơ cấu sản phẩm có thể thay đổi hoặc một dây chuyền sản xuất đã tạm dừng. Vì vậy, phải bóc tách được phần giảm tiêu thụ do chính giải pháp tiết kiệm năng lượng mang lại. Đây là vai trò của cơ chế đo lường và xác minh - M&V. Một hệ thống M&V tin cậy phải xác định được mức tiêu thụ cơ sở trước đầu tư, các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu năng lượng, mức tiêu thụ sau đầu tư và phương pháp điều chỉnh trong trường hợp sản lượng, thời tiết hoặc điều kiện vận hành thay đổi. Nếu không làm rõ được những yếu tố này, ESCO và doanh nghiệp dễ phát sinh tranh chấp; ngân hàng cũng khó xác định chính xác dòng tiền dành cho trả nợ. Dưới góc nhìn kiểm toán, M&V chính là hạ tầng thông tin của thị trường hiệu quả năng lượng. Chuỗi logic rất rõ: không đo được thì không xác minh được; không xác minh được thì không xác định được dòng tiền; không xác định được dòng tiền thì khó tài trợ dự án. Do đó, Việt Nam cần sớm chuẩn hóa phương pháp xây dựng đường cơ sở, tiêu chuẩn đo lường, phương pháp M&V, hợp đồng ESCO mẫu, cơ chế chia sẻ lợi ích, phân bổ rủi ro và xử lý tranh chấp. Đây là “hạ tầng mềm” nhưng có ý nghĩa không kém hạ tầng kỹ thuật. Ngân hàng phải biết cho vay dựa trên dòng tiền tiết kiệm Một điểm nghẽn khác là phương thức tài trợ. Nhiều dự án hiệu quả năng lượng có quy mô vừa và nhỏ. Thiết bị sau đầu tư thường được gắn vào dây chuyền sản xuất và không phải lúc nào cũng có giá trị lớn nếu xử lý như tài sản bảo đảm độc lập. Nếu ngân hàng chỉ áp dụng tư duy cho vay dựa chủ yếu vào tài sản thế chấp, nhiều dự án có khả năng sinh lời tốt vẫn khó tiếp cận vốn. Trong khi đó, tài sản quan trọng nhất của dự án ESCO chính là dòng tiền tiết kiệm năng lượng trong tương lai. Hệ thống tín dụng vì vậy cần từng bước xây dựng năng lực thẩm định riêng cho các dự án hiệu quả năng lượng, trong đó đánh giá lịch sử tiêu thụ năng lượng, chất lượng thiết bị, công nghệ, đường cơ sở, phương án M&V, năng lực của ESCO, thời gian hoàn vốn và độ ổn định của khoản tiết kiệm. Việt Nam đã có nền tảng nhất định cho hướng đi này. Theo Ngân hàng Nhà nước, đến cuối năm 2024, dư nợ tín dụng xanh đạt khoảng 680 nghìn tỷ đồng, chiếm hơn 4,3% tổng dư nợ toàn nền kinh tế. Tuy nhiên, tín dụng cho hiệu quả năng lượng cần được phát triển thành một phân khúc rõ hơn. Bên cạnh nguồn vốn ngân hàng, có thể nghiên cứu bảo lãnh tín dụng, quỹ chia sẻ rủi ro, cho thuê tài chính đối với thiết bị tiết kiệm năng lượng và cơ chế gộp nhiều dự án nhỏ thành danh mục để giảm chi phí thẩm định. Nếu dự án được tiêu chuẩn hóa tốt, ngân hàng sẽ không phải đánh giá lại từ đầu từng máy nén khí, từng động cơ hoặc hệ thống điều hòa, mà có thể tài trợ theo nhóm công nghệ và các tiêu chí rủi ro đã được chuẩn hóa. Kiểm toán năng lượng tạo niềm tin cho phần giá trị “không nhìn thấy” Hiệu quả năng lượng có đặc điểm rất khác với nhiều loại đầu tư khác. “Sản phẩm” của dự án không phải một hàng hóa hữu hình, mà là phần năng lượng không còn phải tiêu thụ. Chính vì vậy, chất lượng dữ liệu, kiểm toán năng lượng và xác minh độc lập có vai trò đặc biệt quan trọng. Kiểm toán năng lượng không nên chỉ được xem là một thủ tục để doanh nghiệp hoàn thành nghĩa vụ pháp lý. Nó phải giúp xác định chính xác các khu vực sử dụng nhiều năng lượng, tiềm năng tiết kiệm, mức đầu tư, hiệu quả tài chính, thời gian hoàn vốn và rủi ro công nghệ. Đối với ngân hàng, báo cáo kiểm toán năng lượng và kết quả M&V đáng tin cậy giúp giảm bất cân xứng thông tin. Đối với doanh nghiệp và ESCO, xác minh độc lập giúp hạn chế tranh chấp. Đối với các chương trình sử dụng ngân sách nhà nước, quỹ tài chính nhà nước, vốn ưu đãi hoặc bảo lãnh của Nhà nước, yêu cầu kiểm toán còn cao hơn. Không thể chỉ đánh giá dự án qua việc “giải ngân đúng quy định”, mà phải trả lời thêm: nguồn lực công đã tạo ra bao nhiêu kWh tiết kiệm, giảm bao nhiêu chi phí, giảm bao nhiêu công suất đỉnh, giảm bao nhiêu phát thải và hiệu quả đó có tương xứng với số vốn đã bỏ ra hay không. Đây chính là cách tiếp cận của kiểm toán hoạt động đối với chính sách năng lượng trong nền kinh tế xanh. Kiểm toán vì vậy không chỉ làm nhiệm vụ hậu kiểm, mà còn góp phần tạo niềm tin để vốn tư nhân tham gia thị trường. Cần một hệ sinh thái thay vì những dự án đơn lẻ Nghị quyết số 70-NQ/TW ngày 20/8/2025 của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả. Để chủ trương đó đi vào thực tế, chính sách cần chuyển mạnh từ vận động tiết kiệm sang hình thành một hệ sinh thái đầu tư cho hiệu quả năng lượng. Trước hết, cần hoàn thiện các quy định về ESCO, hợp đồng hiệu quả năng lượng và trách nhiệm của các bên. Thứ hai, phải thống nhất tiêu chuẩn M&V, phương pháp xác lập đường cơ sở và phát triển hệ thống tổ chức xác minh độc lập. Thứ ba, cần mở rộng tín dụng xanh, bảo lãnh và các công cụ chia sẻ rủi ro để đưa vốn ngân hàng vào các dự án hiệu quả năng lượng. Thứ tư, cần xây dựng cơ sở dữ liệu về suất đầu tư, tỷ lệ tiết kiệm và thời gian hoàn vốn của các nhóm công nghệ phổ biến, tạo căn cứ cho ngân hàng, doanh nghiệp và ESCO đánh giá dự án. Cuối cùng, cần tăng cường kiểm toán hoạt động đối với các chương trình sử dụng nguồn lực nhà nước để bảo đảm mỗi đồng vốn hỗ trợ thực sự tạo ra kết quả tiết kiệm có thể đo lường và kiểm chứng. Mục tiêu cuối cùng phải là tạo ra một thị trường trong đó doanh nghiệp nhìn thấy lợi ích kinh tế khi tiết kiệm năng lượng; ESCO có thể sống bằng năng lực tạo ra phần tiết kiệm; ngân hàng có thể cho vay dựa trên dòng tiền tiết kiệm; còn Nhà nước có thể giám sát hiệu quả bằng các chuẩn mực đo lường và kiểm toán minh bạch. Khi đó, một kWh không phải tiêu thụ sẽ có giá trị kinh tế không kém một kWh phải đầu tư để sản xuất thêm. Điều quan trọng nhất là phải biến tiềm năng tiết kiệm thành dự án đầu tư, năng lượng tiết kiệm thành dòng tiền, và dòng tiền đó thành một giá trị có thể đo lường, xác minh, kiểm toán và tài trợ. Đó chính là nền tảng để thị trường dịch vụ và tài chính cho hiệu quả năng lượng phát triển bền vững tại Việt Nam. Tài liệu tham khảo 1. Quốc hội (2025), Luật số 77/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, ngày 18 tháng 6 năm 2025; 2. Chính phủ (2026), Nghị định số 30/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, ngày 21 tháng 01 năm 2026; 3. Thủ tướng Chính phủ (2019), Quyết định số 280/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả giai đoạn 2019-2030, ngày 13 tháng 3 năm 2019; 4. Bộ Chính trị (2025), Nghị quyết số 70-NQ/TW về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; ngày 20 tháng 8 năm 2025; 5. Bộ Công Thương, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (2024-2026), Các báo cáo và thông tin chính thức về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, tín dụng xanh.

