Chủ nhật, 13/9/2026

Điện thoại (024) 6287 3463

Đường dây nóng (024) 6287 3463

Liên hệ quảng cáo (+84)915.632.345

Chủ nhật, 13/9/2026
Share on Facebook
Copy to Clipboard

Kiểm toán ứng phó với rủi ro và thảm họa đối với nền kinh tế theo chuẩn mực và thông lệ quốc tế

Sáng 30/12/2025, Hội đồng khoa học Kiểm toán nhà nước đã tổ chức nghiệm thu đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ Kiểm toán ứng phó với rủi ro và thảm họa đối với nền kinh tế theo chuẩn mực và thông lệ quốc tế” do ThS. Nguyễn Việt Hùng (Vụ Hợp tác quốc tế) làm chủ nhiệm. Hội đồng nghiệm thu do TS. Hà Thị Mỹ Dung, Phó Tổng Kiểm toán nhà nước, làm Chủ tịch.

thumbnail
Hội đồng nghiệm thu do Phó Tổng Kiểm toán nhà nước Hà Thị Mỹ Dung làm Chủ tịch

Rủi ro và thảm họa đối với nền kinh tế đang gia tăng cả về tần suất lẫn mức độ phức tạp, thể hiện ở sự đan xen giữa thiên tai và biến đổi khí hậu, dịch bệnh, sự cố môi trường, cùng các rủi ro mang tính hệ thống về tài chính, công nghệ và chuỗi cung ứng. Đối với Việt Nam, một nền kinh tế có độ mở lớn và mức độ dễ tổn thương cao trước các cú sốc, quản trị rủi ro và thảm họa không thể chỉ dừng ở cứu trợ sau sự kiện, mà phải trở thành một cấu phần của quản trị quốc gia và quản trị tài chính công hướng tới phòng ngừa, tăng khả năng chống chịu và phục hồi bền vững. Trong bối cảnh đó, Kiểm toán nhà nước, với vị thế cơ quan kiểm toán tối cao của Việt Nam, có trách nhiệm và lợi thế đặc thù để góp phần củng cố kỷ luật, minh bạch và trách nhiệm giải trình đối với các chính sách, chương trình, quỹ và nguồn lực ứng phó rủi ro và thảm họa.

Chương I của Đề tài đã xây dựng nền tảng lý luận và thước đo chuẩn mực cho kiểm toán ứng phó với rủi ro và thảm họa. Trên cơ sở tiếp cận theo vòng đời rủi ro (phòng ngừa/giảm nhẹ, chuẩn bị sẵn sàng, ứng phó, phục hồi và tái thiết), Đề tài nhấn mạnh yêu cầu đánh giá đồng thời hai lớp vấn đề: (i) hiệu lực quản trị, phối hợp và năng lực điều hành trong tình huống khẩn cấp; (ii) kỷ luật, minh bạch và hiệu quả trong quản trị tài chính công (ngân sách, đầu tư công, mua sắm, trợ cấp và quản lý quỹ). Trên phương diện chuẩn mực, Đề tài đối chiếu ISSAI 12 và ISSAI 100/300/400 với hướng dẫn chuyên sâu của INTOSAI, đặc biệt GUID 5330, để hình thành “thước đo” đánh giá kiểm toán thảm họa theo toàn bộ vòng đời rủi ro. Điểm nhấn của khung chuẩn mực này là chuyển trọng tâm từ hậu kiểm thuần túy sang kiểm toán dựa trên rủi ro, tăng kiểm toán hoạt động, kiểm toán thể chế và, khi cần thiết, kiểm toán kịp thời để tạo tác động chính sách sớm.

thumbnail
ThS. Nguyễn Việt Hùng thay mặt Ban đề tài báo cáo tóm tắt kết quả nghiên cứu

Trên nền tảng khung lý luận và chuẩn mực đó, Chương II đã phân tích bức tranh rủi ro và thảm họa ở Việt Nam, đồng thời hệ thống hóa thực trạng hoạt động kiểm toán liên quan của Kiểm toán nhà nước giai đoạn 2015-2025 (đặc biệt từ năm 2019). Đề tài nhận thấy có những bước chuyển đáng kể: chủ đề kiểm toán gắn với biến đổi khí hậu, môi trường, quản trị rủi ro thiên tai và dịch bệnh ngày càng được chú trọng; nhiều nội dung rủi ro và thảm họa đã được lồng ghép trong kiểm toán ngân sách, chương trình mục tiêu, quỹ tài chính và kiểm toán hoạt động. Đặc biệt, cuộc kiểm toán chuyên đề năm 2022 về huy động, quản lý và sử dụng các nguồn lực phòng, chống dịch COVID-19 giai đoạn 2020-2021 thể hiện năng lực tổ chức kiểm toán trong điều kiện khẩn cấp, phạm vi bao phủ rộng và nhiều phát hiện có tác động chính sách. Các cuộc kiểm toán tiếp theo về quản lý, sử dụng các quỹ phòng, chống thiên tai (năm 2023) và về quản lý, sử dụng kinh phí sự nghiệp môi trường giai đoạn 2021-2023 (năm 2024) cho thấy xu hướng đưa nội dung rủi ro và thảm họa vào kiểm toán hoạt động, từng bước tiếp cận yêu cầu đánh giá hiệu quả, hiệu lực can thiệp công và tính bền vững của phục hồi.

Tuy nhiên, khi đối chiếu với yêu cầu của GUID 5330 và thông lệ của nhiều SAI, Đề tài cũng chỉ ra khoảng trống đáng kể giữa kỳ vọng chuẩn mực và thực hành kiểm toán tại Kiểm toán nhà nước. Thứ nhất, về phương pháp và trọng tâm, kiểm toán liên quan rủi ro và thảm họa vẫn thiên về hậu kiểm và kiểm tra tuân thủ, trong khi các nội dung đánh giá chuẩn bị sẵn sàng, quản trị dữ liệu rủi ro, cơ chế phối hợp liên ngành, kiểm soát mua sắm khẩn cấp theo rủi ro và đánh giá kết quả phục hồi/chống chịu chưa được chuẩn hóa thành yêu cầu phương pháp nhất quán. Thứ hai, về mục tiêu và phạm vi, mục tiêu kiểm toán chưa được lượng hóa đầy đủ theo hướng kết quả chống chịu (resilience outcomes) và quản trị rủi ro tài khóa; phạm vi thường bám theo cấu trúc ngân sách, chương trình hoặc đơn vị, nên khó phản ánh bản chất liên ngành và “chuỗi can thiệp” của quản trị thảm họa. Thứ ba, về tiêu chí và bằng chứng, hệ tiêu chí đánh giá theo vòng đời rủi ro còn thiếu bộ khung thống nhất; dữ liệu về thiệt hại, phân bổ nguồn lực, đối tượng thụ hưởng và kết quả can thiệp còn phân tán, thiếu chuẩn hóa và liên thông, làm giảm khả năng lượng hóa tác động và theo dõi xu hướng qua thời gian. Thứ tư, về cách thức tổ chức và theo dõi khuyến nghị, nhiều nội dung kiểm toán thảm họa được lồng ghép trong các cuộc kiểm toán thường niên hoặc chuyên đề riêng lẻ, trong khi GUID 5330 khuyến nghị tiếp cận theo mạng lưới trách nhiệm để nhận diện các điểm nghẽn quản trị liên ngành; đồng thời việc theo dõi thực hiện kiến nghị và đánh giá tác động sau kiểm toán chưa được thiết kế như một phần của chu trình quản trị rủi ro. Các hạn chế này không chỉ xuất phát từ năng lực kỹ thuật của kiểm toán viên, mà còn gắn với khung pháp lý chuyên ngành, cơ chế phối hợp thông tin và mức độ hoàn thiện của hệ thống dữ liệu, kiểm soát nội bộ trong khu vực công.

Xuất phát từ các khoảng trống nêu trên, Chương III đã đề xuất hệ thống giải pháp nhằm nâng cao vai trò của Kiểm toán nhà nước theo chuẩn mực và thông lệ quốc tế, đồng thời phù hợp với điều kiện Việt Nam và định hướng trong Chiến lược phát triển Kiểm toán nhà nước đến năm 2030. Giải pháp trung tâm là xây dựng Hướng dẫn kiểm toán ứng phó với rủi ro và thảm họa của Kiểm toán nhà nước theo định hướng GUID 5330, bảo đảm áp dụng được cho cả kiểm toán chuyên đề và kiểm toán lồng ghép. Hướng dẫn cần làm rõ mô hình lựa chọn chủ đề dựa trên rủi ro (kết hợp rủi ro tài khóa, mức độ dễ tổn thương, tầm quan trọng chính sách và mức độ sẵn có dữ liệu); bộ tiêu chí đánh giá theo vòng đời rủi ro; yêu cầu tối thiểu về bằng chứng và dữ liệu; kỹ thuật kiểm toán các khâu nhạy cảm như mua sắm khẩn cấp, trợ cấp và quản lý quỹ và phương pháp đánh giá hiệu quả, hiệu lực can thiệp công gắn với kết quả chống chịu và công bằng xã hội. Song song với đó, báo cáo đề xuất: hoàn thiện quy trình kiểm toán theo hướng tăng cường đánh giá rủi ro ngay từ lập kế hoạch; trong kế hoạch kiểm toán trung hạn và hằng năm, hình thành danh mục chủ đề ưu tiên về rủi ro và thảm họa để tạo tính liên tục và tích lũy dữ liệu; nâng cấp hạ tầng dữ liệu và năng lực phân tích nhằm hỗ trợ chọn mẫu, phát hiện bất thường và lượng hóa tác động; phát triển nguồn nhân lực liên ngành, đào tạo theo tình huống và hoàn thiện yêu cầu an toàn, đạo đức khi làm việc ở địa bàn thiên tai/dịch bệnh; đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế thông qua các sáng kiến INTOSAI/IDI/WGEA và hợp tác song phương để tiếp thu phương pháp, bộ tiêu chí và mô hình kiểm toán kịp thời.

thumbnail
Quang cảnh buổi nghiệm thu

Các kiến nghị chính sách của Đề tài đối với Quốc hội, Chính phủ và các bộ, ngành nhằm tăng hiệu lực khuyến nghị kiểm toán tập trung vào ba hướng: (i) hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế phối hợp liên ngành trong quản trị rủi ro và thảm họa, đặc biệt về quản trị dữ liệu, mua sắm khẩn cấp và quản lý các quỹ; (ii) minh bạch hóa và nâng hiệu lực các công cụ tài chính phòng ngừa/dự phòng, tăng tính công khai đối với các quỹ và cơ chế huy động nguồn lực xã hội; (iii) tăng cường cơ chế theo dõi, đánh giá kết quả, coi việc thực hiện kiến nghị kiểm toán là một chỉ báo quản trị trong các chương trình, kế hoạch phòng, chống thiên tai, dịch bệnh, biến đổi khí hậu và phục hồi sau khủng hoảng.

Về tổng thể, Đề tài đã (1) chuẩn hóa khung phân tích cho kiểm toán ứng phó rủi ro và thảm họa ở Việt Nam dựa trên chuẩn mực và hướng dẫn quốc tế; (2) hệ thống hóa thực trạng hoạt động kiểm toán của Kiểm toán nhà nước giai đoạn 2015-2025 và nhận diện khách quan khoảng trống so với yêu cầu chuẩn mực/thông lệ; (3) đề xuất giải pháp theo lộ trình, gắn trực tiếp với các điểm nghẽn về thể chế, phương pháp, dữ liệu và năng lực thực thi, qua đó hỗ trợ Kiểm toán nhà nước chuyển từ vai trò chủ yếu hậu kiểm sang vai trò chủ động kiến tạo giá trị công trong quản trị rủi ro quốc gia. Bên cạnh đó, Đề tài cũng ghi nhận tồn tại hạn chế về chuẩn hóa dữ liệu dài hạn và việc lượng hóa tác động vĩ mô, tác động phân phối của thảm họa còn ở mức khái quát; đây là gợi mở cho nghiên cứu tiếp theo, như xây dựng bộ chỉ số đánh giá mức độ chống chịu tài khóa và hiệu quả can thiệp công, thử nghiệm mô hình lựa chọn chủ đề kiểm toán dựa trên rủi ro tài khóa và phát triển phương pháp kiểm toán kịp thời kết hợp phân tích dữ liệu để hỗ trợ điều hành trong tình huống khẩn cấp.

