Thứ sáu, 23/10/2026

Điện thoại (024) 6287 3463

Đường dây nóng (024) 6287 3463

Liên hệ quảng cáo (+84)915.632.345

Thứ sáu, 23/10/2026
Share on Facebook
Copy to Clipboard

GIẢI PHÁP CHO SỰ PHÁT TRIỂN CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

Việt nam gia nhập WTO sẽ mang lại nhiều tác động trực tiếp tới hoạt động của các công ty cung cấp dịch vụ chứng khoán. Các nhà cung cấp dịch vụ chứng khoán sẽ là những đối tượng chịu tác động trực tiếp của các cam kết cụ thể của Việt nam trong lĩnh vực này, đây là những thách thức

 

Giải pháp cho sự phát triển chứng khoán Việt Nam

 

Nh÷ng gi¶i ph¸p c¬ b¶n cho sù  ph¸t triÓn lµnh m¹nh

cã hiÖu qu¶ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN trong ®iÒu kiÖn héi nhËp KINH TẾ QUỐC TẾ

                                                                                                     

                                                                              Ths Ngô thị Việt Hà

1- Thùc tr¹ng thị tr­ường chøng kho¸n ViÖt Nam

 

Thị trường chứng khoán Việt nam đã đi vào hoạt động từ năm 2000, sau  8 năm hoạt động đã trở thành một kênh huy động vốn dài hạn cho đầu tư phát triển. Theo đánh giá ban đầu thị trường chứng khoán Việt Nam bước đầu hoạt động tương đối an toàn, không gây ra những biến động lớn hoặc tác động tiêu cực đến hoạt động kinh tế xã hội của đất nước

Với thời gian tồn tại và phát triển quá ngắn như vậy, thị trường chứng khoán Việt nam vẫn ở giai đoạn sơ khai, số lượng các doanh nghiệp niêm yết và số người tham gia giao dịch không nhiều. Tính đến tháng 11 năm 2008 cả nước có 312 công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán và TTGDCK. Tổng giá trị vốn hóa thị trường đến ngày 25/9/2008 ước đạt khoảng 25,7% GDP ( so víi møc vèn ho¸ thÞ tr­êng cuèi n¨m 2007 lµ 43% GDP

Hiện nay trên thị trường chứng khoán Việt nam, bên cạnh thị trường có tổ chức hoạt động của thị trường chứng khoán tự do còn ở phạm vi khá rộng với khoảng trên 800 loại cổ phiếu của công ty đang được giao dịch với giá trị ước tính gấp hơn 2 lần giá  trị của thị trường có tổ chức. Những đặc điểm nổi bật của thị trường tự do là : thiếu tính công khai, minh bạch, không được tổ chức quản lý và giám sát , nên khả năng xảy ra rủi ro rất lớn như mất khả năng thanh toán, chứng khoán giả , lừa đảo…. Những mặt trái này đã gây sự bất ổn cho cho thị trường chính thức và cả hệ thống tài chính.

Thị trường chứng khoán Việt nam cho đến này vẫn chưa là “ hàn thử biểu” của nền kinh tế và chưa được coi là kênh huy động vốn của Doanh nghiệp. Chức năng cung ứng vốn dài hạn cho nền kinh tế của thị trường chứng khoán Việt nam vẫn chưa thể hiện rõ. Vốn dài hạn vẫn chủ yếu được thực hiện thông qua thị trường tín dụng. Đó là điểm bất cập không phù hợp với sự phát triển của thị trường tài chính. Trong thời gian tới cần thúc đẩy hoạt động của thị trường chứng khoán nhằm tách hẳn chức tăng cung ứng vốn dài hạn ra khỏi hoạt động của tín dụng ngân hàng

Nhìn lại thị trường chứng khoán Việt nam sau gần 8 năm hoạt động, còn nhiều tồn tại , đó là :

a - Về quy mô của thị trường chứng khoán Việt nam so với các nước trong khu vực vẫn còn nhỏ, tuy vốn hóa thị trường tăng nhanh cã thêi gian đạt 43% GDP. Trên thị trường chứng khoán chỉ có  một số công ty lớn ở lĩnh vực kinh doanh tương đối ổn định, có mức tăng trưởng đều qua các năm, còn lại phần lớn các công ty niêm yết vẫn chưa phải là công ty lớn nhất trong nền kinh tế và chưa đại diện tiêu biểu cho sự đóng góp tỷ trọng lớn vào GDP của Việt Nam. Giá chứng khoán ( chỉ số giá cổ phiếu VN- index  ) tăng giảm thất thường, thị trường chứng khoán trong thời gian qua vẫn chưa đảm bảo sự bền vững lành mạnh.