Định hướng kế toán phát triển bền vững trong khu vực công: tiếp cận từ IPSAS 1, 22, 24, 33, 42, 47, 48 và 50

Phát triển bền vững đang trở thành định hướng trung tâm trong quản trị khu vực công, gắn với việc thực hiện các Mục tiêu Phát triển bền vững (SDGs), yêu cầu ứng phó biến đổi khí hậu, già hóa dân số, bất bình đẳng thu nhập và suy giảm tài nguyên. Trong bối cảnh đó, hệ thống kế toán và báo cáo tài chính khu vực công không chỉ có chức năng phản ánh tình hình tài chính hiện tại, mà còn phải cung cấp thông tin phục vụ đánh giá tính bền vững tài khóa, công bằng xã hội và bảo tồn vốn tự nhiên trong dài hạn. Trên cơ sở tham chiếu hệ thống Chuẩn mực kế toán công quốc tế (IPSAS), bài báo đề xuất đọc và phân tích một nhóm chuẩn mực, bao gồm IPSAS 1, 22, 24, 33, 42, 47, 48 và 50, dưới khung ba trụ cột phát triển bền vững là xã hội, môi trường và thể chế - bền vững tài khóa trong khu vực công. Bài viết làm rõ căn cứ lý luận để chuyển hóa trụ cột kinh tế trong mô hình phát triển bền vững kinh điển thành trụ cột thể chế - bền vững tài khóa phù hợp với bối cảnh tài chính công, đồng thời chỉ ra cách thức các chuẩn mực IPSAS nói trên góp phần định hình kế toán hướng tới phát triển bền vững. Từ đó, bài báo đề xuất một số hàm ý cho quá trình hoàn thiện chuẩn mực kế toán công Việt Nam (VPSAS) theo định hướng phát triển bền vững. Từ khóa: Phát triển bền vững, IPSAS, bền vững tài khóa, an sinh xã hội, tài nguyên khoáng sản Orientations for sustainability development accounting in the public Sector: an approach from IPSAS 1, 22, 24, 33, 42, 47, 48, and 50 Sustainable development is becoming a central orientation in public sector governance, linked to the implementation of the Sustainable Development Goals (SDGs), climate change response, population aging, income inequality, and resource depletion. In this context, public sector accounting and financial reporting systems must not only reflect the current financial position but also provide information for assessing fiscal sustainability, social equity, and long-term natural capital preservation. Based on the International Public Sector Accounting Standards (IPSAS) framework, this article analyzes a specific group of standards - including IPSAS 1, 22, 24, 33, 42, 47, 48, and 50 - under the framework of the three pillars of sustainable development: social, environmental, and institutional-fiscal sustainability. The paper clarifies the theoretical basis for transforming the "economic" pillar in the classic sustainability model into an "institutional-fiscal sustainability" pillar suitable for the public finance context. Furthermore, it demonstrates how these specific IPSAS standards contribute to shaping sustainability-oriented accounting. Finally, the article proposes implications for the refinement of Vietnamese Public Sector Accounting Standards (VPSAS) toward a sustainable development orientation. Keywords: Sustainable development, IPSAS, fiscal sustainability, social benefits, mineral resources. JEL classification: M41, H83, Q56 https://doi.org/10.65771/ati-jas.01202607 1. Đặt vấn đề Trong những thập niên gần đây, phát triển bền vững đã được khẳng định là định hướng lâu dài trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của nhiều quốc gia. Đối với khu vực công, yêu cầu này thể hiện qua việc thực hiện các Mục tiêu Phát triển bền vững (SDGs) của Liên Hợp Quốc, các cam kết về giảm phát thải khí nhà kính, thích ứng với biến đổi khí hậu, bảo đảm an sinh xã hội trong bối cảnh già hóa dân số, gia tăng bất bình đẳng, cũng như bảo vệ và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên. Những yêu cầu đó đặt ra áp lực ngày càng lớn đối với tài chính công, đồng thời đòi hỏi một hệ thống thông tin kế toán đủ sâu và rộng để hỗ trợ đánh giá toàn diện các chiều cạnh bền vững. Ủy ban Chuẩn mực Kế toán công quốc tế (IPSASB) đã ban hành một hệ thống chuẩn mực kế toán công trên cơ sở dồn tích và cơ sở tiền mặt, được coi là khung tham chiếu quan trọng cho cải cách kế toán khu vực công trên phạm vi toàn cầu. Gần đây, IPSASB đang phát triển các chuẩn mực báo cáo phát triển bền vững khu vực công, nhấn mạnh vai trò của thông tin tài chính và phi tài chính trong đánh giá đóng góp của khu vực công đối với phát triển bền vững. Tuy nhiên, ngay cả khi các chuẩn mực báo cáo bền vững này chưa hoàn tất, nhiều chuẩn mực IPSAS hiện hành đã chứa đựng các nội dung có thể được khai thác để phục vụ mục tiêu kế toán hướng tới phát triển bền vững. Trên nền tảng đó, bài báo tập trung phân tích một số chuẩn mực IPSAS có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới các vấn đề bền vững, cụ thể là IPSAS 1, 22, 24, 33, 42, 47, 48 và 50. Việc phân tích được đặt trong khung ba trụ cột phát triển bền vững được bài báo xác định cho bối cảnh khu vực công, gồm trụ cột xã hội, trụ cột môi trường và trụ cột thể chế - bền vững tài khóa. Mục tiêu của bài viết là làm rõ căn cứ lý luận để xác định ba trụ cột nói trên, chỉ ra cách thức các chuẩn mực được lựa chọn phản ánh từng trụ cột và đề xuất một số hàm ý cho việc hoàn thiện hệ thống chuẩn mực kế toán công ở Việt Nam theo định hướng phát triển bền vững. 2. Cơ sở lý thuyết về kế toán phát triển bền vững và khung ba trụ cột trong khu vực công Khái niệm kế toán phát triển bền vững thường được đề cập nhiều hơn trong khu vực doanh nghiệp, gắn với các báo cáo bền vững, báo cáo tích hợp và các chuẩn mực báo cáo liên quan đến môi trường - xã hội - quản trị (ESG). Tuy vậy, trong khu vực công, kế toán và báo cáo tài chính cũng đóng vai trò không kém phần quan trọng trong quá trình hoạch định và thực thi chính sách phát triển bền vững. Kế toán phát triển bền vững trong khu vực công có thể được hiểu như việc thiết kế và vận hành một hệ thống kế toán - báo cáo có khả năng ghi nhận đầy đủ chi phí, nghĩa vụ và nguồn lực liên quan tới các chương trình, chính sách phục vụ phát triển bền vững; đồng thời cung cấp thông tin tài chính và phi tài chính cần thiết để đánh giá tính bền vững tài khóa, mức độ công bằng xã hội và tác động tới vốn tự nhiên. Thay vì thay thế kế toán tài chính theo IPSAS, kế toán phát triển bền vững trong khu vực công được hình dung như một lớp phân tích bổ sung đặt trên dữ liệu kế toán hiện có, thông qua đó kết nối các dòng số liệu tài chính với các chỉ tiêu về kết quả, tác động xã hội và môi trường. Cách tiếp cận này đòi hỏi việc đọc và sử dụng các chuẩn mực IPSAS dưới một “lăng kính” mới, gắn với cấu trúc khái niệm của phát triển bền vững. Trong lý luận phát triển bền vững nói chung, mô hình ba trụ cột kinh tế, xã hội và môi trường được sử dụng phổ biến để mô tả các chiều cạnh cơ bản của phát triển bền vững. Trụ cột kinh tế nhấn mạnh đến tăng trưởng, hiệu quả và ổn định kinh tế; trụ cột xã hội đề cập đến công bằng, bao trùm, giảm nghèo và nâng cao chất lượng cuộc sống; trụ cột môi trường tập trung vào bảo vệ hệ sinh thái, sử dụng hợp lý và phục hồi tài nguyên thiên nhiên. Tuy nhiên, khi chuyển hóa mô hình này sang bối cảnh khu vực công, việc giữ nguyên