Nhận xét về Đề tài, Hội đồng nghiệm thu đánh giá Đề tài có ý nghĩa lý luận sâu sắc khi góp phần xây dựng nền tảng nhận thức và khung phương pháp cho lĩnh vực kiểm toán mới nhưng hết sức quan trọng này; đồng thời có ý nghĩa thực tiễn rõ rệt khi đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp lý, phương pháp kiểm toán, tổ chức thực hiện và hợp tác quốc tế, giúp Kiểm toán nhà nước tăng cường vai trò trong phòng ngừa, ứng phó và phục hồi sau thảm họa.

Để hoàn thiện đề tài, các thành viên Hội đồng đề nghị Đề tài cần phân định rõ vai trò của SAI trong các giai đoạn: Giảm nhẹ/phòng ngừa; chuẩn bị, ứng phó và phục hồi/tái thiết và thông qua các loại hình kiểm toán tương ứng cụ thể. Đối với thực trạng kiểm toán ứng phó thảm họa, đề tài cần bổ sung số liệu minh họa, ví dụ cụ thể từ các cuộc kiểm toán tiêu biểu để tăng tính thuyết phục; đồng thời phân tích rõ hơn những khoảng trống, bất cập trong cách tiếp cận, phương pháp kiểm toán, năng lực kiểm toán viên và cơ chế phối hợp với các cơ quan liên quan. Việc liên hệ, so sánh với thông lệ quốc tế và yêu cầu thực tiễn của Việt Nam cũng cần được tăng cường nhằm làm nổi bật các vấn đề đặt ra cho việc hoàn thiện vai trò của Kiểm toán nhà nước trong các chương sau. Đồng thời, cần bổ sung sự liên kết chặt chẽ hơn giữa “hạn chế” và “nguyên nhân”, tránh trùng lặp nội dung với các mục khác tại các chương. Cần phân tách rõ hơn các nhóm nguyên nhân theo từng cấp độ (thể chế, tổ chức, con người, phương pháp và điều kiện thực hiện) và gắn với thực tiễn hoạt động của Kiểm toán nhà nước thông qua dẫn chứng, ví dụ cụ thể. Các giải pháp nêu ra cần cụ thể hơn, thể hiện rõ hơn mối quan hệ giữa hạn chế và giải pháp, phân định rõ theo các nhóm vai trò của Kiểm toán nhà nước, cập nhật thông lệ quốc tế, làm rõ điều kiện bảo đảm thực hiện.

Khẳng định tính mới của Đề tài, Phó Tổng Kiểm toán nhà nước Hà Thị Mỹ Dung, Chủ tịch Hội đồng mong muốn đây sẽ là Đề tài khung, định hướng cho các nghiên cứu cùng lĩnh vực sau này. Chủ tịch Hội đồng đề nghị nhóm nghiên cứu bố cục đề tài mạch lạc trên cơ sở làm rõ khái niệm kiểm toán ứng phó rủi ro để làm cơ sở cho nghiên cứu; xác định nhiệm vụ, vai trò của Kiểm toán nhà nước từ đó đưa ra đề xuất và kiến nghị phù hợp.

Đề tài được Hội đồng nghiệm thu xếp loại Khá.

Lượt xem: 12

Thẩm định Chương trình bồi dưỡng chuyên môn theo vị trí việc làm ngạch Kiểm toán viên chính

Chiều 10/9/2026, Kiểm toán nhà nước đã tổ chức họp thẩm định Chương trình bồi dưỡng chuyên môn theo vị trí việc làm ngạch Kiểm toán viên chính cho Kiểm toán viên Nhà nước. TS Nguyễn Lương Thuyết, Vụ trưởng Vụ Chính sách Kiểm toán nhà nước làm chủ tịch Hội đồng thẩm định. TS Vũ Thanh Hải, Kiểm toán trưởng Kiểm toán nhà nước chuyên ngành IV, Trưởng ban rà soát tài liệu cùng các thành viên ban rà soát và hội đồng thẩm định cùng tham dự cuộc họp. Căn cứ Quyết định số 409/QĐ-KTNN ngày 07/4/2026 của Tổng Kiểm toán nhà nước về việc thành lập Ban rà soát, sửa đổi Chương trình bồi dưỡng chuyên môn theo vị trí việc làm ngạch Kiểm toán viên chính, Ban rà soát đã tiến hành cơ cấu lại chương trình (ban hành theo Quyết định số 420/QĐ-KTNN ngày 11/4/2023) thành 03 chương trình bồi dưỡng có liên kết chặt chẽ về nội dung, đồng thời đáp ứng thời lượng bồi dưỡng theo quy định của Nghị định số 171/2025/NĐ-CP ngày 30/6/2025 của Chính phủ Quy định về đào tạo, bồi dưỡng công chức. Hội đồng thẩm định đề nghị Ban rà soát nghiên cứu bổ sung, chỉnh sửa một số nội dung để hoàn thiện tài liệu Theo đó, Chương trình bồi dưỡng chuyên môn theo vị trí việc làm ngạch Kiểm toán viên chính hướng tới công chức đang ở ngạch kiểm toán viên có thời gian giữ ngạch 03 năm trở lên hoặc ở ngạch tương đương có thời gian giữ ngạch 06 năm trở lên và có chứng chỉ bồi dưỡng chuyên môn ngạch kiểm toán viên; công chức đang ở ngạch Chuyên viên chính và tương đương có chứng chỉ bồi dưỡng chuyên môn ngạch kiểm toán viên và các đối tượng khác cần bồi dưỡng, bổ trợ kiến thức và kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ kiểm toán theo quyết định của Tổng Kiểm toán nhà nước. Chương trình được xây dựng theo ba hợp phần, trong đó, Hợp phần 1 - Kiến thức cơ sở - nhằm trang bị cho học viên kiến thức, kỹ năng chuyên môn kiểm toán nâng cao và tương đối phức tạp để người học vận dụng vào hoạt động kiểm toán đáp ứng tiêu chuẩn của ngạch kiểm toán viên chính theo quy định. Học viên sẽ được cập nhật, nâng cao kiến thức về chính sách tài khóa, tiền tệ, đầu tư công, nợ công; kỹ năng phân tích, đánh giá các chính sách công. Hợp phần 1 được tổ chức thành 3 chuyên đề với tổng thời lượng 76 tiết, bao gồm: Phân tích báo cáo quyết toán ngân sách nhà nước; Phân tích, đánh giá chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ và nợ công; và Phân tích, đánh giá chính sách đầu tư công. Đại diện Ban rà soát báo cáo tóm tắt kết quả rà soát Hợp phần 2 - Kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ kiểm toán - hướng đến mục tiêu cập nhật, nâng cao kiến thức và khả năng xử lý các thách thức, tình huống trong quá trình thực hiện nhiệm vụ kiểm toán tương ứng với tiêu chuẩn về năng lực chuyên môn, nghiệp vụ của kiểm toán viên chính, như: lập kế hoạch kiểm toán chi tiết, biên bản kiểm toán; lập, thẩm định kế hoạch kiểm toán và báo cáo của Đoàn kiểm toán; kiếm soát chất lượng kiểm toán; nội dung, phương pháp tổ chức, quản lý hoạt động Tổ kiểm toán, Đoàn kiểm toán; tổ chức kiểm toán chuyên đề; kiểm tra việc thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán... Học viên tham gia chương trình bồi dưỡng sẽ được trao đổi về 6 chuyên đề: Lập kế hoạch kiểm toán chi tiết và biên bản kiểm toán của Tổ kiểm toán; Đảm bảo chất lượng kiểm toán và Kiểm soát chất lượng kiểm toán của Kiểm toán nhà nước; Nội dung, phương pháp tổ chức, quản lý hoạt động Tổ kiểm toán và Đoàn kiểm toán; Lập, thẩm định kế hoạch kiểm toán và báo cáo kiểm toán của Đoàn kiểm toán; Tổ chức kiểm toán chuyên đề; Kiểm tra việc thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán. Hợp phần 3 - Kỹ năng - bao gồm 5 chuyên đề: Hệ thống chính trị và vị trí của Kiểm toán nhà nước trong mối quan hệ với các tổ chức thuộc hệ thống chính trị ở Việt Nam; Xây dựng báo cáo tổng hợp kết quả kiểm toán năm; Kỹ năng lãnh đạo, quản lý của Kiểm toán viên chính; Kỹ năng tổng hợp kết quả kiểm toán để lập báo cáo kiểm toán của đoàn kiểm toán và thông báo kết quả kiểm toán của Tổ kiểm toán và Chuyên đề báo cáo (chuyên đề được xác định trước khi tổ chức lớp học, phù hợp với mục tiêu, đối tượng đào tạo, cập nhật tình hình thực tiễn trong hoạt động chuyên môn kiểm toán nhà nước hoặc của nền kinh tế). Học phần 3 hướng tới mục tiêu cung cấp các kỹ năng tương ứng với chức trách của kiểm toán viên chính, như: kỹ năng xây dựng báo cáo, kỹ năng lãnh đạo, quản lý; kỹ năng tổng hợp kết quả kiểm toán; vị trí của Kiểm toán nhà nước trong mối quan hệ với các tổ chức thuộc hệ thống chính trị ở Việt Nam... nhằm trang bị phương pháp tư duy và khả năng thực thi nhiệm vụ theo một quy trình khoa học và hiệu quả. Chương trình bồi dưỡng chuyên môn theo vị trí việc làm ngạch Kiểm toán viên chính được rà soát lại trên cơ sở chương trình bồi dưỡng đã ban hành năm 2023 Tài liệu bồi dưỡng sau rà soát được các thành viên Hội đồng thẩm định đánh giá cao, đảm bảo chất lượng, có kết cầu phù hợp. Để hoàn thiện tài liệu, Hội đồng đề nghị Ban rà soát nghiên cứu điều chuyển các chuyên đề cụ thể trong từng Hợp phần; lồng ghép các chuyên đề phù hợp; nghiên cứu sắp xếp thứ tự nội dung trong chuyên đề để đảm bảo logic, xuyên suốt, tránh trùng lặp nội dung, nghiên cứu bổ sung thêm các quy định pháp luật về kiểm soát quyền lực, phân cấp phân quyền, trách nhiệm giải trình, cũng như quy trình kiểm tra việc thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán và chế độ công khai đối với các đơn vị không thực hiện kiến nghị kiểm toán. Bên cạnh đó, các chuyên đề về kỹ năng tổng hợp cần được xây dựng theo chuỗi logic xuyên suốt từ cấp Tổ kiểm toán, Đoàn kiểm toán và cấp Ngành, giúp nâng cao chất lượng lập báo cáo kiểm toán tổng hợp.

Vai trò của Kiểm toán nhà nước trong việc thúc đẩy thực hiện các cam kết quốc gia về thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển bền vững

Là quốc gia đang phát triển có đường bờ biển dài, nhiều vùng đồng bằng thấp và mức độ phụ thuộc tương đối lớn vào tài nguyên thiên nhiên, Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia chịu tác động nặng nề của biến đổi khí hậu. Các hiện tượng như nước biển dâng, xâm nhập mặn, hạn hán kéo dài, mưa lũ bất thường và sạt lở đất ngày càng gia tăng cả về tần suất lẫn cường độ, ảnh hưởng trực tiếp đến sinh kế của người dân, hệ sinh thái tự nhiên và quá trình phát triển kinh tế - xã hội. GS.TS Đoàn Xuân Tiên, Phó Chủ tịch Hội đồng khoa học Kiểm toán nhà nước làm Chủ tịch Hội đồng nghiệm thu Trong bối cảnh đó, biến đổi khí hậu không chỉ là thách thức về môi trường mà còn trở thành vấn đề phát triển có tính liên ngành, tác động sâu rộng đến tăng trưởng, an sinh xã hội và mục tiêu phát triển bền vững của quốc gia. Trước yêu cầu đó, Việt Nam đã chủ động tham gia và từng bước thực hiện nhiều cam kết quốc tế về biến đổi khí hậu và phát triển bền vững. Song song với việc tham gia các cam kết quốc tế, Việt Nam đã tích cực nội địa hóa các định hướng toàn cầu thông qua việc ban hành nhiều chính sách, chiến lược và chương trình hành động cấp quốc gia về biến đổi khí hậu và phát triển bền vững. Các văn bản này đã tạo nền tảng quan trọng cho việc triển khai các cam kết trong thực tiễn. Trên thực tế, Việt Nam đã đạt được một số kết quả tích cực trong thực hiện Chương trình Nghị sự 2030, nhất là ở các lĩnh vực như giảm nghèo, giáo dục, y tế và bình đẳng giới. Tuy nhiên, quá trình thực hiện các mục tiêu gắn với môi trường, khí hậu và quản lý tài nguyên vẫn còn nhiều khó khăn. Tình trạng ô nhiễm môi trường, suy giảm hệ sinh thái, khai thác tài nguyên thiếu bền vững, cùng với những hạn chế trong phối hợp liên ngành, bố trí nguồn lực và giám sát thực hiện, đang làm giảm hiệu quả của nhiều chính sách, chương trình và dự án. Trên thế giới, nhiều Cơ quan Kiểm toán tối cao (SAI) đã từng bước khẳng định vai trò ngày càng rõ nét trong việc kiểm tra, đánh giá quá trình thực hiện các cam kết về khí hậu và phát triển bền vững. Phạm vi hoạt động của các SAI không còn chỉ giới hạn ở kiểm toán chi tiêu công, mà đã được mở rộng sang đánh giá hiệu quả các chính sách về giảm phát thải, chuyển đổi năng lượng, quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững (SDGs). Trong xu thế chung đó, Kiểm toán nhà nước Việt Nam cũng đã từng bước triển khai một số cuộc kiểm toán chuyên đề có liên quan, đồng thời tích cực thúc đẩy hợp tác quốc tế, tham gia các hoạt động của INTOSAI, ASOSAI và các cơ chế hợp tác khu vực trong lĩnh vực kiểm toán môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu. Tuy nhiên, thực tiễn cũng cho thấy hoạt động kiểm toán trong lĩnh vực này ở Việt Nam vẫn còn không ít hạn chế. Đặc biệt, còn thiếu các tiêu chí và công cụ phù hợp để đo lường, đánh giá mức độ thực hiện cam kết; việc phối hợp, chia sẻ thông tin giữa Kiểm toán nhà nước với các cơ quan chuyên trách về môi trường, tài chính khí hậu và phát triển bền vững chưa thật sự chặt chẽ; nhận thức về vai trò của kiểm toán trong thúc đẩy thực hiện các cam kết quốc gia trong lĩnh vực này cũng chưa đầy đủ và toàn diện. ThS. Nguyễn Thị Kiều Thu, Kiểm toán nhà nước chuyên ngành III, thay mặt Ban đề tài báo cáo tóm tắt kết quả nghiên cứu Đề tài “Vai trò của Kiểm toán nhà nước trong việc thúc đẩy thực hiện các cam kết quốc gia về thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển bền vững” do ThS. Nguyễn Thị Kiều Thu - Kiểm toán nhà nước chuyên ngành III làm chủ nhiệm, trên cơ sở đó được tiến hành nghiên cứu góp phần làm rõ vị trí, vai trò, nội dung và phương thức phát huy chức năng của Kiểm toán nhà nước trong việc thúc đẩy thực hiện các cam kết quốc gia về biến đổi khí hậu và phát triển bền vững trong điều kiện Việt Nam. Về phương diện thực tiễn, đề tài không chỉ đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế, phương thức và nội dung kiểm toán trong lĩnh vực này, mà còn xây dựng Bảng lộ trình triển khai kiểm toán biến đổi khí hậu và phát triển bền vững và Bảng khung tiêu chí kiểm toán lĩnh vực biến đổi khí hậu và phát triển bền vững. Đây là những kết quả có giá trị tham khảo trực tiếp cho việc tổ chức hoạt động kiểm toán, lựa chọn trọng tâm kiểm toán, xác định nội dung đánh giá và xem xét trách nhiệm thực hiện cam kết của các cơ quan, đơn vị liên quan, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả giám sát, tăng cường trách nhiệm giải trình, minh bạch trong quản lý nhà nước về biến đổi khí hậu và phát triển bền vững ở Việt Nam. Tập trung nghiên cứu giai đoạn 2021-2025, là giai đoạn gắn với việc Việt Nam đẩy mạnh thực hiện các cam kết quốc tế sau COP26, đồng thời triển khai các định hướng, kế hoạch quan trọng như Kế hoạch quốc gia thích ứng với biến đổi khí hậu giai đoạn 2021-2030 theo Quyết định số 1422/QĐ-TTg và Lộ trình thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững theo Quyết định số 841/QĐ-TTg, đề tài nghiên cứu tập trung phân tích thực tiễn các cuộc kiểm toán và các quyết định giao nhiệm vụ kiểm toán có liên quan. Hội đồng nghiệm thu đánh giá cao giá trị lý luận và thực tiễn của Đề tài Kết quả nghiên cứu cho thấy, Kiểm toán nhà nước không chỉ thực hiện chức năng kiểm toán đối với việc quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công, mà còn góp phần nâng cao tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và hiệu quả thực hiện chính sách thông qua các kết luận, kiến nghị kiểm toán. Trong điều kiện quản trị rủi ro khí hậu đòi hỏi sự phối hợp liên ngành, liên cấp và dựa trên bằng chứng, kiểm toán môi trường và kiểm toán hoạt động có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá mức độ gắn kết giữa mục tiêu chính sách, tổ chức thực hiện và kết quả đạt được trên thực tế. Qua phân tích thực trạng cho thấy Việt Nam đã đạt được một số kết quả tích cực trong việc nội địa hóa các cam kết quốc gia về biến đổi khí hậu và phát triển bền vững thông qua hệ thống chiến lược, quy hoạch và chương trình hành động tương đối đầy đủ. Tuy nhiên, việc triển khai các cam kết này vẫn đối mặt với nhiều hạn chế như phân tán nguồn lực, thiếu đồng bộ dữ liệu, khó khăn trong lượng hóa kết quả, cũng như khoảng cách giữa mục tiêu đề ra và hiệu quả thực thi tại nhiều bộ, ngành và địa phương. Trong bối cảnh đó, hoạt động của Kiểm toán nhà nước liên quan đến môi trường, biến đổi khí hậu và phát triển bền vững đã bước đầu được mở rộng về phạm vi và nội dung, song mức độ lồng ghép các tiêu chí khí hậu và phát triển bền vững vào kiểm toán vẫn chưa thực sự hệ thống; các nội dung như tài chính khí hậu, giảm phát thải, thích ứng dựa vào hệ sinh thái, hay kiểm toán việc thực hiện các mục tiêu SDGs mới chỉ được tiếp cận ở mức độ ban đầu. Kết quả khảo sát các bên liên quan và phân tích mô hình nghiên cứu khẳng định vai trò của Kiểm toán nhà nước có mối liên hệ tích cực và có ý nghĩa thống kê với việc nâng cao tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và mức độ thực hiện kiến nghị kiểm toán của các đơn vị được kiểm toán. Trên cơ sở đó, có thể nhận thấy hoạt động kiểm toán có khả năng góp phần hỗ trợ việc thực hiện các cam kết quốc gia về thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển bền vững, thông qua việc cung cấp thông tin, bằng chứng và kiến nghị phục vụ hoàn thiện quản lý, điều hành và sử dụng nguồn lực công. Kết quả này cũng cho thấy khi hoạt động kiểm toán được thiết kế phù hợp, có tiêu chí đánh giá rõ ràng và gắn với mục tiêu chính sách dài hạn, Kiểm toán nhà nước có thể phát huy tốt hơn vai trò của mình trong việc xem xét tiến độ thực hiện, phát hiện những hạn chế, bất cập trong cơ chế, chính sách và tổ chức thực hiện, qua đó hỗ trợ các cơ quan có thẩm quyền trong việc điều chỉnh phân bổ và sử dụng nguồn lực công cho ứng phó với biến đổi khí hậu. Đề tài được Hội đồng nghiệm thu xếp loại xuất sắc Từ các phân tích lý luận và thực tiễn, đề tài cho rằng việc nâng cao vai trò của Kiểm toán nhà nước trong thúc đẩy thực hiện các cam kết quốc gia về biến đổi khí hậu và phát triển bền vững không chỉ là yêu cầu đặt ra từ sự phát triển của hoạt động kiểm toán, mà còn phù hợp với đòi hỏi nâng cao chất lượng quản lý nhà nước trong giai đoạn hiện nay. Trong điều kiện Việt Nam đang thúc đẩy chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng xanh, phát thải thấp và thích ứng với khí hậu, Kiểm toán nhà nước cần tiếp tục phát huy vai trò của mình trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ được pháp luật quy định, thông qua kiểm toán việc quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công và đưa ra các kết luận, kiến nghị kiểm toán có giá trị. Qua đó, Kiểm toán nhà nước góp phần tăng cường tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và hiệu quả thực hiện các chương trình, dự án, chính sách công có liên quan đến các cam kết quốc gia về môi trường, khí hậu và phát triển bền vững. Đánh giá về Đề tài, Hội đồng nghiệm thu khẳng định đề tài có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cao, nội dung công phu, cập nhật bối cảnh quốc tế và trong nước, bước đầu làm rõ vai trò của Kiểm toán nhà nước trong thúc đẩy thực hiện các cam kết quốc gia về thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển bền vững. Đề tài cũng đã làm rõ mối quan hệ giữa biến đổi khí hậu, phát triển bền vững, cam kết quốc gia và yêu cầu giám sát độc lập; phân biệt các phạm vi kiểm toán có liên quan và khẳng định việc triển khai thông qua các loại hình kiểm toán hiện hành, không hình thành một loại hình kiểm toán mới ngoài quy định. Đề tài cũng đã nhận diện tương đối phù hợp các nhóm hạn chế về cơ sở pháp lý và tiêu chí, phương pháp tiếp cận, dữ liệu và bằng chứng, nhân lực chuyên sâu, phối hợp và chia sẻ thông tin, qua đó tạo căn cứ cho các giải pháp được đề xuất. Về giải pháp và khả năng ứng dụng, đề tài đã xây dựng năm nhóm giải pháp tương đối toàn diện, lộ trình ba giai đoạn, khung tiêu chí, tiêu chí lựa chọn chủ đề, danh mục dữ liệu và chương trình đào tạo có giá trị định hướng. Tuy nhiên, các nội dung này hiện phù hợp ở mức khung đề xuất và cần được lựa chọn thí điểm, đánh giá, chuẩn hóa trước khi sử dụng như hướng dẫn nghiệp vụ chính thức. Để hoàn thiện đề tài, Ban chủ nhiệm cần nhấn mạnh trọng tâm, tăng chiều sâu phân tích tác động và ưu tiên các giải pháp để nâng cao tính cô đọng, khả thi và giá trị ứng dụng của kết quả nghiên cứu. Ngoài ra, cần làm rõ phạm vi và trọng tâm nghiên cứu, cơ sở lý luận và chiếu sâu phân tích thực trạng, nghiên cứu định lượng và tính thống nhất của số liệu; hệ thống giải pháp, lộ trình và thẩm quyền kiến nghị. Đề tài cần hoàn thiện khung tiêu chí kiểm toán, làm tõ tính mới và khả năng ứng dụng, tiếp tục chuẩn hóa khung tiêu chí kiểm toán, phân biệt rõ tiêu chí hoặc chuẩn so sánh với câu hỏi kiểm toán, chỉ số đo lường, nguồn bằng chứng và thủ tục kiểm toán. Khung tiêu chí hiện có nên được xác định là danh mục định hướng cần tiếp tục thí điểm và hoàn thiện, chưa phải hướng dẫn nghiệp vụ có thể áp dụng trực tiếp cho mọi cuộc kiểm toán. Phát biểu kết luận tại buổi nghiệm thu, GS.TS Đoàn Xuân Tiên, Chủ tịch Hội đồng nghiệm thu cho rằng Đề tài cần ưu tiên giải pháp theo mức độ khả thi và thứ tự thực hiện; làm rõ giải pháp nào thuộc thẩm quyền Kiểm toán nhà nước, giải pháp nào cần kiến nghị Quốc hội, Chính phủ; cần rút gọn các phần liệt kê thông tin. Đề tài đã kết hợp phân tích thực tiễn với mô hình định lượng, tuy nhiên cần nhấn mạnh rõ hơn giá trị mới so với các đề tài kiểm toán môi trường trước đây của Kiểm toán nhà nước, đóng góp cụ thể của đề tài đối với việc xây dựng lộ trình kiểm toán biến đổi khí hậu đến 2030. Đề tài được Hội đồng nghiệm thu xếp loại xuất sắc.