Từ năm 2006 đến nay, TTCK Việt Nam đã phát triển lên một cấp độ mới vừa trải qua nhiều thăng trầm đột biến. Thị trường có lúc hừng hực sôi động, nở bung như “bong bóng”sau đó lại xì hơi tụt dốc. Tuy trong thời gian rất ngắn TTCK Việt Nam có những bước tiến vượt bậc và có không ít thành công, song cũng chư bao giờ như lúc này, tâm lý bất ổn ngự trị trong các nhà đầu tư.

Nếu nhìn lại sau 2 năm Việt nam gia nhập ƯTO chúng ta lại càng thấy rõ điều đó. Trong 2 năm Việt nam gia nhập ƯTO chúng ta lại càng thấy rõ điều đó. Trong 2 năm 2007 và 2008 TTCK Việt nam đã diễn biến khá phức tạp thể hiện qua các giai đoạn phát triển khác nhau. Tiếp theo đã suy giảm của TTCK trong năm 2007, chỉ số giá chứng khoán trong năm 2008 tiếp tục diễn biến phức tạp theo chiều hướng suy giảm. Chỉ số giá cổ phiếu VN-index ngày đầu giao dịch của năm 2008 là 921,07 điểm(ngày2/1/2008), chỉ số giá cổ phiếu trong 11 tháng qua là 299,68 điểm(ngày 5/12/2008).

 

b- Về hoạt động của các tổ chức trung gian và hỗ trợ thị trường còn nhiều bất cập về tài chính. Mặc dầu các công ty chứng khoán đã phát hành thêm cổ phiếu, trái phiếu để tăng quy mô vốn hoạt động hoặc vốn điều lệ từ các chủ sở hữu vốn ( đối với các công ty chứng khoán trực thuộc ngân hàng thương mại ), nhưng nhìn chung vốn điều lệ vẫn còn thấp, điều đó đã ảnh hưởng đến khả năng tham gia thị trường của các công ty chỉ  đóng vai trò đầu tư dẫn dắt thị trường hoặc rủi ro do mức vốn khả dụng thấp

 Về cơ sở vật chất, kỹ thuật và hạ tầng công nghệ thông tin còn hạn chế. Đội ngũ về nhân sự hành nghề có chuyên môn có giấy phép hành nghề, đặc biệt về chất lượng về nhân sự lãnh đạo công ty còn thiếu và yếu về nghiệp vụ chuyên môn kinh doanh chứng khoán cũng như tư vấn pháp luật về chuyển đổi doanh nghiệp.

Trên thực tế hiện nay số lượng công ty chứng khoán ở nước ta vượt quá quy mô thị trường, nếu so sánh với các nước trong khu vực ( Trung quốc 107 công ty, Malaysia 37 công ty, Thái Lan 41 công ty, Singapor 27 công ty và Hàn quốc trên 50 công ty ).

c- Tuy số lượng tài khoản đầu tư tăng nhanh, nhưng chủ yếu  là tài khoản cá nhân, mua bán cổ phiếu ngắn hạn và bị tác động chi phối bởi các nhà đầu tư lởn trên thị trường. Những nhà đầu tư này lại thiếu kỹ năng phân tích đầu tư, phân tích thị trường, do vậy ảnh hưởng tới sự ổn định của thị trường . Những nhà đầu tư chuyên nghiệp chiếm tỷ trọng còn khiêm tốn, một số nhà đầu tư lớn nước ngoài mở tài khoản nhưng chưa tham gia vào đầu tư. Các quỹ đầu tư nước ngoài tham gia thị trường trong nước thông qua các tài khoản ủy thác cá nhân và đầu tư tập trung vào cổ phiếu các doanh nhgiệp cổ phần hóa, chưa tham gia đầu tư nhiều trên SGDCKTP Hồ Chí Minh và TTGDCK Hà nội