cụm “trụ cột kinh tế” có thể chưa phản ánh đầy đủ đặc thù về mục tiêu và cơ chế vận hành của tài chính công. Khu vực công không theo đuổi mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, mà hoạt động trong khuôn khổ thể chế do Nhà nước thiết lập, với trọng tâm là bảo đảm ổn định vĩ mô, bền vững tài khóa và cung cấp dịch vụ công thiết yếu. Vì vậy, bài báo đề xuất chuyển hóa trụ cột kinh tế trong mô hình phát triển bền vững kinh điển thành trụ cột thể chế - bền vững tài khóa khi áp dụng vào khu vực công. Trụ cột này một mặt nhấn mạnh vai trò của khung thể chế, bao gồm hệ thống pháp luật, cơ chế ngân sách, tổ chức bộ máy, quy tắc minh bạch và trách nhiệm giải trình; mặt khác gắn trực tiếp với vấn đề bền vững tài khóa, thể hiện qua khả năng duy trì các chương trình chi tiêu công, an sinh xã hội và đầu tư dài hạn mà không đẩy gánh nặng quá mức sang các thế hệ tương lai. Dưới cách hiểu đó, ba trụ cột phát triển bền vững trong khu vực công được xác định là xã hội, môi trường và thể chế - bền vững tài khóa. Cách xác định này vừa kế thừa mô hình kinh tế - xã hội - môi trường, vừa điều chỉnh để tương thích với logic vận hành của tài chính công. Trong khuôn khổ bài viết, trụ cột xã hội được gắn với các chương trình an sinh xã hội và trợ giúp xã hội, được phản ánh tập trung qua chuẩn mực IPSAS 42 về phúc lợi xã hội. Trụ cột môi trường được tiếp cận chủ yếu thông qua chuẩn mực IPSAS 50 liên quan tới hoạt động thăm dò và đánh giá tài nguyên khoáng sản, với khả năng mở rộng sang các chuẩn mực tương lai về tài nguyên thiên nhiên. Trụ cột thể chế - bền vững tài khóa được hiện thân trong một nhóm chuẩn mực về trình bày báo cáo tài chính, công khai thông tin khu vực chính phủ chung, trình bày thông tin ngân sách, lần đầu áp dụng IPSAS, doanh thu và chi chuyển giao, cụ thể là IPSAS 1, 22, 24, 33, 47 và 48. Các phần tiếp theo sẽ phân tích nội dung của từng nhóm chuẩn mực dưới lăng kính ba trụ cột nói trên. 2.1. Trụ cột xã hội và vai trò của IPSAS 42 - Social Benefits Trụ cột xã hội của phát triển bền vững trong khu vực công gắn chặt với mục tiêu bảo đảm an sinh và công bằng xã hội. Các chương trình lương hưu, trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp người cao tuổi, hỗ trợ người khuyết tật, trợ giúp người nghèo và các hình thức chuyển giao xã hội khác là công cụ chủ yếu để Nhà nước can thiệp nhằm giảm thiểu rủi ro và bất bình đẳng trong xã hội. Tuy nhiên, chính những chương trình này cũng tạo ra các nghĩa vụ tài chính hiện tại và tiềm tàng rất lớn, có thể trở thành áp lực đối với bền vững tài khóa nếu không được nhận diện và quản lý đầy đủ. IPSAS 42 - Social Benefits ra đời nhằm quy định việc ghi nhận, đo lường và trình bày các khoản phúc lợi xã hội do Chính phủ và các đơn vị khu vực công cung cấp cho cá nhân và hộ gia đình. Chuẩn mực này tập trung vào các khoản chuyển giao nhằm đối phó với rủi ro xã hội như tuổi già, bệnh tật, thất nghiệp, nghèo đói và tàn tật. Bằng cách yêu cầu xác định các tiêu chí đủ điều kiện để được hưởng phúc lợi, thời điểm phát sinh nghĩa vụ, cách đo lường chi phí và nghĩa vụ liên quan, cùng với yêu cầu thuyết minh về bản chất, phạm vi và rủi ro của các chương trình, IPSAS 42 đưa các cam kết về an sinh xã hội vào vùng thông tin minh bạch hơn trên báo cáo tài chính khu vực công. Dưới góc độ phát triển bền vững, chuẩn mực này trước hết giúp phản ánh rõ hơn quy mô và cấu trúc của hệ thống phúc lợi xã hội, qua đó cho phép đánh giá mức độ bao phủ và mức độ hào phóng của các chương trình trợ giúp. Bên cạnh đó, việc ghi nhận nghĩa vụ theo các tiêu chí nhất định, thay vì chỉ dựa trên dòng tiền chi ra trong kỳ, cho phép nhận diện tốt hơn gánh nặng dài hạn mà hệ thống an sinh xã hội đặt lên tài chính công. Điều này đặc biệt quan trọng đối với các chương trình hưu trí và bảo hiểm xã hội trong bối cảnh già hóa dân số. Cuối cùng, các yêu cầu về thuyết minh giả định nhân khẩu học và kinh tế sử dụng trong đo lường nghĩa vụ tạo điều kiện để người sử dụng báo cáo tài chính đánh giá mức độ nhạy cảm của hệ thống an sinh xã hội trước những biến động về tăng trưởng, lạm phát, thị trường lao động và cấu trúc nhân khẩu. Có thể thấy, IPSAS 42 là điểm nối giữa kế toán tài chính và chính sách xã hội, đồng thời là công cụ quan trọng giúp hiện thực hóa trụ cột xã hội của phát triển bền vững trong khu vực công. Thông tin do chuẩn mực này tạo ra không chỉ phục vụ kiểm soát chi ngân sách ngắn hạn, mà còn là đầu vào quan trọng cho các phân tích về công bằng thế hệ và bền vững xã hội của hệ thống phúc lợi. 2.2. Trụ cột môi trường và vai trò của IPSAS 50 - Exploration for and Evaluation of Mineral Resources Trụ cột môi trường của phát triển bền vững liên quan trực tiếp đến việc bảo vệ hệ sinh thái, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và ứng phó với biến đổi khí hậu. Trong nhiều nền kinh tế, tài nguyên khoáng sản như dầu khí, khoáng sản kim loại và phi kim đóng góp đáng kể vào nguồn thu ngân sách nhà nước, song đồng thời đi kèm với rủi ro suy giảm tài nguyên, tổn hại môi trường và biến động mạnh về thu ngân sách do biến động giá cả quốc tế. Đối với khu vực công, minh bạch hóa thông tin về hoạt động khai thác tài nguyên là tiền đề để hoạch định chính sách khai thác và phân bổ nguồn thu theo hướng bền vững. IPSAS 50 - Exploration for and Evaluation of Mineral Resources - quy định việc ghi nhận, đo lường và trình bày các chi phí và tài sản liên quan đến hoạt động thăm dò, đánh giá tài nguyên khoáng sản. Chuẩn mực cho phép phân loại và ghi nhận tài sản thăm dò và đánh giá, xác định giá gốc, sau đó áp dụng các phương pháp đo lường phù hợp sau ghi nhận. Mặc dù, tập trung vào giai đoạn thăm dò và đánh giá, chứ không bao trùm toàn bộ vòng đời dự án khai thác, IPSAS 50 vẫn có ý nghĩa quan trọng dưới góc độ trụ cột môi trường và tài nguyên. Trước hết, chuẩn mực góp phần minh bạch hóa quy mô chi phí mà khu vực công và các đơn vị có liên quan bỏ ra cho việc tìm kiếm và đánh giá tài nguyên khoáng sản, qua đó hỗ trợ đánh giá hiệu quả của chính sách khai thác và chiến lược sử dụng tài nguyên. Khi kết hợp với các chuẩn mực về dự phòng và nghĩa vụ hiện tại, IPSAS 50 cũng tạo nền tảng để ghi nhận đầy đủ hơn các nghĩa vụ môi trường gắn với hoạt động khai thác như phục hồi môi trường sau khai thác, xử lý chất thải và bồi thường thiệt hại. Ngoài ra, việc chuẩn hóa thông tin về tài sản thăm dò và đánh giá có thể phục vụ tốt hơn cho các phân tích rộng hơn về vốn tự nhiên và tài sản môi trường của quốc gia, nhất là khi các chuẩn mực mới về tài nguyên thiên nhiên hữu hình được ban hành. Như vậy, mặc dù chưa phải là một chuẩn mực “môi trường” theo nghĩa hẹp, IPSAS 50 tạo ra một mảnh ghép quan trọng giúp hệ thống kế toán công tiệm cận với khái niệm kế toán vốn tự nhiên, đồng thời cung cấp dữ liệu phục vụ thảo luận về việc sử dụng nguồn thu từ tài nguyên để thúc đẩy chuyển dịch sang các mô hình phát triển xanh và phát thải các-bon thấp. 2.3 Trụ cột thể chế - bền vững tài khóa và vai trò của các IPSAS 1, 22, 24, 33, 47, 48 Trụ cột thể chế - bền vững tài khóa là trụ cột được thể hiện rõ nét nhất trong hệ thống IPSAS. Trụ cột này gắn với yêu cầu thiết lập một khuôn khổ thể chế tài chính công minh bạch, có trách nhiệm giải trình và định hướng dài hạn, qua đó bảo đảm khả năng duy trì các chính sách xã hội và môi trường mà không làm suy giảm ổn định tài khóa và kinh tế vĩ mô. IPSAS 1 - Presentation of Financial Statements - đặt nền tảng cho cấu trúc và nội dung báo cáo tài chính khu vực công trên cơ sở dồn tích. Các nguyên tắc về trình bày trung thực, hợp lý, khả năng so sánh, trọng yếu và thuyết minh đầy đủ giúp người sử dụng có được bức tranh toàn diện hơn về vị thế tài chính, kết quả hoạt động và dòng tiền của đơn vị công. Đây là điểm xuất phát cho mọi phân tích về bền vững tài khóa, bởi chỉ khi tài sản, nợ phải trả và tài sản thuần được ghi nhận đầy đủ thì mới có thể đánh giá được mức độ lành mạnh của tài chính công. Bổ sung cho IPSAS 1, IPSAS 22 - Disclosure of Financial Information about the General Government Sector - yêu cầu trình bày thông tin về khu vực Chính phủ chung, tách bạch khỏi khu vực doanh nghiệp nhà nước và các thực thể khác. Quy định này giúp xác định rõ phạm vi khu vực công “cốt lõi” chịu trách nhiệm thực hiện chính sách công và SDGs, giảm thiểu khả năng chuyển các nghĩa vụ tài chính ra ngoài bảng cân đối thông qua các thực thể bán công hoặc ngoài ngân sách. Nhờ đó, người sử dụng báo cáo tài chính có cơ sở tốt hơn để đánh giá bền vững tài khóa ở cấp độ toàn Chính phủ. IPSAS 24 - Presentation of Budget Information in Financial Statements - là một mắt xích quan trọng khác trong trụ cột thể chế - bền vững tài khóa. Chuẩn mực này yêu cầu thông tin về dự toán ngân sách được phê duyệt và số thực hiện ngân sách phải được trình bày và giải thích trên báo cáo tài chính. Việc so sánh giữa dự toán và thực tế cho phép đánh giá kỷ luật tài khóa, mức độ tuân thủ các cam kết ngân sách, cũng như ưu tiên chi tiêu cho các mục tiêu phát triển bền vững. Khi được kết hợp với các báo cáo phân tích bền vững tài khóa trung và dài hạn, IPSAS 24 góp phần gắn kết chu trình ngân sách với định hướng phát triển bền vững. Một bước ngoặt quan trọng về thể chế được thể hiện qua IPSAS 33 - First-time Adoption of Accrual Basis IPSAS. Chuẩn mực này hướng dẫn các quốc gia chuyển từ cơ sở tiền mặt hoặc cơ sở lai sang hệ thống kế toán dồn tích theo IPSAS. Về bản chất, quá trình chuyển đổi này cho phép ghi nhận đầy đủ hơn các nghĩa vụ dài hạn như nợ công, nghĩa vụ bảo hiểm xã hội, nghĩa vụ theo hợp đồng đối tác công - tư và các nghĩa vụ môi trường. Điều đó giúp đưa các rủi ro dài hạn vào “tầm ngắm” của nhà hoạch định chính sách, là tiền đề không thể thiếu cho phân tích bền vững tài khóa. Như vậy, IPSAS 33 không chỉ là chuẩn mực kỹ thuật, mà còn thể hiện một bước chuyển quan trọng trong tư duy thể chế hướng về trụ cột thể chế - bền vững tài khóa. Cuối cùng, hai chuẩn mực mới là IPSAS 47 - Revenue và IPSAS 48 - Transfer Expenses có vai trò đặc biệt trong việc phản ánh các dòng tài chính phục vụ phát triển bền vững. IPSAS 47 chuẩn hóa cách ghi nhận doanh thu từ các giao dịch trao đổi và không trao đổi như thuế, phí, viện trợ và các nguồn tài trợ khác, trong khi IPSAS 48 quy định việc ghi nhận chi chuyển giao, bao gồm các khoản trợ cấp, viện trợ, tài trợ cho các chương trình xã hội và môi trường. Phần lớn các chương trình liên quan đến an sinh xã hội, y tế, giáo dục, môi trường và biến đổi khí hậu đều được tài trợ thông qua các khoản chi chuyển giao này. Việc ghi nhận chính xác thời điểm, số lượng và điều kiện kèm theo của các khoản thu và chi cho phép phân tích mức độ ổn định và bền vững của nguồn lực tài chính dành cho từng trụ cột xã hội và môi trường, đồng thời tăng cường trách nhiệm giải trình về việc sử dụng ngân sách cho các mục tiêu phát triển bền vững. Như vậy, nhóm chuẩn mực IPSAS 1, 22, 24, 33, 47 và 48 cùng nhau tạo nên một hạ tầng thể chế cho trụ cột thể chế - bền vững tài khóa, bảo đảm rằng các quyết định liên quan đến các trụ cột xã hội và môi trường được đặt trong một khuôn khổ tài chính minh bạch và có tầm nhìn dài hạn. 3. Thảo luận và hàm ý đối với việc phát triển kế toán phát triển bền vững trong khu vực công Phân tích trên cho thấy, mặc dù hiện nay chưa tồn tại một chuẩn mực IPSAS riêng biệt dành cho phát triển bền vững, nhưng có thể đọc và vận dụng hệ thống chuẩn mực hiện hành theo khung ba trụ cột phát triển bền vững là xã hội, môi trường và thể chế - bền vững tài khóa. Trụ cột xã hội được hiện thực hóa chủ yếu thông qua chuẩn mực về lợi ích xã hội, trụ cột môi trường gắn với chuẩn mực về thăm dò và đánh giá tài nguyên khoáng sản, còn trụ cột thể chế - bền vững tài khóa được thể hiện qua các chuẩn mực về trình bày, ngân sách, lần đầu áp dụng, doanh thu và chi chuyển giao. Cách tiếp cận này gợi mở một số định hướng: Thứ nhất, kế toán phát triển bền vững trong khu vực công không nhất thiết đòi hỏi một bộ chuẩn mực hoàn toàn mới, mà trước hết nằm ở cách “đọc” và lồng ghép các chuẩn mực hiện có trong phân tích chính sách. Thứ hai, các chuẩn mực liên quan đến an sinh xã hội và tài nguyên khoáng sản cho thấy khả năng mở rộng phạm vi kế toán công sang các vấn đề xã hội và môi trường trọng yếu, qua đó thu hẹp khoảng cách giữa kế toán tài chính và các yêu cầu quản trị bền vững. Thứ ba, trụ cột thể chế - bền vững tài khóa được củng cố nhờ việc chuyển sang cơ sở dồn tích, tăng cường minh bạch và kết nối báo cáo tài chính với thông tin ngân sách, qua đó nâng cao năng lực đánh giá rủi ro và bền vững tài khóa. Đối với Việt Nam, quá trình xây dựng và triển khai Chuẩn mực kế toán công Việt Nam (VPSAS) là cơ hội quan trọng để lồng ghép mạnh mẽ hơn yêu cầu phát triển bền vững vào hệ thống kế toán công. Việc nội địa hóa các chuẩn mực tương ứng với IPSAS 42 và 50 cần có sự nhìn nhận rõ ràng rằng đây không chỉ là các chuẩn mực kỹ thuật, mà còn là công cụ để phản ánh và quản lý các trụ cột xã hội và môi trường. Đồng thời, việc hoàn thiện các chuẩn mực tương ứng với IPSAS 1, 22, 24, 33, 47 và 48 cần được gắn với cải cách thể chế tài chính công, tăng cường minh bạch, kỷ luật ngân sách và phân tích bền vững tài khóa. Bên cạnh phương diện chuẩn mực, việc đào tạo nguồn nhân lực kế toán công cũng cần được điều chỉnh theo hướng nhấn mạnh mối liên hệ giữa IPSAS/VPSAS và phát triển bền vững. Các học phần và chương trình bồi dưỡng về kế toán công nên tích hợp nội dung về ba trụ cột phát triển bền vững, qua đó hình thành tư duy rằng dữ liệu kế toán không chỉ phục vụ lập báo cáo tài chính, mà còn là nền tảng cho phân tích xã hội, môi trường và thể chế. 4. Kết luận Bài báo đã đề xuất và sử dụng khung ba trụ cột phát triển bền vững gồm xã hội, môi trường và thể chế - bền vững tài khóa để đọc và phân tích một số chuẩn mực kế toán công quốc tế, cụ thể là IPSAS 1, 22, 24, 33, 42, 47, 48 và 50. Trên cơ sở kế thừa mô hình kinh tế - xã hội - môi trường và điều chỉnh phù hợp với bối cảnh khu vực công, trụ cột kinh tế được chuyển hóa thành trụ cột thể chế - bền vững tài khóa, phản