Khai giảng Khóa bồi dưỡng “Nâng cao năng lực quản trị tài chính công, tài sản công cho đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã theo mô hình chính quyền địa phương 2 cấp” tại thành phố Đà Nẵng

Được sự đồng ý của lãnh đạo Kiểm toán nhà nước và lãnh đạo Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng, nhằm nâng cao năng lực quản trị tài chính công, tài sản công cho cán bộ, công chức cấp xã, phường trong thực thi nhiệm theo mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, sáng ngày 4/9/2026 tại Trường Chính trị Thành phố Đà Nẵng, Trường Đào tạo và Bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm toán phối hợp với Sở Nội vụ Thành phố Đà Nẵng tổ chức Khóa bồi dưỡng “Nâng cao năng lực quản trị tài chính công, tài sản công cho đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã theo mô hình chính quyền địa phương 2 cấp”. Phó Tổng Kiểm toán nhà nước Bùi Quốc Dũng phát biểu khai giảng Khóa bồi dưỡng Tới dự khai giảng Khóa bồi dưỡng, về phía Kiểm toán nhà nước, có ông Bùi Quốc Dũng, Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, Phó Tổng Kiểm toán nhà nước, ông Vũ Văn Họa - Nguyên Phó Tổng Kiểm toán nhà nước, đại diện lãnh đạo Trường Đào tạo và Bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm toán, đại diện lãnh đạo các đơn vị trực thuộc Kiểm toán nhà nước. Về phía thành phố Đà Nẵng có ông Nguyễn Mạnh Hùng, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Đà Nẵng, đại diện lãnh đạo các cơ quan của Thành ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân và các sở, ban, ngành của Thành phố. Tham dự Khóa học, 287 học viên là cán bộ, công chức cấp xã, phường thuộc các nhóm vị trí việc làm liên quan trực tiếp đến công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tham mưu và tổ chức thực hiện nhiệm vụ quản lý tài chính, ngân sách, đầu tư và tài sản công sẽ được các giảng viên giàu kinh nghiệm đến từ Kiểm toán nhà nước, Bộ Tài chính, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh truyền đạt 5 chuyên đề, gồm: Thể chế, phân cấp và trách nhiệm quản lý ngân sách cấp xã, phường; Lập dự toán và phân bổ ngân sách cấp xã, phường; Điều hành ngân sách và quản lý tài sản công; Xử lý ngân sách cuối năm và quyết toán ngân sách; Quản lý nguồn cải cách tiền lương, quỹ lương và biên chế. Ông Nguyễn Mạnh Hùng, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Đà Nẵng phát biểu tại Khóa bồi dưỡng Phát biểu khai giảng Khóa học, Phó tổng Kiểm toán nhà nước Bùi Quốc Dũng cho biết, thời gian qua, trong quá trình kiểm toán tại các địa phương, đặc biệt trong bối cảnh triển khai mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, Kiểm toán nhà nước nhận thấy đội ngũ cán bộ ở cấp xã đang phải đảm nhiệm nhiều nhiệm vụ mới, thẩm quyền mới, trách nhiệm mới. Có những công việc trước đây thuộc cấp trung gian, nay được phân cấp trực tiếp về xã, phường. Trong khi đó, các quy định về ngân sách, tài sản công, mua sắm, đấu thầu, quyết toán, công khai tài chính… vừa nhiều, vừa có tính chuyên môn cao, lại đang trong quá trình tiếp tục hoàn thiện để phù hợp với mô hình tổ chức mới. Vì vậy, việc cán bộ cơ sở còn có những bỡ ngỡ, lúng túng, có những vấn đề chưa thống nhất trong cách hiểu và cách thực hiện. Thông qua kết quả kiểm toán cho thấy, nhiều sai sót không xuất phát từ động cơ cố ý mà do chưa nắm chắc thẩm quyền; chưa cập nhật đầy đủ quy định mới; chưa phân biệt rõ trách nhiệm giữa các chủ thể; hoặc chưa nhận diện được rủi ro ngay từ khâu đầu của quy trình. Những vấn đề như vậy nếu được phát hiện ngay trong quá trình thực hiện thì việc khắc phục thường đơn giản hơn rất nhiều. Từ thực tiễn đó, Kiểm toán nhà nước không chỉ dừng ở việc kết luận đơn vị đã làm đúng hay chưa đúng, mà còn cùng đồng hành thông qua việc chia sẻ từ thực tiễn kiểm toán để giúp các cơ quan, đơn vị nhận diện được những điểm dễ sai, những khâu có rủi ro cao và những vấn đề cần kiểm soát trước khi ra quyết định. “Do vậy, chúng ta cần chuyển dần từ tư duy “phát hiện sai sót sau khi đã xảy ra” sang việc góp phần giúp đơn vị “phòng ngừa sai sót ngay từ đầu”. Qua Khóa bồi dưỡng này, tôi hy vọng các đồng chí chính là những người đang đứng ở tuyến đầu của bộ máy chính quyền địa phương hai cấp, mọi thay đổi về cơ cấu tổ chức, phân cấp và phân quyền cuối cùng đều đi qua những công việc rất cụ thể. Vì vậy, tôi mong rằng trong khóa bồi dưỡng này, các đồng chỉ không chỉ dừng ở mang theo giáo trình mà mang chính công việc của mình vào lớp học, tích cực trao đổi với các đồng chí giảng viên để làm rõ những bất cập đang gặp từ thực tiễn triển khai công việc. Đặc biệt, sau khóa học, mỗi đồng chí khi trở về đơn vị sẽ có thêm những công cụ để tự kiểm soát công việc của mình tốt hơn.” - Phó Tổng Kiểm toán nhà nước đề nghị. Tham dự Khóa học có 287 học viên đến từ các đơn vị cấp xã, phường của Thành phố Đà Nẵng Phát biểu tại lễ khai giảng, ông Nguyễn Mạnh Hùng, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Đà Nẵng cho biết, việc tổ chức và vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp là một chủ trương lớn, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong tiến trình xây dựng nền hành chính hiện đại, tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, gần dân, sát dân và phục vụ Nhân dân tốt hơn. Đối với thành phố Đà Nẵng, năm 2026 được xác định là “Năm phát huy hiệu quả mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, các cơ chế, chính sách đặc thù, đẩy mạnh thu hút đầu tư, thúc đẩy phát triển kinh tế và bảo đảm an sinh xã hội”. “Trong mô hình mới, cấp xã được giao thêm nhiều nhiệm vụ, thẩm quyền và trách nhiệm và ngày càng phải chủ động quyết định, tổ chức thực hiện, kiểm soát nguồn lực và chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện. Yêu cầu đối với đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã vì thế cũng cao hơn, toàn diện hơn. Do vậy, yêu cầu đặt ra hiện nay không chỉ là “quản lý tài chính, tài sản công đúng quy định”, mà cao hơn là phải quản trị tài chính, tài sản công một cách chủ động, minh bạch, hiệu quả, tiết kiệm và hướng tới mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội. Đội ngũ cán bộ, công chức phải có kiến thức chuyên môn và kỹ năng thực tiễn ngày càng cao. Khóa bồi dưỡng này với sự đồng hành của Kiểm toán nhà nước, trực tiếp là Trường Đào tạo và Bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm toán là một cơ hội quý báu để các đồng chí cán bộ, công chức xã, phường trên địa bàn thành phố được trao đổi, tiếp cận kinh nghiệm thực tiễn từ hoạt động kiểm toán; qua đó nâng cao năng lực tham mưu, tổ chức thực hiện nhiệm vụ được giao.” Các đồng chí lãnh đạo, đại biểu chụp ảnh lưu niệm tại buổi khai giảng Khóa bồi dưỡng Để lớp học đạt được kết quả tốt theo mục tiêu đề ra, đồng chí Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố đề nghị các đồng chí học viên tập trung tham gia Khóa bồi dưỡng đầy đủ, nghiêm túc. Sau Khóa bồi dưỡng, đề nghị các cơ quan, đơn vị, địa phương cần rà soát ngay những vấn đề đang tồn tại tại đơn vị mình; chủ động áp dụng các nội dung đã được trao đổi; kịp thời báo cáo những khó khăn, vướng mắc để thành phố nghiên cứu, hướng dẫn và xử lý theo thẩm quyền. Khóa bồi dưỡng diễn ra từ ngày 4/9/2026 - 7/9/2026.