d- Như trên đã nêu, thị trường chứng khoán tự do còn khá lớn, có nhiều nhược điểm, gây sự bất ổn định cho thị trường chính thức. Còn các doanh nghiệp sau khi cổ phần hóa chưa tích cực đưa cổ phiếu vào đăng ký, lưu ký tập trung để niêm yết và giao dịch qua các SGDCKH TP Hồ Chí Minh và TTGDCK Hà nội bởi nhiều lý do không chính đáng

đ- Tuy Luật chứng khoán được ra đời thay thế Nghị định 144/2003/NĐ-CP, ngµy 28/11/2003 cña ChÝnh phñ vÒ Chøng kho¸n vµ ThÞ tr­êng chøng kho¸n , song hệ thống pháp luật về thị trường chứng khoán còn  bất cập và chưa được hoàn thiện. Sự đồng bộ, phù hợp với các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan, đặc biệt là Luật doanh nghiệp, Luật các tổ chức tín dụng, Luật kinh doanh bảo hiểm,..còn chưa thật hoàn thiện. . So với yêu cầu đòi hỏi của thực tế của sự phát triển thị trường tài chính và các định chế tài chính trong nền kinh tế thị trường đối với năng lực quản lý và sự phối hợp của các cơ quan quản lý Nhà nước còn hạn chế

Cơ quan quản lý Nhà nước, SGDCK và TTGDCK, các công ty chứng khoán, công ty niêm yết trong công tác quản lý, điều hành  hoạt động của thị trường chứng khoán còn thiếu kinh nhgiệm thực tiễn và còn những bất cập. Chứng khoán và Thị trường chứng khoán là một lĩnh vực mới đối với mỗi người Việt nam, vì Việt nam đã có quá trình lâu năm với cơ chế kinh tế kế hoach hóa tập trung. Do vậy công tác tuyên truyền, phổ cập kiến thức  cơ bản về lĩnh vực này còn chưa được chú trọng đúng mức, chưa phù hợp và đáp ứng với yêu cầu phảt triển của thị trường chứng khoán. Nên sự tham gia của các nhà đầu tư vào thị trường này còn chưa đông và việc tham gia của các nhà đầu tư còn mang tính theo kiểu “ phong trào” và “ bầy đàn”

2- Nh÷ng c¬ héi vµ th¸ch thøc đối với sù ph¸t triÓn TTCK ViÖt nam trong tiÕn tr×nh héi nhËp KTQT

Đối với Việt Nam, đây là ngành dịch vụ mới được hình thành từ năm 2000, nhưng nhiều thành viên WTO, nhất là các thành viên có hệ thống tài chính phát triển rất quan tâm và đưa ra yêu cầu cao về mức độ mở cửa cửa thị trường cho các nhà cung cấp dịch vụ chứng khoán nước ngoài

Các cam kết của Việt nam với WTO đối với lĩnh vực dịch vụ chứng khoán, đó là :

- Các nhà cung cấp dịch vụ chứng khoán nước ngoài được cung cấp qua biên giới ( mà không cần thành lập pháp nhân ở Việt Nam ) đối với dịch vụ cung cấp thông tin tài chính, tư vấn, trung gian và các dịch vụ phụ trợ liên quan đến chứng khoán

-  Các tổ chức, cá nhân Việt nam được sử dụng dịch vụ chứng khoán ở nước ngoài

- Các nhà cung cấp dịch vụ chứng khoán nước ngoài được phép thành lập văn phòng đại diện và liên doanh đến 49% vốn đầu tư nước ngoài từ thời điểm gia nhập. Được phép thành lập công ty cung cấp dịch vụ chứng khoán 100% vốn ĐTNN sau 5 năm kể từ khi gia nhập và được phép thành lập chi nhánh của công ty cung cấp dịch vụ chứng khoán nước ngoài sau 5 năm đối với một số loại hình : quản lý tài sản, thanh toán, tư vấn liên quan đến chứng khoán và cung cấp, trao đổi thông tin tài chính