ánh vai trò trung tâm của thể chế tài chính công và tính bền vững tài khóa trong việc bảo đảm phát triển bền vững. Phân tích cho thấy trụ cột xã hội được thể hiện rõ qua chuẩn mực về lợi ích xã hội, trụ cột môi trường được thể hiện thông qua chuẩn mực về thăm dò và đánh giá tài nguyên khoáng sản, trong khi trụ cột thể chế - bền vững tài khóa được hiện thân qua nhóm chuẩn mực về trình bày báo cáo tài chính, công khai khu vực chính phủ chung, trình bày thông tin ngân sách, lần đầu áp dụng IPSAS, doanh thu và chi chuyển giao. Cách tiếp cận này cho phép hiểu rõ hơn tiềm năng của hệ thống IPSAS trong việc hỗ trợ kế toán phát triển bền vững trong khu vực công. Đối với Việt Nam, việc tiếp tục hoàn thiện VPSAS không chỉ nên được nhìn nhận như một quá trình chuyển đổi kỹ thuật, mà còn là cơ hội để tái thiết kế hệ thống thông tin kế toán công theo hướng phục vụ tốt hơn mục tiêu phát triển bền vững trên cả ba trụ cột xã hội, môi trường và thể chế - bền vững tài khóa. Các nghiên cứu tiếp theo có thể tập trung xây dựng các mô hình chỉ tiêu, khung báo cáo hoặc nghiên cứu định lượng dựa trên dữ liệu IPSAS/VPSAS nhằm đánh giá cụ thể hơn đóng góp của hệ thống kế toán công vào việc thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững ở cấp quốc gia và địa phương. Tài liệu tham khảo: 1. International Public Sector Accounting Standards Board (IPSASB). (2015). IPSAS 33, First-time Adoption of Accrual Basis International Public Sector Accounting Standards (IPSAS). New York, NY: International Federation of Accountants; 2. International Public Sector Accounting Standards Board (IPSASB). (2019). IPSAS 42, Social Benefits. New York, NY: International Federation of Accountants; 3. International Public Sector Accounting Standards Board (IPSASB). (2024). IPSAS 50, Exploration for and Evaluation of Mineral Resources. New York, NY: International Federation of Accountants; 4. International Public Sector Accounting Standards Board (IPSASB). (2023). Reporting Sustainability Program Information-Amendments to RPGs 1 and 3: Additional Non-Authoritative Guidance. New York, NY: International Federation of Accountants; 5. International Public Sector Accounting Standards Board (IPSASB). (2022). Consultation Paper: Advancing Public Sector Sustainability Reporting. New York, NY: International Federation of Accountants; 6. International Public Sector Accounting Standards Board (IPSASB). (2025). 2025 Handbook of International Public Sector Accounting Pronouncements. New York, NY: International Federation of Accountants; 7. International Public Sector Accounting Standards Board (IPSASB). (2024). 2024-2028 Strategy and Work Program: Strengthening Public Financial Management and Sustainable Development Globally. New York, NY: International Federation of Accountants; 8. United Nations. (2015). Transforming our world: The 2030 Agenda for Sustainable Development (A/RES/70/1). New York, NY: United Nations; 9. Wu, J., Guo, S., Huang, H., Liu, W., & Xiang, Y. (2018). Information and communications technologies for sustainable development goals: State-of-the-art, needs and perspectives. arXiv preprint arXiv:1802.09345. Tác giả: ThS Nguyễn Thị Cảnh Hoa - Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội; ThS Nguyễn Thị Xuân Quỳnh - Trường Đại học Thương mại. (Theo Tạp chí Nghiên cứu Khoa học kiểm toán, số tháng 01/2026)

Biến năng lượng tiết kiệm thành dòng tiền: cần hình thành thị trường dịch vụ và tài chính cho hiệu quả năng lượng

Trong bối cảnh nhu cầu năng lượng tiếp tục tăng nhanh, sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không thể chỉ dừng ở vận động doanh nghiệp và người dân “tiết kiệm điện”, mà cần được nhìn nhận như một thị trường đầu tư. Muốn thị trường này vận hành, Việt Nam cần phát triển mạnh doanh nghiệp dịch vụ năng lượng – ESCO, mở rộng các công cụ tài chính phù hợp và đặc biệt phải xây dựng hệ thống đo lường, xác minh, kiểm toán đủ tin cậy để biến năng lượng tiết kiệm được thành một dòng tiền có thể định giá và tài trợ. Tiết kiệm năng lượng phải trở thành một nguồn lực phát triển Áp lực bảo đảm năng lượng cho tăng trưởng đang ngày càng lớn. Theo Tập đoàn Điện lực Việt Nam, sản lượng điện thương phẩm năm 2025 đạt khoảng 287,5 tỷ kWh. Sáu tháng đầu năm 2026, điện thương phẩm vượt 152,5 tỷ kWh, tăng 10,2% so với cùng kỳ. Ngày 25/6/2026, hệ thống điện quốc gia ghi nhận sản lượng tiêu thụ kỷ lục khoảng 1,215 tỷ kWh trong một ngày, công suất cực đại trên 57.500 MW. Những con số này cho thấy cùng với đầu tư nguồn và lưới điện, Việt Nam phải coi tiết kiệm năng lượng là một cấu phần quan trọng của bảo đảm an ninh năng lượng. Dư địa còn rất lớn. Bộ Công Thương đánh giá ngành công nghiệp có tiềm năng tiết kiệm khoảng 20%-30% năng lượng, các công trình xây dựng khoảng 30%-35%. Chương trình quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả giai đoạn 2019-2030 đặt mục tiêu đến năm 2030 tiết kiệm 8%-10% tổng tiêu thụ năng lượng toàn quốc. Nếu khai thác được phần tiềm năng này, lợi ích không chỉ nằm ở hóa đơn điện của từng doanh nghiệp. Một đơn vị điện không phải tiêu thụ đồng nghĩa với việc nền kinh tế giảm áp lực đầu tư nguồn điện, truyền tải, nhiên liệu, công suất dự phòng và giảm phát thải. Theo cách tiếp cận đó, tiết kiệm năng lượng có thể được coi như một dạng “nguồn năng lượng không phải sản xuất”. Vấn đề còn lại là phải biến tiềm năng kỹ thuật thành dự án có khả năng tạo dòng tiền và thu hút vốn. ESCO – biến khoản tiết kiệm tương lai thành vốn đầu tư hiện tại Một trong những công cụ quan trọng là phát triển mô hình công ty dịch vụ năng lượng - ESCO. ESCO có thể thực hiện từ kiểm toán năng lượng, xác định giải pháp, thiết kế, lựa chọn thiết bị, triển khai công nghệ đến vận hành, bảo trì và thu xếp vốn. Điểm khác biệt quan trọng là doanh nghiệp sử dụng năng lượng không nhất thiết phải tự bỏ toàn bộ vốn đầu tư ban đầu. Chi phí có thể được hoàn trả từ khoản năng lượng tiết kiệm được trong những năm sau. Giả sử một nhà máy đang chi 100 tỷ đồng mỗi năm cho điện và nhiên liệu. Sau khi cải tạo hệ thống động cơ, khí nén, lò hơi và quản lý năng lượng, chi phí giảm còn 85 tỷ đồng. Khoản 15 tỷ đồng tiết kiệm mỗi năm có thể trở thành nguồn hoàn vốn cho dự án và trả cho ESCO. Về bản chất, ESCO giúp chuyển dòng tiền tiết kiệm trong tương lai thành nguồn vốn đầu tư ở hiện tại. Đây là cơ chế đặc biệt phù hợp với những doanh nghiệp có tiềm năng tiết kiệm lớn nhưng thiếu vốn hoặc không muốn dành vốn lưu động cho việc cải tạo thiết bị. Khung pháp lý đã có bước tiến quan trọng khi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả năm 2025, có hiệu lực từ ngày 01/01/2026, quy định rõ hơn về tổ chức dịch vụ năng lượng. Nghị định số 30/2026/NĐ-CP tiếp tục cụ thể hóa các nội dung liên quan đến kiểm toán năng lượng, tổ chức dịch vụ năng lượng và Quỹ thúc đẩy sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả. Tuy nhiên, có hành lang pháp lý chưa đồng nghĩa thị trường ESCO sẽ tự phát triển. Điểm nghẽn lớn nhất nằm ở khả năng xác định chính