Hoàn thiện cơ sở pháp lý về kiểm toán môi trường và vai trò của Kiểm toán nhà nước

Sáng 12/8/2026, Hội đồng khoa học Kiểm toán nhà nước đã tổ chức nghiệm thu đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ “Hoàn thiện cơ sở pháp lý về kiểm toán môi trường và vai trò của Kiểm toán nhà nước” do ThS. Đào Trọng Khánh (Kiểm toán nhà nước khu vực VIII) làm đồng chủ nhiệm. Hội đồng nghiệm thu do TS. Bùi Quốc Dũng, Phó Tổng Kiểm toán nhà nước, Chủ tịch Hội đồng Khoa học Kiểm toán nhà nước làm Chủ tịch. TS Bùi Quốc Dũng, Chủ tịch Hội đồng nghiệm thu, đánh giá cao giá trị lý luận và thực tiễn của đề tài Hoạt động kiểm toán môi trường ngày càng được các Cơ quan Kiểm toán tối cao sử dụng như một công cụ hữu hiệu nhằm đánh giá hiệu quả quản lý, sử dụng tài nguyên, kiểm soát ô nhiễm và thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững. Nhận thức được vai trò ngày càng quan trọng của kiểm toán môi trường, thời gian qua, Kiểm toán nhà nước đã từng bước mở rộng phạm vi và nội dung kiểm toán. Giai đoạn 2018-2023, Kiểm toán nhà nước đã thực hiện hơn 40 cuộc kiểm toán có nội dung liên quan đến môi trường. Riêng năm 2024, Kiểm toán nhà nước đã triển khai nhiều cuộc kiểm toán chuyên đề như: quản lý, bảo vệ nguồn nước phục vụ sản xuất và sinh hoạt; quản lý môi trường tại các khu kinh tế, khu công nghiệp; quản lý, sử dụng kinh phí bảo vệ môi trường và ứng phó biến đổi khí hậu tại các bộ, ngành và địa phương. Thông qua hoạt động kiểm toán, Kiểm toán nhà nước đã phát hiện nhiều tồn tại, bất cập trong công tác quản lý môi trường, kiến nghị hoàn thiện cơ chế, chính sách và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực công dành cho bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, đại diện Ban đề tài - ThS Đào Trọng Khánh cho biết, mặc dù Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã quy định Kiểm toán nhà nước thực hiện kiểm toán trong lĩnh vực môi trường, nhưng Luật Kiểm toán nhà nước hiện hành chưa có quy định cụ thể về đối tượng, nội dung và phạm vi kiểm toán môi trường. Một số hoạt động có tác động trực tiếp đến môi trường của doanh nghiệp ngoài khu vực công chưa có cơ sở pháp lý rõ ràng để đưa vào kế hoạch kiểm toán. Bên cạnh đó, hệ thống dữ liệu môi trường phục vụ kiểm toán còn phân tán, việc chia sẻ thông tin giữa các cơ quan quản lý và Kiểm toán nhà nước chưa thực sự đồng bộ. Ngoài ra, các quy định về kiểm toán môi trường trong khu vực doanh nghiệp, tiêu chuẩn chuyên môn và hướng dẫn kỹ thuật phục vụ hoạt động kiểm toán môi trường vẫn chưa được hoàn thiện. Trong bối cảnh Việt Nam đang thực hiện các cam kết quốc tế về phát triển bền vững, ứng phó biến đổi khí hậu và mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, yêu cầu đối với hoạt động kiểm toán môi trường ngày càng cao, đòi hỏi phải mở rộng phạm vi đánh giá đối với các vấn đề môi trường liên ngành, liên vùng và các mục tiêu phát triển bền vững. Nhóm nghiên cứu cho rằng, bên cạnh việc tiếp tục hoàn thiện cơ sở pháp lý cho hoạt động kiểm toán môi trường, việc nâng cao vai trò của Kiểm toán nhà nước trong giám sát, đánh giá hiệu quả chính sách môi trường, quản lý tài nguyên, sử dụng nguồn lực công cho bảo vệ môi trường và thực hiện các cam kết quốc tế là yêu cầu cấp thiết. Điều này không chỉ góp phần nâng cao chất lượng quản trị môi trường quốc gia mà còn khẳng định vị thế của Kiểm toán nhà nước trong việc hỗ trợ Quốc hội, Chính phủ và các cơ quan quản lý nhà nước thực hiện mục tiêu phát triển bền vững. Đề tài “Hoàn thiện cơ sở pháp lý về kiểm toán môi trường và vai trò của Kiểm toán nhà nước” được thực hiện nhằm đề xuất định hướng, giải pháp hoàn thiện cơ sở pháp lý về kiểm toán môi trường, đồng thời nâng cao vai trò của Kiểm toán nhà nước trong giám sát việc quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công và nguồn lực công gắn với bảo vệ môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu và phát triển bền vững. ThS Đào Trọng Khánh đại diện Ban đề tài trình bày tóm tắt kết quả nghiên cứu Trên cơ sở mục tiêu nghiên cứu đã đặt ra, đề tài đã hệ thống hóa, làm rõ những vấn đề lý luận chung về môi trường, kiểm toán môi trường, cơ sở pháp lý kiểm toán môi trường và vai trò của Kiểm toán nhà nước. Theo đó, kiểm toán môi trường được xác định là một lĩnh vực kiểm toán chuyên biệt, được thực hiện thông qua kiểm toán tài chính, kiểm toán tuân thủ và kiểm toán hoạt động. Đề tài đã phân tích, đánh giá thực trạng cơ sở pháp lý và thực tiễn triển khai kiểm toán môi trường của Kiểm toán nhà nước. Kết quả nghiên cứu cho thấy cơ sở pháp lý về kiểm toán môi trường ở Việt Nam đã từng bước được hình thành, nhất là khi Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 ghi nhận vai trò của Kiểm toán nhà nước trong lĩnh vực môi trường; đồng thời Kiểm toán nhà nước đã ban hành, cập nhật chuẩn mực, quy trình, hướng dẫn nghiệp vụ và triển khai nhiều cuộc kiểm toán có nội dung liên quan đến môi trường. Bên cạnh kết quả đạt được, đề tài cũng chỉ ra một số hạn chế, bất cập chủ yếu như: Luật Kiểm toán nhà nước chưa quy định cụ thể về đối tượng, phạm vi, nội dung, phương thức và tiêu chí kiểm toán môi trường; cơ chế tiếp cận, chia sẻ dữ liệu môi trường còn thiếu đồng bộ; thẩm quyền kiểm tra, đối chiếu đối với các chủ thể ngoài khu vực công có tác động đến môi trường còn chưa rõ; nguồn nhân lực chuyên sâu, hướng dẫn kỹ thuật và ứng dụng công nghệ còn hạn chế. Trên cơ sở đó, đề tài đã khẳng định vai trò của Kiểm toán nhà nước là công cụ giám sát độc lập, góp phần tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình, đánh giá hiệu quả sử dụng nguồn lực công cho bảo vệ môi trường và hỗ trợ hoàn thiện chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường, tăng trưởng xanh, ứng phó biến đổi khí hậu và phát triển bền vững. Nhóm nghiên cứu cũng đã đề xuất hệ thống giải pháp nhằm hoàn thiện cơ sở pháp lý về kiểm toán môi trường và nâng cao vai trò của Kiểm toán nhà nước, tập trung vào hoàn thiện Luật Kiểm toán nhà nước và pháp luật có liên quan; làm rõ phạm vi, đối tượng, thẩm quyền, quyền tiếp cận dữ liệu và trách nhiệm phối hợp; cập nhật hướng dẫn kiểm toán môi trường theo các chủ đề mới như khí nhà kính, thị trường các-bon, EPR, kinh tế tuần hoàn, tài chính xanh; đồng thời phát triển nguồn nhân lực, tăng cường sử dụng chuyên gia, ứng dụng công nghệ số và nâng cao hiệu lực thực hiện kiến nghị kiểm toán. Có thể khẳng định, việc hoàn thiện cơ sở pháp lý về kiểm toán môi trường là yêu cầu cần thiết trong bối cảnh Việt Nam thực hiện mục tiêu phát triển bền vững, tăng trưởng xanh và cam kết phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050. Việc hoàn thiện này không nhằm mở rộng Kiểm toán nhà nước thành cơ quan quản lý hay thanh tra môi trường, mà nhằm tạo hành lang pháp lý rõ ràng để Kiểm toán nhà nước thực hiện tốt chức năng kiểm toán độc lập trong lĩnh vực môi trường. Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần bổ sung luận cứ khoa học và thực tiễn cho việc hoàn thiện pháp luật về kiểm toán môi trường ở Việt Nam, đồng thời đề xuất các giải pháp khả thi nhằm nâng cao chất lượng, hiệu lực và hiệu quả hoạt động kiểm toán môi trường của Kiểm toán nhà nước trong thời gian tới. Hội đồng nghiệm thu đánh giá cao giá trị lý luận và thực tiễn mà đề tài mang lại Nhận xét về kết quả nghiên cứu của đề tài, Hội đồng nghiệm thu đánh giá cao giá trị lý luận và thực tiễn mà đề tài mang lại. Đề tài đã nhận diện trúng các “nút thắt” pháp lý hiện nay cũng như thẳng thắn chỉ ra các khoảng trống pháp lý mang tính cốt lõi. Đặc biệt, Đề tài đã đưa ra được bộ 8 tiêu chí (trên giác độ tiếp cận là công cụ quản lý, kiểm soát môi trường) để phân tích, so sánh, phân biệt kiểm toán môi trường của Kiểm toán nhà nước với thanh tra môi trường, đánh giá tác động môi trường, quan trắc môi trường, kiểm toán nội bộ ISO14001. Đề tài nghiên cứu phản ánh thực tiễn pháp lý về kiểm toán môi trường hiện nay cũng như thực tiễn hoạt động kiểm toán môi trường của Kiểm toán nhà nước, giữa thực tiễn tác động công tác quản lý, bảo vệ môi trường từ hoạt động kiểm toán môi trường, đối sánh với vai trò kiểm toán môi trường của Kiểm toán nhà nước cần phải khẳng định; nêu được các nhân tố tác động đến kiểm toán môi trường ở Việt Nam; xây dựng ma trận so sánh một số tiêu chí để rút ra giá trị tham khảo kinh nghiệm quốc tế cho Kiểm toán nhà nước Việt Nam… Việc bổ sung bảng phân biệt kiểm toán môi trường của Kiểm toán nhà nước với thanh tra môi trường, đánh giá tác động môi trường, quan trắc môi trường và kiểm toán nội bộ theo ISO 14001 đã góp phần khắc phục tình trạng đồng nhất giữa các công cụ quản lý môi trường được phản biện kín chỉ ra. Đề tài đã đón đầu xu hướng công nghệ khi đưa các quy trình ứng dụng GIS, dữ liệu viễn thám, dữ liệu lớn (Big Data) và Trí tuệ nhân tạo (AI) vào việc thu thập bằng chứng kiểm toán xanh. Những đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ sở pháp lý về kiểm toán môi trường, đồng thời nâng cao vai trò của Kiểm toán nhà nước có giá trị thực tiễn, với những nguyên tắc, giải pháp và lộ trình tương đối rõ ràng; có giá trị tham khảo thiết thực đối với định hướng phát triển kiểm toán môi trường của Kiểm toán nhà nước trong thời gian tới. Toàn cảnh buổi nghiệm thu Nhằm hoàn thiện đề tài, Hội đồng đề nghị Ban đề tài rà soát, biên tập lại một số nội dung kết cấu các mục; rà soát lại các kinh nghiệm quốc tế để gắn với nội dung nghiên cứu của đề tài. Ban đề tài nên tập trung vào các bất cập hiện tại của hoạt động kiểm toán môi trường và định hướng phát triển của Kiểm toán môi trường để đưa ra các giải pháp. Đánh giá cao giá trị lý luận và thực tiễn cũng như công tác tổ chức nghiên cứu đề tài, Chủ tịch Hội đồng nghiệm thu - Phó Tổng Kiểm toán nhà nước Bùi Quốc Dũng đề nghị Ban Đề tài khi tiếp tục hoàn thiện cơ sở pháp lý và xây dựng Chiến lược kiểm toán môi trường giai đoạn 5-10 năm tới, cần có cách tiếp cận toàn diện, phân định rõ giữa giải quyết bất cập hiện tại và định hướng tương lai. Theo đó, bên cạnh việc nhận diện, tháo gỡ những vướng mắc từ thực tiễn môi trường để kiến nghị hoàn thiện pháp luật, cần dự báo sớm những xu hướng mới của môi trường trên thế giới, nhất là các vấn đề về Net Zero, phát triển bền vững, các công cụ kinh tế môi trường. Chủ tịch Hội đồng cũng lưu ý yêu cầu mở rộng phạm vi, đối tượng và phương thức tiếp cận dữ liệu phục vụ môi trường, hướng tới cơ chế khai thác dữ liệu thường xuyên, liên tục, kết nối trực tiếp, thay vì chủ yếu tiếp cận theo từng cuộc kiểm toán.  Đề tài được Hội đồng nghiệm thu xếp loại Xuất sắc./.