Theo những cam kết về lĩnh vực dịch vụ chứng khoán của Việt nam với WTO, lộ trình mở cửa hội nhập của thị trường chứng khoán của Việt Nam sẽ được triển khai theo Luật chứng khoán, Luật đầu tư nước ngoài và những cam kết với WTO, theo những nội dung sau :

- Tỷ lệ tham gia của nhà đầu tư trên TTCK Việt Nam sẽ không hạn chế , nếu không thuộc lĩnh vực ngành nghề kinh doanh bị cấm hoặc kinh doanh có điều kiện đối với lĩnh vực kinh doanh có điều kiện, không bao gồm các lĩnh vực đầu tư trong các  điều ước quốc tế mà Việt nam cam kết mở cửa thị trường nhà đầu tư nước ngoài được mua cổ phần không hạn chế sau khi trừ đi phần vốn nhà nước nắm giữ dành cho người  lao động trong doanh nghiệp

- Cho phép thành lập văn phòng đại diện  và liên doanh đến 49% vốn ĐTNN từ thời điểm gia nhập. Sau 5 năm kể từ thời điểm gia nhập cho phép thành lập các công ty cung cấp dịch vụ chứng khoán 100% vốn nước ngoài và cho phép các chi nhánh của các công ty cung cấp dịch vụ chứng khoán nước ngoài hoạt động trong các loại hình dịch vụ quản lý tài sản, quản lý quỹ đầu tư, lưu ký, thanh toán bù trừ, cung cấp và chuyển giao thông tin tài chính, tư vấn và các hoạt động môi giới và phụ trợ khác liên quan đến chứng khoán. Tuy nhiên, không mở cửa cho chi nhánh đối với các loại hình dịch vụ kinh doanh chứng khoán và tham gia phát hành

Các công ty đầu tư nước ngoài sẽ được hưởng chế độ đãi ngộ quốc gia trong lĩnh vực tài chính. Các quy chế về tiếp cận thị trường nước ngoài sẽ tương tự hoặc cao hơn so với các quy chế này của các nước OECD

- Trong lộ tình cam kết với UBCK các nước ( IOSCO ) đến năm 2010 là thời hạn cuối cùng các nước ký kết MMOV, đảm bảo phải tuân thủ chấp hành các tiêu chuẩn và điều kiện chung về kế toán, công bố thông tin, quản trị công ty,..

Hội nhập kinh tế giúp cho việc đẩy mạnh các nguồn vốn đầu tư nước ngoài vào Việt nam, đặc biệt là dòng vốn đầu tư gián tiếp, thông qua thị trường chứng khoán, đáp ứng nhu cầu cho việc huy động nguồn vốn đầu tư nước ngoài khoảng 30% trong tổng số 140 tỷ USD cho giai đoạn phát triển kinh tế 2006-2010. Hội nhập kinh tế tạo điều kiện và cơ hội cho việc tiếp cận nhanh và tốt hơn kinh nghiệm quốc tế về quản lý, công nghệ tiên tiến trong việc phát triển thị trường chứng khoán của các nước tiên tiến. Việc mở cửa thị trường chứng khoán Việt nam sẽ tạo ra sự cạnh tranh giữa các tổ chức kinh doanh chứng khoán trong và ngoài nước để cung cấp dịch vụ với chất lượng cao cho nhà đầu tư. Đồng thời từ đó sẽ trao đổi học tập kinh nghiệm và hợp tác trong việc phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam

Việt Nam gia nhập WTO sẽ mang lại nhiều tác động trực tiếp tới hoạt động của các công ty cung cấp dịch vụ chứng khoán. Các nhà cung cấp dịch vụ chứng khoán sẽ là những đối tượng chịu tác động trực tiếp của các cam kết cụ thể của Việt nam trong lĩnh vực này, đây là những thách thức.