xác năng lượng thực sự tiết kiệm được là bao nhiêu. Không đo được thì không thể hình thành dòng tiền Nếu mức tiêu thụ điện của một doanh nghiệp giảm 10% so với năm trước, chưa thể kết luận toàn bộ mức giảm đó là kết quả của dự án tiết kiệm năng lượng. Sản lượng có thể giảm; số giờ vận hành thay đổi; thời tiết khác đi; cơ cấu sản phẩm có thể thay đổi hoặc một dây chuyền sản xuất đã tạm dừng. Vì vậy, phải bóc tách được phần giảm tiêu thụ do chính giải pháp tiết kiệm năng lượng mang lại. Đây là vai trò của cơ chế đo lường và xác minh - M&V. Một hệ thống M&V tin cậy phải xác định được mức tiêu thụ cơ sở trước đầu tư, các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu năng lượng, mức tiêu thụ sau đầu tư và phương pháp điều chỉnh trong trường hợp sản lượng, thời tiết hoặc điều kiện vận hành thay đổi. Nếu không làm rõ được những yếu tố này, ESCO và doanh nghiệp dễ phát sinh tranh chấp; ngân hàng cũng khó xác định chính xác dòng tiền dành cho trả nợ. Dưới góc nhìn kiểm toán, M&V chính là hạ tầng thông tin của thị trường hiệu quả năng lượng. Chuỗi logic rất rõ: không đo được thì không xác minh được; không xác minh được thì không xác định được dòng tiền; không xác định được dòng tiền thì khó tài trợ dự án. Do đó, Việt Nam cần sớm chuẩn hóa phương pháp xây dựng đường cơ sở, tiêu chuẩn đo lường, phương pháp M&V, hợp đồng ESCO mẫu, cơ chế chia sẻ lợi ích, phân bổ rủi ro và xử lý tranh chấp. Đây là “hạ tầng mềm” nhưng có ý nghĩa không kém hạ tầng kỹ thuật. Ngân hàng phải biết cho vay dựa trên dòng tiền tiết kiệm Một điểm nghẽn khác là phương thức tài trợ. Nhiều dự án hiệu quả năng lượng có quy mô vừa và nhỏ. Thiết bị sau đầu tư thường được gắn vào dây chuyền sản xuất và không phải lúc nào cũng có giá trị lớn nếu xử lý như tài sản bảo đảm độc lập. Nếu ngân hàng chỉ áp dụng tư duy cho vay dựa chủ yếu vào tài sản thế chấp, nhiều dự án có khả năng sinh lời tốt vẫn khó tiếp cận vốn. Trong khi đó, tài sản quan trọng nhất của dự án ESCO chính là dòng tiền tiết kiệm năng lượng trong tương lai. Hệ thống tín dụng vì vậy cần từng bước xây dựng năng lực thẩm định riêng cho các dự án hiệu quả năng lượng, trong đó đánh giá lịch sử tiêu thụ năng lượng, chất lượng thiết bị, công nghệ, đường cơ sở, phương án M&V, năng lực của ESCO, thời gian hoàn vốn và độ ổn định của khoản tiết kiệm. Việt Nam đã có nền tảng nhất định cho hướng đi này. Theo Ngân hàng Nhà nước, đến cuối năm 2024, dư nợ tín dụng xanh đạt khoảng 680 nghìn tỷ đồng, chiếm hơn 4,3% tổng dư nợ toàn nền kinh tế. Tuy nhiên, tín dụng cho hiệu quả năng lượng cần được phát triển thành một phân khúc rõ hơn. Bên cạnh nguồn vốn ngân hàng, có thể nghiên cứu bảo lãnh tín dụng, quỹ chia sẻ rủi ro, cho thuê tài chính đối với thiết bị tiết kiệm năng lượng và cơ chế gộp nhiều dự án nhỏ thành danh mục để giảm chi phí thẩm định. Nếu dự án được tiêu chuẩn hóa tốt, ngân hàng sẽ không phải đánh giá lại từ đầu từng máy nén khí, từng động cơ hoặc hệ thống điều hòa, mà có thể tài trợ theo nhóm công nghệ và các tiêu chí rủi ro đã được chuẩn hóa. Kiểm toán năng lượng tạo niềm tin cho phần giá trị “không nhìn thấy” Hiệu quả năng lượng có đặc điểm rất khác với nhiều loại đầu tư khác. “Sản phẩm” của dự án không phải một hàng hóa hữu hình, mà là phần năng lượng không còn phải tiêu thụ. Chính vì vậy, chất lượng dữ liệu, kiểm toán năng lượng và xác minh độc lập có vai trò đặc biệt quan trọng. Kiểm toán năng lượng không nên chỉ được xem là một thủ tục để doanh nghiệp hoàn thành nghĩa vụ pháp lý. Nó phải giúp xác định chính xác các khu vực sử dụng nhiều năng lượng, tiềm năng tiết kiệm, mức đầu tư, hiệu quả tài chính, thời gian hoàn vốn và rủi ro công nghệ. Đối với ngân hàng, báo cáo kiểm toán năng lượng và kết quả M&V đáng tin cậy giúp giảm bất cân xứng thông tin. Đối với doanh nghiệp và ESCO, xác minh độc lập giúp hạn chế tranh chấp. Đối với các chương trình sử dụng ngân sách nhà nước, quỹ tài chính nhà nước, vốn ưu đãi hoặc bảo lãnh của Nhà nước, yêu cầu kiểm toán còn cao hơn. Không thể chỉ đánh giá dự án qua việc “giải ngân đúng quy định”, mà phải trả lời thêm: nguồn lực công đã tạo ra bao nhiêu kWh tiết kiệm, giảm bao nhiêu chi phí, giảm bao nhiêu công suất đỉnh, giảm bao nhiêu phát thải và hiệu quả đó có tương xứng với số vốn đã bỏ ra hay không. Đây chính là cách tiếp cận của kiểm toán hoạt động đối với chính sách năng lượng trong nền kinh tế xanh. Kiểm toán vì vậy không chỉ làm nhiệm vụ hậu kiểm, mà còn góp phần tạo niềm tin để vốn tư nhân tham gia thị trường. Cần một hệ sinh thái thay vì những dự án đơn lẻ Nghị quyết số 70-NQ/TW ngày 20/8/2025 của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả. Để chủ trương đó đi vào thực tế, chính sách cần chuyển mạnh từ vận động tiết kiệm sang hình thành một hệ sinh thái đầu tư cho hiệu quả năng lượng. Trước hết, cần hoàn thiện các quy định về ESCO, hợp đồng hiệu quả năng lượng và trách nhiệm của các bên. Thứ hai, phải thống nhất tiêu chuẩn M&V, phương pháp xác lập đường cơ sở và phát triển hệ thống tổ chức xác minh độc lập. Thứ ba, cần mở rộng tín dụng xanh, bảo lãnh và các công cụ chia sẻ rủi ro để đưa vốn ngân hàng vào các dự án hiệu quả năng lượng. Thứ tư, cần xây dựng cơ sở dữ liệu về suất đầu tư, tỷ lệ tiết kiệm và thời gian hoàn vốn của các nhóm công nghệ phổ biến, tạo căn cứ cho ngân hàng, doanh nghiệp và ESCO đánh giá dự án. Cuối cùng, cần tăng cường kiểm toán hoạt động đối với các chương trình sử dụng nguồn lực nhà nước để bảo đảm mỗi đồng vốn hỗ trợ thực sự tạo ra kết quả tiết kiệm có thể đo lường và kiểm chứng. Mục tiêu cuối cùng phải là tạo ra một thị trường trong đó doanh nghiệp nhìn thấy lợi ích kinh tế khi tiết kiệm năng lượng; ESCO có thể sống bằng năng lực tạo ra phần tiết kiệm; ngân hàng có thể cho vay dựa trên dòng tiền tiết kiệm; còn Nhà nước có thể giám sát hiệu quả bằng các chuẩn mực đo lường và kiểm toán minh bạch. Khi đó, một kWh không phải tiêu thụ sẽ có giá trị kinh tế không kém một kWh phải đầu tư để sản xuất thêm. Điều quan trọng nhất là phải biến tiềm năng tiết kiệm thành dự án đầu tư, năng lượng tiết kiệm thành dòng tiền, và dòng tiền đó thành một giá trị có thể đo lường, xác minh, kiểm toán và tài trợ. Đó chính là nền tảng để thị trường dịch vụ và tài chính cho hiệu quả năng lượng phát triển bền vững tại Việt Nam. Tài liệu tham khảo 1. Quốc hội (2025), Luật số 77/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, ngày 18 tháng 6 năm 2025; 2. Chính phủ (2026), Nghị định số 30/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, ngày 21 tháng 01 năm 2026; 3. Thủ tướng Chính phủ (2019), Quyết định số 280/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả giai đoạn 2019-2030, ngày 13 tháng 3 năm 2019; 4. Bộ Chính trị (2025), Nghị quyết số 70-NQ/TW về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; ngày 20 tháng 8 năm 2025; 5. Bộ Công Thương, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (2024-2026), Các báo cáo và thông tin chính thức về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, tín dụng xanh.

