Sáng 30/12/2025, Hội đồng khoa học Kiểm toán nhà nước đã tổ chức nghiệm thu đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ “Kiểm toán ứng phó với rủi ro và thảm họa đối với nền kinh tế theo chuẩn mực và thông lệ quốc tế” do ThS. Nguyễn Việt Hùng (Vụ Hợp tác quốc tế) làm chủ nhiệm. Hội đồng nghiệm thu do TS. Hà Thị Mỹ Dung, Phó Tổng Kiểm toán nhà nước, làm Chủ tịch.

Hội đồng nghiệm thu do Phó Tổng Kiểm toán nhà nước Hà Thị Mỹ Dung làm Chủ tịch Rủi ro và thảm họa đối với nền kinh tế đang gia tăng cả về tần suất lẫn mức độ phức tạp, thể hiện ở sự đan xen giữa thiên tai và biến đổi khí hậu, dịch bệnh, sự cố môi trường, cùng các rủi ro mang tính hệ thống về tài chính, công nghệ và chuỗi cung ứng. Đối với Việt Nam, một nền kinh tế có độ mở lớn và mức độ dễ tổn thương cao trước các cú sốc, quản trị rủi ro và thảm họa không thể chỉ dừng ở cứu trợ sau sự kiện, mà phải trở thành một cấu phần của quản trị quốc gia và quản trị tài chính công hướng tới phòng ngừa, tăng khả năng chống chịu và phục hồi bền vững. Trong bối cảnh đó, Kiểm toán nhà nước, với vị thế cơ quan kiểm toán tối cao của Việt Nam, có trách nhiệm và lợi thế đặc thù để góp phần củng cố kỷ luật, minh bạch và trách nhiệm giải trình đối với các chính sách, chương trình, quỹ và nguồn lực ứng phó rủi ro và thảm họa.
Chương I của Đề tài đã xây dựng nền tảng lý luận và thước đo chuẩn mực cho kiểm toán ứng phó với rủi ro và thảm họa. Trên cơ sở tiếp cận theo vòng đời rủi ro (phòng ngừa/giảm nhẹ, chuẩn bị sẵn sàng, ứng phó, phục hồi và tái thiết), Đề tài nhấn mạnh yêu cầu đánh giá đồng thời hai lớp vấn đề: (i) hiệu lực quản trị, phối hợp và năng lực điều hành trong tình huống khẩn cấp; (ii) kỷ luật, minh bạch và hiệu quả trong quản trị tài chính công (ngân sách, đầu tư công, mua sắm, trợ cấp và quản lý quỹ). Trên phương diện chuẩn mực, Đề tài đối chiếu ISSAI 12 và ISSAI 100/300/400 với hướng dẫn chuyên sâu của INTOSAI, đặc biệt GUID 5330, để hình thành “thước đo” đánh giá kiểm toán thảm họa theo toàn bộ vòng đời rủi ro. Điểm nhấn của khung chuẩn mực này là chuyển trọng tâm từ hậu kiểm thuần túy sang kiểm toán dựa trên rủi ro, tăng kiểm toán hoạt động, kiểm toán thể chế và, khi cần thiết, kiểm toán kịp thời để tạo tác động chính sách sớm.

ThS. Nguyễn Việt Hùng thay mặt Ban đề tài báo cáo tóm tắt kết quả nghiên cứu Trên nền tảng khung lý luận và chuẩn mực đó, Chương II đã phân tích bức tranh rủi ro và thảm họa ở Việt Nam, đồng thời hệ thống hóa thực trạng hoạt động kiểm toán liên quan của Kiểm toán nhà nước giai đoạn 2015-2025 (đặc biệt từ năm 2019). Đề tài nhận thấy có những bước chuyển đáng kể: chủ đề kiểm toán gắn với biến đổi khí hậu, môi trường, quản trị rủi ro thiên tai và dịch bệnh ngày càng được chú trọng; nhiều nội dung rủi ro và thảm họa đã được lồng ghép trong kiểm toán ngân sách, chương trình mục tiêu, quỹ tài chính và kiểm toán hoạt động. Đặc biệt, cuộc kiểm toán chuyên đề năm 2022 về huy động, quản lý và sử dụng các nguồn lực phòng, chống dịch COVID-19 giai đoạn 2020-2021 thể hiện năng lực tổ chức kiểm toán trong điều kiện khẩn cấp, phạm vi bao phủ rộng và nhiều phát hiện có tác động chính sách. Các cuộc kiểm toán tiếp theo về quản lý, sử dụng các quỹ phòng, chống thiên tai (năm 2023) và về quản lý, sử dụng kinh phí sự nghiệp môi trường giai đoạn 2021-2023 (năm 2024) cho thấy xu hướng đưa nội dung rủi ro và thảm họa vào kiểm toán hoạt động, từng bước tiếp cận yêu cầu đánh giá hiệu quả, hiệu lực can thiệp công và tính bền vững của phục hồi.