Tiết kiệm, phòng, chống tham nhũng, lãng phí trong thực hiện nhiệm vụ hằng ngày

Chiều 21/7, Trường Đào tạo và Bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm toán (Trường) đã tổ chức Hội nghị tuyên truyền, phổ biến Luật Tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025 (Luật số 110/2025/QH15 của Quốc hộ) và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng (Luật số 132/2025/QH15 của Quốc hội). Tham dự Hội nghị có Giám đốc Trường Đặng Thế Bình; các Phó Giám đốc: Hà Minh Tuấn, Nguyễn Huy Hoàng; cùng toàn thể viên chức, người lao động thuộc Trường. Giám đốc Trường Đặng Thế Bình chủ trì Hội nghị Phát biểu khai mạc Hội nghị, Ông Đặng Thế Bình, Giám đốc Trường nhấn mạnh, đối với Trường Đào tạo và Bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm toán, việc quán triệt và triển khai thực hiện nghiêm các quy định của pháp luật không chỉ là yêu cầu bắt buộc mà còn là trách nhiệm của mỗi đảng viên, viên chức và người lao động. “Mỗi cá nhân cần nhận thức đầy đủ rằng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và phòng, chống tham nhũng không chỉ là nhiệm vụ của người đứng đầu hay của một đơn vị chuyên trách mà phải trở thành ý thức tự giác trong thực hiện nhiệm vụ hằng ngày”. Tại Hội nghị, TS. Nguyễn Hữu Hiểu, Trưởng khoa Cơ sở đã phổ biến các quy định của Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025. Trong đó, làm rõ khái niệm tiết kiệm, chống lãng phí theo quy định hiện hành; các hành vi gây lãng phí; nguyên tắc tiết kiệm, chống lãng phí và trách nhiệm của công chức, viên chức và người lao động. Từ đó, xây dựng chương trình và lan toả văn hoá tiết kiệm, chống lãng phí gắn chặt với hoạt động của Trường Đào tạo và Bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm toán. TS. Nguyễn Hữu Hiểu, Trưởng khoa Cơ sở phổ biến Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025 Đối với Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng, Trưởng khoa Chuyên ngành Hoàng Thế Linh đã làm rõ cơ sở chính trị, pháp lý và bối cảnh thực tiễn dấn đến việc ban hành Luật; các nội dung được sửa đổi, bổ sung trong Luật Tại Hội nghị, các đảng viên, viên chức, người lao động đã trao đổi, thảo luận về xây dựng chương trình, kế hoạch tiết kiệm, chống lãng phí, trong đó có việc lồng ghép vào nội quy, quy chế làm việc của Trường; tổ chức các hoạt động phong trào và lồng ghép nội dung giáo dục tiết kiệm, chống lãng phí trong hoạt động thường niên; trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu và từng cá nhân. Trưởng khoa Chuyên ngành Hoàng Thế Linh chia sẻ một số quy định của Luật Phòng, chống tham nhũng Đánh giá cao các nội dung báo cáo viên đã truyền đạt, đặc biệt là những điểm mới của các Luật, phân tích, làm rõ nhiều vấn đề gắn với thực tiễn công tác quản lý nhà nước, quản lý tài chính công, tài sản công và công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, Giám đốc Trường Đào tạo và Bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm toán Đặng Thế Bình đề nghị, ngay sau Hội nghị, toàn thể viên chức, người lao động tiếp tục thực hiện tốt các quy định của pháp luật và tập trung vào một số nhiệm vụ trọng tâm: Thứ nhất, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật trong toàn Trường, bảo đảm mỗi viên chức, người lao động đều nắm được những quy định cơ bản, những yêu cầu cần thực hiện trong công việc hằng ngày. Thứ hai, tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính; nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu và trách nhiệm của từng cá nhân trong quản lý, sử dụng nguồn kinh phí, tài sản, trang thiết bị được giao. Thứ ba, thực hiện công khai, minh bạch trong các hoạt động của Trường; chú trọng công tác kiểm tra, giám sát nội bộ nhằm phòng ngừa các hành vi vi phạm pháp luật, góp phần xây dựng tập thể đoàn kết, trách nhiệm và liêm chính. Thứ tư, mỗi viên chức, người lao động cần phát huy tinh thần gương mẫu, tự giác thực hành tiết kiệm từ những việc nhỏ nhất; sử dụng hiệu quả điện, nước, văn phòng phẩm, thiết bị làm việc; bảo vệ tài sản chung; đồng thời tích cực tham gia xây dựng môi trường làm việc kỷ cương, lành mạnh, minh bạch. Giám đốc Đặng Thế Bình tin tưởng rằng, “với những kiến thức đã được tiếp thu, cùng tinh thần trách nhiệm và quyết tâm của toàn thể viên chức, người lao động thuộc Trường, các quy định của pháp luật sẽ được triển khai thực hiện nghiêm túc, thống nhất và hiệu quả, góp phần xây dựng Trường ngày càng phát triển, hoạt động chuyên nghiệp, minh bạch và đáp ứng yêu cầu đổi mới trong giai đoạn hiện nay.”

Khai giảng Khóa bồi dưỡng “Nâng cao năng lực quản trị tài chính công, tài sản công cho đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã theo mô hình chính quyền địa phương 2 cấp” tại thành phố Đà Nẵng

Được sự đồng ý của lãnh đạo Kiểm toán nhà nước và lãnh đạo Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng, nhằm nâng cao năng lực quản trị tài chính công, tài sản công cho cán bộ, công chức cấp xã, phường trong thực thi nhiệm theo mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, sáng ngày 4/9/2026 tại Trường Chính trị Thành phố Đà Nẵng, Trường Đào tạo và Bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm toán phối hợp với Sở Nội vụ Thành phố Đà Nẵng tổ chức Khóa bồi dưỡng “Nâng cao năng lực quản trị tài chính công, tài sản công cho đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã theo mô hình chính quyền địa phương 2 cấp”. Phó Tổng Kiểm toán nhà nước Bùi Quốc Dũng phát biểu khai giảng Khóa bồi dưỡng Tới dự khai giảng Khóa bồi dưỡng, về phía Kiểm toán nhà nước, có ông Bùi Quốc Dũng, Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, Phó Tổng Kiểm toán nhà nước, ông Vũ Văn Họa - Nguyên Phó Tổng Kiểm toán nhà nước, đại diện lãnh đạo Trường Đào tạo và Bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm toán, đại diện lãnh đạo các đơn vị trực thuộc Kiểm toán nhà nước. Về phía thành phố Đà Nẵng có ông Nguyễn Mạnh Hùng, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Đà Nẵng, đại diện lãnh đạo các cơ quan của Thành ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân và các sở, ban, ngành của Thành phố. Tham dự Khóa học, 287 học viên là cán bộ, công chức cấp xã, phường thuộc các nhóm vị trí việc làm liên quan trực tiếp đến công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tham mưu và tổ chức thực hiện nhiệm vụ quản lý tài chính, ngân sách, đầu tư và tài sản công sẽ được các giảng viên giàu kinh nghiệm đến từ Kiểm toán nhà nước, Bộ Tài chính, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh truyền đạt 5 chuyên đề, gồm: Thể chế, phân cấp và trách nhiệm quản lý ngân sách cấp xã, phường; Lập dự toán và phân bổ ngân sách cấp xã, phường; Điều hành ngân sách và quản lý tài sản công; Xử lý ngân sách cuối năm và quyết toán ngân sách; Quản lý nguồn cải cách tiền lương, quỹ lương và biên chế. Ông Nguyễn Mạnh Hùng, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Đà Nẵng phát biểu tại Khóa bồi dưỡng Phát biểu khai giảng Khóa học, Phó tổng Kiểm toán nhà nước Bùi Quốc Dũng cho biết, thời gian qua, trong quá trình kiểm toán tại các địa phương, đặc biệt trong bối cảnh triển khai mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, Kiểm toán nhà nước nhận thấy đội ngũ cán bộ ở cấp xã đang phải đảm nhiệm nhiều nhiệm vụ mới, thẩm quyền mới, trách nhiệm mới. Có những công việc trước đây thuộc cấp trung gian, nay được phân cấp trực tiếp về xã, phường. Trong khi đó, các quy định về ngân sách, tài sản công, mua sắm, đấu thầu, quyết toán, công khai tài chính… vừa nhiều, vừa có tính chuyên môn cao, lại đang trong quá trình tiếp tục hoàn thiện để phù hợp với mô hình tổ chức mới. Vì vậy, việc cán bộ cơ sở còn có những bỡ ngỡ, lúng túng, có những vấn đề chưa thống nhất trong cách hiểu và cách thực hiện. Thông qua kết quả kiểm toán cho thấy, nhiều sai sót không xuất phát từ động cơ cố ý mà do chưa nắm chắc thẩm quyền; chưa cập nhật đầy đủ quy định mới; chưa phân biệt rõ trách nhiệm giữa các chủ thể; hoặc chưa nhận diện được rủi ro ngay từ khâu đầu của quy trình. Những vấn đề như vậy nếu được phát hiện ngay trong quá trình thực hiện thì việc khắc phục thường đơn giản hơn rất nhiều. Từ thực tiễn đó, Kiểm toán nhà nước không chỉ dừng ở việc kết luận đơn vị đã làm đúng hay chưa đúng, mà còn cùng đồng hành thông qua việc chia sẻ từ thực tiễn kiểm toán để giúp các cơ quan, đơn vị nhận diện được những điểm dễ sai, những khâu có rủi ro cao và những vấn đề cần kiểm soát trước khi ra quyết định. “Do vậy, chúng ta cần chuyển dần từ tư duy “phát hiện sai sót sau khi đã xảy ra” sang việc góp phần giúp đơn vị “phòng ngừa sai sót ngay từ đầu”. Qua Khóa bồi dưỡng này, tôi hy vọng các đồng chí chính là những người đang đứng ở tuyến đầu của bộ máy chính quyền địa phương hai cấp, mọi thay đổi về cơ cấu tổ chức, phân cấp và phân quyền cuối cùng đều đi qua những công việc rất cụ thể. Vì vậy, tôi mong rằng trong khóa bồi dưỡng này, các đồng chỉ không chỉ dừng ở mang theo giáo trình mà mang chính công việc của mình vào lớp học, tích cực trao đổi với các đồng chí giảng viên để làm rõ những bất cập đang gặp từ thực tiễn triển khai công việc. Đặc biệt, sau khóa học, mỗi đồng chí khi trở về đơn vị sẽ có thêm những công cụ để tự kiểm soát công việc của mình tốt hơn.” - Phó Tổng Kiểm toán nhà nước đề nghị. Tham dự Khóa học có 287 học viên đến từ các đơn vị cấp xã, phường của Thành phố Đà Nẵng Phát biểu tại lễ khai giảng, ông Nguyễn Mạnh Hùng, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Đà Nẵng cho biết, việc tổ chức và vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp là một chủ trương lớn, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong tiến trình xây dựng nền hành chính hiện đại, tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, gần dân, sát dân và phục vụ Nhân dân tốt hơn. Đối với thành phố Đà Nẵng, năm 2026 được xác định là “Năm phát huy hiệu quả mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, các cơ chế, chính sách đặc thù, đẩy mạnh thu hút đầu tư, thúc đẩy phát triển kinh tế và bảo đảm an sinh xã hội”. “Trong mô hình mới, cấp xã được giao thêm nhiều nhiệm vụ, thẩm quyền và trách nhiệm và ngày càng phải chủ động quyết định, tổ chức thực hiện, kiểm soát nguồn lực và chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện. Yêu cầu đối với đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã vì thế cũng cao hơn, toàn diện hơn. Do vậy, yêu cầu đặt ra hiện nay không chỉ là “quản lý tài chính, tài sản công đúng quy định”, mà cao hơn là phải quản trị tài chính, tài sản công một cách chủ động, minh bạch, hiệu quả, tiết kiệm và hướng tới mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội. Đội ngũ cán bộ, công chức phải có kiến thức chuyên môn và kỹ năng thực tiễn ngày càng cao. Khóa bồi dưỡng này với sự đồng hành của Kiểm toán nhà nước, trực tiếp là Trường Đào tạo và Bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm toán là một cơ hội quý báu để các đồng chí cán bộ, công chức xã, phường trên địa bàn thành phố được trao đổi, tiếp cận kinh nghiệm thực tiễn từ hoạt động kiểm toán; qua đó nâng cao năng lực tham mưu, tổ chức thực hiện nhiệm vụ được giao.” Các đồng chí lãnh đạo, đại biểu chụp ảnh lưu niệm tại buổi khai giảng Khóa bồi dưỡng Để lớp học đạt được kết quả tốt theo mục tiêu đề ra, đồng chí Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố đề nghị các đồng chí học viên tập trung tham gia Khóa bồi dưỡng đầy đủ, nghiêm túc. Sau Khóa bồi dưỡng, đề nghị các cơ quan, đơn vị, địa phương cần rà soát ngay những vấn đề đang tồn tại tại đơn vị mình; chủ động áp dụng các nội dung đã được trao đổi; kịp thời báo cáo những khó khăn, vướng mắc để thành phố nghiên cứu, hướng dẫn và xử lý theo thẩm quyền. Khóa bồi dưỡng diễn ra từ ngày 4/9/2026 - 7/9/2026.