Xác định giá đất – những vướng mắc từ thực tiễn

Đất đai và tài sản trên đất hiện là nhóm tài sản có giá trị lớn nhất trong nền kinh tế quốc dân và cũng là nhóm tài sản phát sinh nhiều hoạt động xác định giá trị nhất. Do đó, xác định giá đất là căn cứ quan trọng để xác định nguồn thu ngân sách song vẫn còn nhiều vướng mắc trong quá trình thực hiện. Cơ sở pháp lý và căn cứ xác định giá đất Đất đai và tài sản trên đất hiện là nhóm tài sản có giá trị lớn nhất trong nền kinh tế quốc dân và cũng là nhóm tài sản phát sinh nhiều hoạt động xác định giá trị nhất. Theo thống kê của Cục Quản lý giá - Bộ Tài chính, bất động sản luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu hồ sơ thẩm định giá của các doanh nghiệp thẩm định giá. Hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt động xác định giá trị tài sản đang được hoàn thiện theo hướng ngày càng chuyên nghiệp và tiệm cận với thông lệ quốc tế, đặc biệt là lĩnh vực thẩm định giá. Luật Giá 2023 có hiệu lực từ ngày 01/7/2024 đã tạo lập khuôn khổ pháp lý mới cho hoạt động thẩm định giá; đồng thời, song song với đó, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 78/2024/NĐ-CP ngày 01/7/2024 quy định chi tiết một số điều của Luật Giá về hoạt động thẩm định giá. Cùng với đó, Bộ Tài chính đã ban hành các Thông tư quy định hệ thống Chuẩn mực thẩm định giá Việt Nam về đạo đức nghề nghiệp, thu thập và phân tích thông tin, hồ sơ thẩm định giá, phạm vi công việc, cách tiếp cận thị trường, chi phí, thu nhập, thẩm định giá bất động sản, doanh nghiệp, tài sản vô hình... Đối với đất đai và tài sản trên đất, Luật Đất đai 2024 quy định khung pháp lý cơ bản cho hoạt động định giá đất; trong đó phương pháp định giá đất theo nguyên tắc thị trường. Việc định giá đất phải bảo đảm khách quan, minh bạch, độc lập và hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, người sử dụng đất và nhà đầu tư. Giá đất được xác định trên cơ sở mục đích sử dụng đất, thời hạn sử dụng đất, thông tin đầu vào, yếu tố ảnh hưởng đến giá đất và các quy định pháp luật liên quan đến thời điểm định giá. Luật Đất đai 2024 quy định có 04 phương pháp định giá đất gồm: phương pháp so sánh, phương pháp thu nhập, phương pháp thặng dư và phương pháp hệ số điều chỉnh giá đất. Mỗi phương pháp được áp dụng đối với các trường hợp và điều kiện cụ thể nhằm bảo đảm phù hợp với đặc điểm của thửa đất, khu đất cần định giá. Các phương pháp này được sử dụng để xác định giá đất cụ thể và xây dựng bảng giá đất. Trường hợp áp dụng phương pháp so sánh, thu nhập hoặc hệ số điều chỉnh mà kết quả thấp hơn giá đất trong bảng giá đất thì phải sử dụng mức giá trong bảng giá đất. Việc lựa chọn phương pháp định giá đất do tổ chức thực hiện định giá đề xuất và Hội đồng thẩm định giá đất cụ thể quyết định. Luật Đất đai 2024 cũng cho phép Chính phủ quy định phương pháp định giá đất khác sau khi được sự đồng ý của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, điều này góp phần linh hoạt hơn trong quá trình tổ chức thực hiện. Hoạt động xác định giá trị đất đai và tài sản trên đất hiện nay không còn là vấn đề thuần túy về kỹ thuật thẩm định giá, mà đã trở thành một vấn đề quản trị nhà nước tổng hợp, đòi hỏi sự phối hợp giữa nhiều ngành, nhiều lĩnh vực và nhiều chủ thể khác nhau. Thông tin đầu vào để định giá đất là giá đất đã hoàn thành chuyển nhượng trên thị trường, giá đất đã trúng đấu giá quyền sử dụng đất sau khi hoàn thành nghĩa vụ tài chính, thông tin về doanh thu, chi phí, thu nhập từ việc sử dụng đất; được thu thập từ cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai, cơ sở dữ liệu quốc gia về giá; Văn phòng đăng ký đất đai; cơ quan thuế; đơn vị, tổ chức thực hiện việc đấu giá quyền sử dụng đất, đấu giá tài sản; sàn giao dịch bất động sản, doanh nghiệp bất động sản; thông tin thu thập qua điều tra, khảo sát. Thông tin giá đất đã hoàn thành chuyển nhượng trên thị trường, đã trúng đấu giá quyền sử dụng đất sau khi hoàn thành nghĩa vụ tài chính là các thông tin được hình thành trong thời gian 24 tháng tính từ thời điểm định giá đất trở về trước và ưu tiên sử dụng thông tin gần nhất với thời điểm định giá đất. Để xác định giá đất cần căn cứ vào bảng giá đất, trong đó có tính đến hệ số điều chỉnh giá đất. Bảng giá đất được xây dựng theo loại đất, khu vực, vị trí. Đối với khu vực có bản đồ địa chính dạng số và cơ sở dữ liệu giá đất thì được xây dựng bảng giá đất đến từng thửa đất. Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định bảng giá đất, công bố và áp dụng từ ngày 01/01/2026; sửa đổi, bổ sung bảng giá đất khi cần thiết. Hệ số điều chỉnh giá đất là tỷ lệ tăng, giảm giá đất của các loại đất tương ứng với khu vực, vị trí đã quy định trong bảng giá đất. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định ban hành hệ số điều chỉnh giá đất áp dụng từ ngày 01 tháng 01 hằng năm; trường hợp cần thiết, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định sửa đổi, bổ sung hệ số điều chỉnh giá đất trong năm hoặc cho từng khu vực, vị trí để áp dụng. Hệ số điều chỉnh giá đất bao gồm: (i) hệ số điều chỉnh mức biến động thị trường, (ii) hệ số điều chỉnh theo quy hoạch và (iii) hệ số điều chỉnh theo yếu tố khác ảnh hưởng đến giá đất. Hệ số điều chỉnh giá đất được phân chia thành các mức khác nhau. Những vướng mắc khi xác định giá đất Việc bãi bỏ khung giá đất và chuyển sang cơ chế xây dựng bảng giá đất hằng năm được đánh giá là bước đổi mới quan trọng nhằm từng bước đưa giá đất do Nhà nước quy định tiệm cận với giá đất thị trường. Bên cạnh những thuận lợi, trong quá trình triển khai thực hiện các quy định mới về giá đất vẫn còn phát sinh khó khăn, vướng mắc đó là việc thu thập thông tin đầu vào phục vụ định giá đất. Thực tế cho thấy nhiều giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất vẫn kê khai giá trị thấp hơn giá giao dịch thực tế, dẫn đến nguồn dữ liệu thị trường chưa phản ánh đầy đủ giá trị thực của đất đai. Hệ thống cơ sở dữ liệu đất đai, cơ sở dữ liệu giá đất tại nhiều địa phương còn đang trong quá trình hoàn thiện, chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu về tính đồng bộ, cập nhật và chia sẻ thông tin phục vụ công tác định giá. Việc áp dụng các phương pháp định giá đất theo quy định mới đặt ra yêu cầu về chuyên môn, nghiệp vụ, trong khi đó, đội ngũ cán bộ làm công tác định giá đất ở một số địa phương còn thiếu về số lượng và hạn chế về kinh nghiệm thực tiễn; số lượng tổ chức tư vấn thẩm định, định giá đất đủ điều kiện hoạt động chưa đáp ứng nhu cầu định giá ngày càng tăng của các địa phương; một số đơn vị tư vấn định giá, thẩm định giá không muốn tham gia định giá đất cụ thể.  