Tuy nhiên, khi đối chiếu với yêu cầu của GUID 5330 và thông lệ của nhiều SAI, Đề tài cũng chỉ ra khoảng trống đáng kể giữa kỳ vọng chuẩn mực và thực hành kiểm toán tại Kiểm toán nhà nước. Thứ nhất, về phương pháp và trọng tâm, kiểm toán liên quan rủi ro và thảm họa vẫn thiên về hậu kiểm và kiểm tra tuân thủ, trong khi các nội dung đánh giá chuẩn bị sẵn sàng, quản trị dữ liệu rủi ro, cơ chế phối hợp liên ngành, kiểm soát mua sắm khẩn cấp theo rủi ro và đánh giá kết quả phục hồi/chống chịu chưa được chuẩn hóa thành yêu cầu phương pháp nhất quán. Thứ hai, về mục tiêu và phạm vi, mục tiêu kiểm toán chưa được lượng hóa đầy đủ theo hướng kết quả chống chịu (resilience outcomes) và quản trị rủi ro tài khóa; phạm vi thường bám theo cấu trúc ngân sách, chương trình hoặc đơn vị, nên khó phản ánh bản chất liên ngành và “chuỗi can thiệp” của quản trị thảm họa. Thứ ba, về tiêu chí và bằng chứng, hệ tiêu chí đánh giá theo vòng đời rủi ro còn thiếu bộ khung thống nhất; dữ liệu về thiệt hại, phân bổ nguồn lực, đối tượng thụ hưởng và kết quả can thiệp còn phân tán, thiếu chuẩn hóa và liên thông, làm giảm khả năng lượng hóa tác động và theo dõi xu hướng qua thời gian. Thứ tư, về cách thức tổ chức và theo dõi khuyến nghị, nhiều nội dung kiểm toán thảm họa được lồng ghép trong các cuộc kiểm toán thường niên hoặc chuyên đề riêng lẻ, trong khi GUID 5330 khuyến nghị tiếp cận theo mạng lưới trách nhiệm để nhận diện các điểm nghẽn quản trị liên ngành; đồng thời việc theo dõi thực hiện kiến nghị và đánh giá tác động sau kiểm toán chưa được thiết kế như một phần của chu trình quản trị rủi ro. Các hạn chế này không chỉ xuất phát từ năng lực kỹ thuật của kiểm toán viên, mà còn gắn với khung pháp lý chuyên ngành, cơ chế phối hợp thông tin và mức độ hoàn thiện của hệ thống dữ liệu, kiểm soát nội bộ trong khu vực công.
Xuất phát từ các khoảng trống nêu trên, Chương III đã đề xuất hệ thống giải pháp nhằm nâng cao vai trò của Kiểm toán nhà nước theo chuẩn mực và thông lệ quốc tế, đồng thời phù hợp với điều kiện Việt Nam và định hướng trong Chiến lược phát triển Kiểm toán nhà nước đến năm 2030. Giải pháp trung tâm là xây dựng Hướng dẫn kiểm toán ứng phó với rủi ro và thảm họa của Kiểm toán nhà nước theo định hướng GUID 5330, bảo đảm áp dụng được cho cả kiểm toán chuyên đề và kiểm toán lồng ghép. Hướng dẫn cần làm rõ mô hình lựa chọn chủ đề dựa trên rủi ro (kết hợp rủi ro tài khóa, mức độ dễ tổn thương, tầm quan trọng chính sách và mức độ sẵn có dữ liệu); bộ tiêu chí đánh giá theo vòng đời rủi ro; yêu cầu tối thiểu về bằng chứng và dữ liệu; kỹ thuật kiểm toán các khâu nhạy cảm như mua sắm khẩn cấp, trợ cấp và quản lý quỹ và phương pháp đánh giá hiệu quả, hiệu lực can thiệp công gắn với kết quả chống chịu và công bằng xã hội. Song song với đó, báo cáo đề xuất: hoàn thiện quy trình kiểm toán theo hướng tăng cường đánh giá rủi ro ngay từ lập kế hoạch; trong kế hoạch kiểm toán trung hạn và hằng năm, hình thành danh mục chủ đề ưu tiên về rủi ro và thảm họa để tạo tính liên tục và tích lũy dữ liệu; nâng cấp hạ tầng dữ liệu và năng lực phân tích nhằm hỗ trợ chọn mẫu, phát hiện bất thường và lượng hóa tác động; phát triển nguồn nhân lực liên ngành, đào tạo theo tình huống và hoàn thiện yêu cầu an toàn, đạo đức khi làm việc ở địa bàn thiên tai/dịch bệnh; đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế thông qua các sáng kiến INTOSAI/IDI/WGEA và hợp tác song phương để tiếp thu phương pháp, bộ tiêu chí và mô hình kiểm toán kịp thời.

Quang cảnh buổi nghiệm thu Các kiến nghị chính sách của Đề tài đối với Quốc hội, Chính phủ và các bộ, ngành nhằm tăng hiệu lực khuyến nghị kiểm toán tập trung vào ba hướng: (i) hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế phối hợp liên ngành trong quản trị rủi ro và thảm họa, đặc biệt về quản trị dữ liệu, mua sắm khẩn cấp và quản lý các quỹ; (ii) minh bạch hóa và nâng hiệu lực các công cụ tài chính phòng ngừa/dự phòng, tăng tính công khai đối với các quỹ và cơ chế huy động nguồn lực xã hội; (iii) tăng cường cơ chế theo dõi, đánh giá kết quả, coi việc thực hiện kiến nghị kiểm toán là một chỉ báo quản trị trong các chương trình, kế hoạch phòng, chống thiên tai, dịch bệnh, biến đổi khí hậu và phục hồi sau khủng hoảng.