Vai trò của Kiểm toán nhà nước trong việc thúc đẩy thực hiện các cam kết quốc gia về thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển bền vững

Là quốc gia đang phát triển có đường bờ biển dài, nhiều vùng đồng bằng thấp và mức độ phụ thuộc tương đối lớn vào tài nguyên thiên nhiên, Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia chịu tác động nặng nề của biến đổi khí hậu. Các hiện tượng như nước biển dâng, xâm nhập mặn, hạn hán kéo dài, mưa lũ bất thường và sạt lở đất ngày càng gia tăng cả về tần suất lẫn cường độ, ảnh hưởng trực tiếp đến sinh kế của người dân, hệ sinh thái tự nhiên và quá trình phát triển kinh tế - xã hội. GS.TS Đoàn Xuân Tiên, Phó Chủ tịch Hội đồng khoa học Kiểm toán nhà nước làm Chủ tịch Hội đồng nghiệm thu Trong bối cảnh đó, biến đổi khí hậu không chỉ là thách thức về môi trường mà còn trở thành vấn đề phát triển có tính liên ngành, tác động sâu rộng đến tăng trưởng, an sinh xã hội và mục tiêu phát triển bền vững của quốc gia. Trước yêu cầu đó, Việt Nam đã chủ động tham gia và từng bước thực hiện nhiều cam kết quốc tế về biến đổi khí hậu và phát triển bền vững. Song song với việc tham gia các cam kết quốc tế, Việt Nam đã tích cực nội địa hóa các định hướng toàn cầu thông qua việc ban hành nhiều chính sách, chiến lược và chương trình hành động cấp quốc gia về biến đổi khí hậu và phát triển bền vững. Các văn bản này đã tạo nền tảng quan trọng cho việc triển khai các cam kết trong thực tiễn. Trên thực tế, Việt Nam đã đạt được một số kết quả tích cực trong thực hiện Chương trình Nghị sự 2030, nhất là ở các lĩnh vực như giảm nghèo, giáo dục, y tế và bình đẳng giới. Tuy nhiên, quá trình thực hiện các mục tiêu gắn với môi trường, khí hậu và quản lý tài nguyên vẫn còn nhiều khó khăn. Tình trạng ô nhiễm môi trường, suy giảm hệ sinh thái, khai thác tài nguyên thiếu bền vững, cùng với những hạn chế trong phối hợp liên ngành, bố trí nguồn lực và giám sát thực hiện, đang làm giảm hiệu quả của nhiều chính sách, chương trình và dự án. Trên thế giới, nhiều Cơ quan Kiểm toán tối cao (SAI) đã từng bước khẳng định vai trò ngày càng rõ nét trong việc kiểm tra, đánh giá quá trình thực hiện các cam kết về khí hậu và phát triển bền vững. Phạm vi hoạt động của các SAI không còn chỉ giới hạn ở kiểm toán chi tiêu công, mà đã được mở rộng sang đánh giá hiệu quả các chính sách về giảm phát thải, chuyển đổi năng lượng, quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững (SDGs). Trong xu thế chung đó, Kiểm toán nhà nước Việt Nam cũng đã từng bước triển khai một số cuộc kiểm toán chuyên đề có liên quan, đồng thời tích cực thúc đẩy hợp tác quốc tế, tham gia các hoạt động của INTOSAI, ASOSAI và các cơ chế hợp tác khu vực trong lĩnh vực kiểm toán môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu. Tuy nhiên, thực tiễn cũng cho thấy hoạt động kiểm toán trong lĩnh vực này ở Việt Nam vẫn còn không ít hạn chế. Đặc biệt, còn thiếu các tiêu chí và công cụ phù hợp để đo lường, đánh giá mức độ thực hiện cam kết; việc phối hợp, chia sẻ thông tin giữa Kiểm toán nhà nước với các cơ quan chuyên trách về môi trường, tài chính khí hậu và phát triển bền vững chưa thật sự chặt chẽ; nhận thức về vai trò của kiểm toán trong thúc đẩy thực hiện các cam kết quốc gia trong lĩnh vực này cũng chưa đầy đủ và toàn diện. ThS. Nguyễn Thị Kiều Thu, Kiểm toán nhà nước chuyên ngành III, thay mặt Ban đề tài báo cáo tóm tắt kết quả nghiên cứu Đề tài “Vai trò của Kiểm toán nhà nước trong việc thúc đẩy thực hiện các cam kết quốc gia về thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển bền vững” do ThS. Nguyễn Thị Kiều Thu - Kiểm toán nhà nước chuyên ngành III làm chủ nhiệm, trên cơ sở đó được tiến hành nghiên cứu góp phần làm rõ vị trí, vai trò, nội dung và phương thức phát huy chức năng của Kiểm toán nhà nước trong việc thúc đẩy thực hiện các cam kết quốc gia về biến đổi khí hậu và phát triển bền vững trong điều kiện Việt Nam. Về phương diện thực tiễn, đề tài không chỉ đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế, phương thức và nội dung kiểm toán trong lĩnh vực này, mà còn xây dựng Bảng lộ trình triển khai kiểm toán biến đổi khí hậu và phát triển bền vững và Bảng khung tiêu chí kiểm toán lĩnh vực biến đổi khí hậu và phát triển bền vững. Đây là những kết quả có giá trị tham khảo trực tiếp cho việc tổ chức hoạt động kiểm toán, lựa chọn trọng tâm kiểm toán, xác định nội dung đánh giá và xem xét trách nhiệm thực hiện cam kết của các cơ quan, đơn vị liên quan, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả giám sát, tăng cường trách nhiệm giải trình, minh bạch trong quản lý nhà nước về biến đổi khí hậu và phát triển bền vững ở Việt Nam. Tập trung nghiên cứu giai đoạn 2021-2025, là giai đoạn gắn với việc Việt Nam đẩy mạnh thực hiện các cam kết quốc tế sau COP26, đồng thời triển khai các định hướng, kế hoạch quan trọng như Kế hoạch quốc gia thích ứng với biến đổi khí hậu giai đoạn 2021-2030 theo Quyết định số 1422/QĐ-TTg và Lộ trình thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững theo Quyết định số 841/QĐ-TTg, đề tài nghiên cứu tập trung phân tích thực tiễn các cuộc kiểm toán và các quyết định giao nhiệm vụ kiểm toán có liên quan. Hội đồng nghiệm thu đánh giá cao giá trị lý luận và thực tiễn của Đề tài Kết quả nghiên cứu cho thấy, Kiểm toán nhà nước không chỉ thực hiện chức năng kiểm toán đối với việc quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công, mà còn góp phần nâng cao tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và hiệu quả thực hiện chính sách thông qua các kết luận, kiến nghị kiểm toán. Trong điều kiện quản trị rủi ro khí hậu đòi hỏi sự phối hợp liên ngành, liên cấp và dựa trên bằng chứng, kiểm toán môi trường và kiểm toán hoạt động có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá mức độ gắn kết giữa mục tiêu chính sách, tổ chức thực hiện và kết quả đạt được trên thực tế. Qua phân tích thực trạng cho thấy Việt Nam đã đạt được một số kết quả tích cực trong việc nội địa hóa các cam kết quốc gia về biến đổi khí hậu và phát triển bền vững thông qua hệ thống chiến lược, quy hoạch và chương trình hành động tương đối đầy đủ. Tuy nhiên, việc triển khai các cam kết này vẫn đối mặt với nhiều hạn chế như phân tán nguồn lực, thiếu đồng bộ dữ liệu, khó khăn trong lượng hóa kết quả, cũng như khoảng cách giữa mục tiêu đề ra và hiệu quả thực thi tại nhiều bộ, ngành và địa phương. Trong bối cảnh đó, hoạt động của Kiểm toán nhà nước liên quan đến môi trường, biến đổi khí hậu và phát triển bền vững đã bước đầu được mở rộng về phạm vi và nội dung, song mức độ lồng ghép các tiêu chí khí hậu và phát triển bền vững vào kiểm toán vẫn chưa thực sự hệ thống; các nội dung như tài chính khí hậu, giảm phát thải, thích ứng dựa vào hệ sinh thái, hay kiểm toán việc thực hiện các mục tiêu SDGs mới chỉ được tiếp cận ở mức độ ban đầu. Kết quả khảo sát các bên liên quan và phân tích mô hình nghiên cứu khẳng định vai trò của Kiểm toán nhà nước có mối liên hệ tích cực và có ý nghĩa thống kê với việc nâng cao tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và mức độ thực hiện kiến nghị kiểm toán của các đơn vị được kiểm toán. Trên cơ sở đó, có thể nhận thấy hoạt động kiểm toán có khả năng góp phần hỗ trợ việc thực hiện các cam kết quốc gia về thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển bền vững, thông qua việc cung cấp thông tin, bằng chứng và kiến nghị phục vụ hoàn thiện quản lý, điều hành và sử dụng nguồn lực công. Kết quả này cũng cho thấy khi hoạt động kiểm toán được thiết kế phù hợp, có tiêu chí đánh giá rõ ràng và gắn với mục tiêu chính sách dài hạn, Kiểm toán nhà nước có thể phát huy tốt hơn vai trò của mình trong việc xem xét tiến độ thực hiện, phát hiện những hạn chế, bất cập trong cơ chế, chính sách và tổ chức thực hiện, qua đó hỗ trợ các cơ quan có thẩm quyền trong việc điều chỉnh phân bổ và sử dụng nguồn lực công cho ứng phó với biến đổi khí hậu. Đề tài được Hội đồng nghiệm thu xếp loại xuất sắc Từ các phân tích lý luận và thực tiễn, đề tài cho rằng việc nâng cao vai trò của Kiểm toán nhà nước trong thúc đẩy thực hiện các cam kết quốc gia về biến đổi khí hậu và phát triển bền vững không chỉ là yêu cầu đặt ra từ sự phát triển của hoạt động kiểm toán, mà còn phù hợp với đòi hỏi nâng cao chất lượng quản lý nhà nước trong giai đoạn hiện nay. Trong điều kiện Việt Nam đang thúc đẩy chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng xanh, phát thải thấp và thích ứng với khí hậu, Kiểm toán nhà nước cần tiếp tục phát huy vai trò của mình trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ được pháp luật quy định, thông qua kiểm toán việc quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công và đưa ra các kết luận, kiến nghị kiểm toán có giá trị. Qua đó, Kiểm toán nhà nước góp phần tăng cường tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và hiệu quả thực hiện các chương trình, dự án, chính sách công có liên quan đến các cam kết quốc gia về môi trường, khí hậu và phát triển bền vững. Đánh giá về Đề tài, Hội đồng nghiệm thu khẳng định đề tài có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cao, nội dung công phu, cập nhật bối cảnh quốc tế và trong nước, bước đầu làm rõ vai trò của Kiểm toán nhà nước trong thúc đẩy thực hiện các cam kết quốc gia về thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển bền vững. Đề tài cũng đã làm rõ mối quan hệ giữa biến đổi khí hậu, phát triển bền vững, cam kết quốc gia và yêu cầu giám sát độc lập; phân biệt các phạm vi kiểm toán có liên quan và khẳng định việc triển khai thông qua các loại hình kiểm toán hiện hành, không hình thành một loại hình kiểm toán mới ngoài quy định. Đề tài cũng đã nhận diện tương đối phù hợp các nhóm hạn chế về cơ sở pháp lý và tiêu chí, phương pháp tiếp cận, dữ liệu và bằng chứng, nhân lực chuyên sâu, phối hợp và chia sẻ thông tin, qua đó tạo căn cứ cho các giải pháp được đề xuất. Về giải pháp và khả năng ứng dụng, đề tài đã xây dựng năm nhóm giải pháp tương đối toàn diện, lộ trình ba giai đoạn, khung tiêu chí, tiêu chí lựa chọn chủ đề, danh mục dữ liệu và chương trình đào tạo có giá trị định hướng. Tuy nhiên, các nội dung này hiện phù hợp ở mức khung đề xuất và cần được lựa chọn thí điểm, đánh giá, chuẩn hóa trước khi sử dụng như hướng dẫn nghiệp vụ chính thức. Để hoàn thiện đề tài, Ban chủ nhiệm cần nhấn mạnh trọng tâm, tăng chiều sâu phân tích tác động và ưu tiên các giải pháp để nâng cao tính cô đọng, khả thi và giá trị ứng dụng của kết quả nghiên cứu. Ngoài ra, cần làm rõ phạm vi và trọng tâm nghiên cứu, cơ sở lý luận và chiếu sâu phân tích thực trạng, nghiên cứu định lượng và tính thống nhất của số liệu; hệ thống giải pháp, lộ trình và thẩm quyền kiến nghị. Đề tài cần hoàn thiện khung tiêu chí kiểm toán, làm tõ tính mới và khả năng ứng dụng, tiếp tục chuẩn hóa khung tiêu chí kiểm toán, phân biệt rõ tiêu chí hoặc chuẩn so sánh với câu hỏi kiểm toán, chỉ số đo lường, nguồn bằng chứng và thủ tục kiểm toán. Khung tiêu chí hiện có nên được xác định là danh mục định hướng cần tiếp tục thí điểm và hoàn thiện, chưa phải hướng dẫn nghiệp vụ có thể áp dụng trực tiếp cho mọi cuộc kiểm toán. Phát biểu kết luận tại buổi nghiệm thu, GS.TS Đoàn Xuân Tiên, Chủ tịch Hội đồng nghiệm thu cho rằng Đề tài cần ưu tiên giải pháp theo mức độ khả thi và thứ tự thực hiện; làm rõ giải pháp nào thuộc thẩm quyền Kiểm toán nhà nước, giải pháp nào cần kiến nghị Quốc hội, Chính phủ; cần rút gọn các phần liệt kê thông tin. Đề tài đã kết hợp phân tích thực tiễn với mô hình định lượng, tuy nhiên cần nhấn mạnh rõ hơn giá trị mới so với các đề tài kiểm toán môi trường trước đây của Kiểm toán nhà nước, đóng góp cụ thể của đề tài đối với việc xây dựng lộ trình kiểm toán biến đổi khí hậu đến 2030. Đề tài được Hội đồng nghiệm thu xếp loại xuất sắc.