Tuy nhiên, khó khăn lớn nhất hiện nay là vấn đề dữ liệu thị trường phục vụ thẩm định giá. Mặc dù thị trường bất động sản đã phát triển mạnh trong những năm gần đây, song hệ thống dữ liệu về giao dịch đất đai và bất động sản vẫn chưa thực sự đầy đủ, đồng bộ và minh bạch. Trong nhiều trường hợp, giá chuyển nhượng được ghi nhận trên hợp đồng công chứng hoặc hồ sơ kê khai thuế chưa phản ánh đúng giá giao dịch thực tế trên thị trường. Bên cạnh đó, dữ liệu từ cơ quan thuế, cơ quan đăng ký đất đai, cơ quan công chứng, sàn giao dịch bất động sản và các tổ chức tín dụng hiện vẫn được quản lý phân tán, chưa hình thành cơ chế chia sẻ và khai thác hiệu quả. Một khó khăn khác là tính đa dạng và phức tạp của đất đai và tài sản gắn liền với đất. Trên thực tế, không có hai bất động sản hoàn toàn giống nhau. Ngay cả những tài sản có vị trí tương đồng cũng có thể khác biệt đáng kể về mục đích sử dụng đất, quy hoạch, hạ tầng kỹ thuật, điều kiện pháp lý, thời hạn sử dụng đất, khả năng khai thác thương mại hoặc tiềm năng phát triển trong tương lai. Bên cạnh đó, trong quá trình xác định giá trị tài sản trên đất, nhiều trường hợp hồ sơ pháp lý về công trình chưa đầy đủ hoặc chưa được cập nhật kịp thời. Đối với đất phát triển dự án, việc áp dụng phương pháp thặng dư vẫn là một trong những nội dung có nhiều tranh luận trong thực tiễn. Đây là phương pháp phụ thuộc rất lớn vào các giả định về doanh thu phát triển, chi phí đầu tư, tiến độ thực hiện dự án, tỷ suất lợi nhuận của nhà đầu tư và các yếu tố thị trường trong tương lai. Trong điều kiện thị trường bất động sản biến động nhanh, việc dự báo các yếu tố này luôn tiềm ẩn rủi ro và có thể dẫn đến sự chênh lệch đáng kể về kết quả định giá giữa các đơn vị tư vấn khác nhau. Phương pháp thặng dư là phương pháp chủ đạo cho các dự án quy mô lớn, song các chỉ tiêu đầu vào để tính toán doanh thu phát triển hiện nay đang chịu ảnh hưởng nặng nề bởi các yếu tố chủ quan và sự biến động cơ học của địa giới hành chính. Ngoài ra, công tác định giá đất cụ thể phục vụ tính tiền sử dụng đất và đấu giá quyền sử dụng đất đang vấp phải nhiều nút thắt mang tính kỹ thuật và pháp lý. Cách tính toán tỷ suất chiết khấu, vướng mắc bóc tách chi phí dự phòng trượt giá, tính phi thực tế của chỉ số biến động tăng doanh thu, những tranh biện về phân bổ chi phí hạ tầng kỹ thuật đối với quỹ đất nhà ở xã hội, việc áp dụng quy định của Nghị quyết 254 và Nghị định 49 để tính giá đất từ ngày 01/7/2026… Bên cạnh đó, xây dựng và ban hành hệ số điều chỉnh giá đất cũng là một khó khăn mà các địa phương gặp phải. Theo quy định mới, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phải ban hành hệ số điều chỉnh giá đất trước ngày 01/7/2026. Tuy nhiên, để xây dựng được hệ số điều chỉnh giá đất phải thực hiện đầy đủ nhiều bước. Tổng thời gian thực hiện theo quy định khoảng 07 tháng, trong khi thời gian thực tế chỉ khoảng 05 tháng, dẫn đến nhiều địa phương không đủ điều kiện hoàn thành đúng tiến độ. Thứ hai, còn chồng chéo trong việc xác định trường hợp áp dụng bảng giá đất, hệ số điều chỉnh giá đất và giá đất cụ thể. Điều này dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau giữa các địa phương, gây khó khăn trong tổ chức thực hiện cũng như công tác kiểm tra, kiểm toán. Thứ ba, còn thiếu quy định chuyển tiếp. Một số hồ sơ xác định giá đất cụ thể đã triển khai trước thời điểm quy định mới có hiệu lực nhưng chưa hoàn thành. Hiện chưa có quy định rõ: Tiếp tục xác định theo giá đất cụ thể hay chuyển sang áp dụng hệ số điều chỉnh giá đất. Điều này làm phát sinh tâm lý e ngại, ảnh hưởng đến tiến độ xử lý hồ sơ. Thứ tư, thiếu hướng dẫn về xây dựng mức tối đa, tối thiểu của hệ số điều chỉnh. Pháp luật giao Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định mức tối đa, tối thiểu của hệ số điều chỉnh mức biến động thị trường. Tuy nhiên hiện chưa có quy định cụ thể về tiêu chí; phương pháp và căn cứ kỹ thuật xây dựng hệ số điều chỉnh. Để xác định các mức này, dẫn đến khó khăn trong quá trình xây dựng và ban hành hệ số điều chỉnh giá đất. Đồng thời, khó khăn lớn nhất hiện nay là hạn chế về cơ sở dữ liệu phục vụ định giá đất. Chúng ta chưa hình thành được cơ sở dữ liệu quốc gia đầy đủ về đất đai và bất động sản (trong đó có giá đất và bất động sản) để phục vụ cho hoạt động định giá và thẩm định giá. Việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn (Big Data), hệ thống thông tin địa lý (GIS), mô hình định giá tự động (AVM) hay các công cụ phân tích thị trường hiện đại vẫn đang ở giai đoạn đầu. Phần lớn việc thu thập và xử lý thông tin vẫn được thực hiện thủ công, phụ thuộc nhiều vào kinh nghiệm cá nhân của thẩm định viên, dẫn đến chi phí cao và hiệu quả chưa tương xứng với yêu cầu thực tiễn. Một số kiến nghị, đề xuất Cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về định giá và thẩm định giá theo hướng đồng bộ, thống nhất và phân định rõ trách nhiệm của từng chủ thể tham gia. Một trong những giải pháp có ý nghĩa nền tảng là xây dựng và hoàn thiện hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai và bất động sản (trong đó có giá đất và bất động sản). Cần đẩy nhanh việc xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai thống nhất trên phạm vi toàn quốc; tăng cường kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa cơ quan quản lý đất đai, cơ quan thuế, cơ quan công chứng, cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm, cơ quan quản lý xây dựng và các cơ quan liên quan. Đồng thời, cần nghiên cứu cơ chế cho phép doanh nghiệp thẩm định giá và các tổ chức có chức năng xác định giá đất được tiếp cận, khai thác dữ liệu phục vụ hoạt động nghề nghiệp theo quy định của pháp luật. Đây được xem là giải pháp căn cơ nhằm nâng cao tính khách quan và độ tin cậy của kết quả thẩm định giá trong thời gian tới. Bên cạnh đó, cần chú trọng hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong quá trình xác định giá trị tài sản. Hoạt động định giá đất và thẩm định giá đất hiện nay liên quan đến nhiều cơ quan khác nhau như cơ quan quản lý đất đai, cơ quan tài chính, cơ quan thuế, cơ quan xây dựng, cơ quan tư pháp, cơ quan điều tra và các tổ chức hành nghề thẩm định giá. Việc xây dựng cơ chế phối hợp rõ ràng, minh bạch, có trách nhiệm giải trình cụ thể sẽ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, hạn chế chồng chéo trong thực hiện nhiệm vụ và giảm thiểu các tranh chấp, khiếu nại phát sinh trong quá trình tổ chức thực hiện. Cần có hướng dẫn cụ thể việc xác định tỷ lệ tăng doanh thu đối với các tỉnh, thành phố đã thực hiện sáp nhập; để đảm bảo áp dụng thống nhất trên toàn quốc; hướng dẫn, ví dụ minh họa cụ thể về phương pháp tính tỷ lệ chiết khấu bình quân; sớm sửa đổi Nghị định 71/2024/NĐ-CP để quy định rõ ràng hơn khi tính giá đất của dự án nhà ở thương mại trong đó có phần diện tích nhà ở xã hội để đảm bảo việc hạch toán chi phí được tách bạch, thể hiện đúng bản chất của từng hạng mục đầu tư; đảm bảo công bằng, khách quan. Đối với chi phí dự phòng trượt giá, Bộ Xây dựng cần bổ sung quy định cấu trúc tỷ trọng chi phí chi tiết trong tập suất vốn đầu tư ban hành hằng năm. Trong đó, cần quy định rõ tỷ lệ phần trăm mặc định cho chi phí san lấp mặt bằng tương ứng với từng loại loại hình công trình và địa hình, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho các địa phương thực hiện bóc tách. Cơ quan Thống kê cũng cần sớm xây dựng chỉ số biến động thị trường bất động sản riêng cho nhóm nhà ở, đất ở, tách biệt hoàn toàn với chỉ số giá vật liệu bất động sản trong từng giai đoạn. Các cơ quan hữu quan cần tiếp tục hoàn thiện các quy định còn chưa thống nhất; quy định rõ phạm vi áp dụng bảng giá đất, hệ số điều chỉnh và giá đất cụ thể; bổ sung đầy đủ quy định chuyển tiếp; nghiên cứu điều chỉnh thời hạn ban hành hệ số điều chỉnh giá đất phù hợp với trình tự xây dựng văn bản quy phạm pháp luật. Đồng thời, cần đẩy nhanh xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về giá đất, trong đó cho phép sử dụng các nguồn dữ liệu đã được Nhà nước xác định như: giá đất cụ thể khi giao đất; giá đất bồi thường; giá đất chuyển mục đích; giá đất các dự án đã được phê duyệt làm thông tin đầu vào trong thời gian cơ sở dữ liệu quốc gia chưa hoàn thiện. Cần nghiên cứu rút ngắn thời hạn sử dụng thông tin đầu vào từ 02 năm xuống còn 01 năm nhằm bảo đảm phản ánh sát diễn biến thị trường.