Về tổng thể, Đề tài đã (1) chuẩn hóa khung phân tích cho kiểm toán ứng phó rủi ro và thảm họa ở Việt Nam dựa trên chuẩn mực và hướng dẫn quốc tế; (2) hệ thống hóa thực trạng hoạt động kiểm toán của Kiểm toán nhà nước giai đoạn 2015-2025 và nhận diện khách quan khoảng trống so với yêu cầu chuẩn mực/thông lệ; (3) đề xuất giải pháp theo lộ trình, gắn trực tiếp với các điểm nghẽn về thể chế, phương pháp, dữ liệu và năng lực thực thi, qua đó hỗ trợ Kiểm toán nhà nước chuyển từ vai trò chủ yếu hậu kiểm sang vai trò chủ động kiến tạo giá trị công trong quản trị rủi ro quốc gia. Bên cạnh đó, Đề tài cũng ghi nhận tồn tại hạn chế về chuẩn hóa dữ liệu dài hạn và việc lượng hóa tác động vĩ mô, tác động phân phối của thảm họa còn ở mức khái quát; đây là gợi mở cho nghiên cứu tiếp theo, như xây dựng bộ chỉ số đánh giá mức độ chống chịu tài khóa và hiệu quả can thiệp công, thử nghiệm mô hình lựa chọn chủ đề kiểm toán dựa trên rủi ro tài khóa và phát triển phương pháp kiểm toán kịp thời kết hợp phân tích dữ liệu để hỗ trợ điều hành trong tình huống khẩn cấp.
Nhận xét về Đề tài, Hội đồng nghiệm thu đánh giá Đề tài có ý nghĩa lý luận sâu sắc khi góp phần xây dựng nền tảng nhận thức và khung phương pháp cho lĩnh vực kiểm toán mới nhưng hết sức quan trọng này; đồng thời có ý nghĩa thực tiễn rõ rệt khi đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp lý, phương pháp kiểm toán, tổ chức thực hiện và hợp tác quốc tế, giúp Kiểm toán nhà nước tăng cường vai trò trong phòng ngừa, ứng phó và phục hồi sau thảm họa.
Để hoàn thiện đề tài, các thành viên Hội đồng đề nghị Đề tài cần phân định rõ vai trò của SAI trong các giai đoạn: Giảm nhẹ/phòng ngừa; chuẩn bị, ứng phó và phục hồi/tái thiết và thông qua các loại hình kiểm toán tương ứng cụ thể. Đối với thực trạng kiểm toán ứng phó thảm họa, đề tài cần bổ sung số liệu minh họa, ví dụ cụ thể từ các cuộc kiểm toán tiêu biểu để tăng tính thuyết phục; đồng thời phân tích rõ hơn những khoảng trống, bất cập trong cách tiếp cận, phương pháp kiểm toán, năng lực kiểm toán viên và cơ chế phối hợp với các cơ quan liên quan. Việc liên hệ, so sánh với thông lệ quốc tế và yêu cầu thực tiễn của Việt Nam cũng cần được tăng cường nhằm làm nổi bật các vấn đề đặt ra cho việc hoàn thiện vai trò của Kiểm toán nhà nước trong các chương sau. Đồng thời, cần bổ sung sự liên kết chặt chẽ hơn giữa “hạn chế” và “nguyên nhân”, tránh trùng lặp nội dung với các mục khác tại các chương. Cần phân tách rõ hơn các nhóm nguyên nhân theo từng cấp độ (thể chế, tổ chức, con người, phương pháp và điều kiện thực hiện) và gắn với thực tiễn hoạt động của Kiểm toán nhà nước thông qua dẫn chứng, ví dụ cụ thể. Các giải pháp nêu ra cần cụ thể hơn, thể hiện rõ hơn mối quan hệ giữa hạn chế và giải pháp, phân định rõ theo các nhóm vai trò của Kiểm toán nhà nước, cập nhật thông lệ quốc tế, làm rõ điều kiện bảo đảm thực hiện.
Khẳng định tính mới của Đề tài, Phó Tổng Kiểm toán nhà nước Hà Thị Mỹ Dung, Chủ tịch Hội đồng mong muốn đây sẽ là Đề tài khung, định hướng cho các nghiên cứu cùng lĩnh vực sau này. Chủ tịch Hội đồng đề nghị nhóm nghiên cứu bố cục đề tài mạch lạc trên cơ sở làm rõ khái niệm kiểm toán ứng phó rủi ro để làm cơ sở cho nghiên cứu; xác định nhiệm vụ, vai trò của Kiểm toán nhà nước từ đó đưa ra đề xuất và kiến nghị phù hợp.
Đề tài được Hội đồng nghiệm thu xếp loại Khá.