Thẩm định Chương trình bồi dưỡng chuyên môn theo vị trí việc làm ngạch Kiểm toán viên chính

Chiều 10/9/2026, Kiểm toán nhà nước đã tổ chức họp thẩm định Chương trình bồi dưỡng chuyên môn theo vị trí việc làm ngạch Kiểm toán viên chính cho Kiểm toán viên Nhà nước. TS Nguyễn Lương Thuyết, Vụ trưởng Vụ Chính sách Kiểm toán nhà nước làm chủ tịch Hội đồng thẩm định. TS Vũ Thanh Hải, Kiểm toán trưởng Kiểm toán nhà nước chuyên ngành IV, Trưởng ban rà soát tài liệu cùng các thành viên ban rà soát và hội đồng thẩm định cùng tham dự cuộc họp. Căn cứ Quyết định số 409/QĐ-KTNN ngày 07/4/2026 của Tổng Kiểm toán nhà nước về việc thành lập Ban rà soát, sửa đổi Chương trình bồi dưỡng chuyên môn theo vị trí việc làm ngạch Kiểm toán viên chính, Ban rà soát đã tiến hành cơ cấu lại chương trình (ban hành theo Quyết định số 420/QĐ-KTNN ngày 11/4/2023) thành 03 chương trình bồi dưỡng có liên kết chặt chẽ về nội dung, đồng thời đáp ứng thời lượng bồi dưỡng theo quy định của Nghị định số 171/2025/NĐ-CP ngày 30/6/2025 của Chính phủ Quy định về đào tạo, bồi dưỡng công chức. Hội đồng thẩm định đề nghị Ban rà soát nghiên cứu bổ sung, chỉnh sửa một số nội dung để hoàn thiện tài liệu Theo đó, Chương trình bồi dưỡng chuyên môn theo vị trí việc làm ngạch Kiểm toán viên chính hướng tới công chức đang ở ngạch kiểm toán viên có thời gian giữ ngạch 03 năm trở lên hoặc ở ngạch tương đương có thời gian giữ ngạch 06 năm trở lên và có chứng chỉ bồi dưỡng chuyên môn ngạch kiểm toán viên; công chức đang ở ngạch Chuyên viên chính và tương đương có chứng chỉ bồi dưỡng chuyên môn ngạch kiểm toán viên và các đối tượng khác cần bồi dưỡng, bổ trợ kiến thức và kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ kiểm toán theo quyết định của Tổng Kiểm toán nhà nước. Chương trình được xây dựng theo ba hợp phần, trong đó, Hợp phần 1 - Kiến thức cơ sở - nhằm trang bị cho học viên kiến thức, kỹ năng chuyên môn kiểm toán nâng cao và tương đối phức tạp để người học vận dụng vào hoạt động kiểm toán đáp ứng tiêu chuẩn của ngạch kiểm toán viên chính theo quy định. Học viên sẽ được cập nhật, nâng cao kiến thức về chính sách tài khóa, tiền tệ, đầu tư công, nợ công; kỹ năng phân tích, đánh giá các chính sách công. Hợp phần 1 được tổ chức thành 3 chuyên đề với tổng thời lượng 76 tiết, bao gồm: Phân tích báo cáo quyết toán ngân sách nhà nước; Phân tích, đánh giá chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ và nợ công; và Phân tích, đánh giá chính sách đầu tư công. Đại diện Ban rà soát báo cáo tóm tắt kết quả rà soát Hợp phần 2 - Kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ kiểm toán - hướng đến mục tiêu cập nhật, nâng cao kiến thức và khả năng xử lý các thách thức, tình huống trong quá trình thực hiện nhiệm vụ kiểm toán tương ứng với tiêu chuẩn về năng lực chuyên môn, nghiệp vụ của kiểm toán viên chính, như: lập kế hoạch kiểm toán chi tiết, biên bản kiểm toán; lập, thẩm định kế hoạch kiểm toán và báo cáo của Đoàn kiểm toán; kiếm soát chất lượng kiểm toán; nội dung, phương pháp tổ chức, quản lý hoạt động Tổ kiểm toán, Đoàn kiểm toán; tổ chức kiểm toán chuyên đề; kiểm tra việc thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán... Học viên tham gia chương trình bồi dưỡng sẽ được trao đổi về 6 chuyên đề: Lập kế hoạch kiểm toán chi tiết và biên bản kiểm toán của Tổ kiểm toán; Đảm bảo chất lượng kiểm toán và Kiểm soát chất lượng kiểm toán của Kiểm toán nhà nước; Nội dung, phương pháp tổ chức, quản lý hoạt động Tổ kiểm toán và Đoàn kiểm toán; Lập, thẩm định kế hoạch kiểm toán và báo cáo kiểm toán của Đoàn kiểm toán; Tổ chức kiểm toán chuyên đề; Kiểm tra việc thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán. Hợp phần 3 - Kỹ năng - bao gồm 5 chuyên đề: Hệ thống chính trị và vị trí của Kiểm toán nhà nước trong mối quan hệ với các tổ chức thuộc hệ thống chính trị ở Việt Nam; Xây dựng báo cáo tổng hợp kết quả kiểm toán năm; Kỹ năng lãnh đạo, quản lý của Kiểm toán viên chính; Kỹ năng tổng hợp kết quả kiểm toán để lập báo cáo kiểm toán của đoàn kiểm toán và thông báo kết quả kiểm toán của Tổ kiểm toán và Chuyên đề báo cáo (chuyên đề được xác định trước khi tổ chức lớp học, phù hợp với mục tiêu, đối tượng đào tạo, cập nhật tình hình thực tiễn trong hoạt động chuyên môn kiểm toán nhà nước hoặc của nền kinh tế). Học phần 3 hướng tới mục tiêu cung cấp các kỹ năng tương ứng với chức trách của kiểm toán viên chính, như: kỹ năng xây dựng báo cáo, kỹ năng lãnh đạo, quản lý; kỹ năng tổng hợp kết quả kiểm toán; vị trí của Kiểm toán nhà nước trong mối quan hệ với các tổ chức thuộc hệ thống chính trị ở Việt Nam... nhằm trang bị phương pháp tư duy và khả năng thực thi nhiệm vụ theo một quy trình khoa học và hiệu quả. Chương trình bồi dưỡng chuyên môn theo vị trí việc làm ngạch Kiểm toán viên chính được rà soát lại trên cơ sở chương trình bồi dưỡng đã ban hành năm 2023 Tài liệu bồi dưỡng sau rà soát được các thành viên Hội đồng thẩm định đánh giá cao, đảm bảo chất lượng, có kết cầu phù hợp. Để hoàn thiện tài liệu, Hội đồng đề nghị Ban rà soát nghiên cứu điều chuyển các chuyên đề cụ thể trong từng Hợp phần; lồng ghép các chuyên đề phù hợp; nghiên cứu sắp xếp thứ tự nội dung trong chuyên đề để đảm bảo logic, xuyên suốt, tránh trùng lặp nội dung, nghiên cứu bổ sung thêm các quy định pháp luật về kiểm soát quyền lực, phân cấp phân quyền, trách nhiệm giải trình, cũng như quy trình kiểm tra việc thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán và chế độ công khai đối với các đơn vị không thực hiện kiến nghị kiểm toán. Bên cạnh đó, các chuyên đề về kỹ năng tổng hợp cần được xây dựng theo chuỗi logic xuyên suốt từ cấp Tổ kiểm toán, Đoàn kiểm toán và cấp Ngành, giúp nâng cao chất lượng lập báo cáo kiểm toán tổng hợp.