Thị trường chứng khoán Việt Nam mới ở giai đoạn đầu phát triển, trong khi đó ở các nước trên thế giới thị trường vốn đã phát triển cao và dựa trên những chuẩn mực, quy trình tác nghiệp, trình độ công nghệ cao và hệ thống pháp lý hoàn chỉnh. Mặc dầu Luật chứng khoán mới ra đời tuy phù hợp với các cam kết và với thông lệ quốc tế, song còn nhiều vấn đề về định chế và pháp lý cần tiếp tục hoàn thiện cho phù hợp với thông lệ quốc tế, như : luật phá sản, xử lý tranh chấp, mối quan hệ trách nhiệm - quyền hạn của tổ chức cá nhân tham gia thị trường ( nhà đầu tư, công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ, nhà đầu tư,..) xây dựng tổng thể chính sách phát triển thị trường chứng khoán, các chính sách để liên kết thị trường tiền tệ, thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản.

Các tổ chức trung gian của Việt Nam còn ở giai đoạn sơ khai và đang ở trình độ thấp so với nhiều nước trên thế giới, thiếu kinh nghiệm về chuyên môn và yếu về năng lực tài chính. Đây sẽ là những thách thức lớn đối với các tổ chức trung gian dưới áp lực cạnh tranh

Những hạn chế và yếu kém về chất lượng chuyên môn; Về đạo đức nghề nghiệp thể hiện chưa có các chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ kinh doanh chứng khoán; Về năng lực tài chính thể hiện mức vốn điều lệ còn thấp so với các nước trong khu vực; Về cơ sở vât chất kỹ thuật ứng dụng công nghệ thông tin; về công bố các thông tin, công tác quản trị doanh nghiệp chưa được đáp ứng đươc yêu cầu về quản lý thị trường đối với cả các công ty niêm yết lẫn các công ty cung cấp dịch vụ chứng khoán cũng như Sở GDCK và TTGDCK

Với sự phát triển của nền kinh tế và thị trường vốn, quy mô thị trường chứng khoán và nhu cầu về dịch vụ chứng khoán trong thời gian tới sẽ tăng mạnh. Sự xuất hiện của các quỹ  đầu tư và nhà ĐTNN có tác động mạnh tới phát triển thị trường, tuy nhiên cũng tiềm ẩn nguy cơ cao khi cơ sở hạ tầng chứng khoán phát triển không tương ứng  với thị trường. Đồng thời, với xu hướng mở rộng áp dụng công nghệ thông tin, thì đây sẽ là thách thức lớn đối với việc giám sát rủi ro, duy trì sự phát triển bền vững của thị trường chứng khoán.

Trong điều kiện hội nhập thì nguy cơ thâu tóm, thao túng từ các nhà đầu tư nước ngoài và nguy cơ ảnh hưởng đến cân đối vĩ mô của nền kinh tế là những điều có thể xẩy ra. Ngoài ra còn các nguy cơ tiềm tàng khác, như : mất chủ quyền do các nước mạnh áp đặt các nguyên tắc hoăc áp đặt các ràng buộc mà các thể chế tài chính quốc tế quy định; Nguy cơ biến dạng thị trường; Khả năng lây lan rủi ro; v,v..

Việt nam gia nhập WTO sẽ mang lại nhiều tác động trực tiếp tới hoạt động của các công ty cung cấp dịch vụ chứng khoán. Các nhà cung cấp dịch vụ chứng khoán sẽ là những đối tượng chịu tác động trực tiếp của các cam kết cụ thể của Việt nam trong lĩnh vực này, đây là những thách thức.

Luật Chứng khoán đã được Quốc hội Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 9 thông qua. Luật chứng khoán ra đời đã tạo kênh huy động vốn trung và dài hạn quan trọng cho nền kinh tế. Luật chứng khoán tạo cơ sở cho thị trường chứng khoán phát triển nhanh và ổn định, tạo tâm lý yên tâm cho tổ chức, cá nhân khi tham gia kinh doanh, đầu tư vào thị trường chứng khoán và đảm bảo lợi ích cho nhà đầu tư; giúp công chúng dễ dàng hiểu biết  về chứng khoán, thị trường chứng khoán và có cơ sở pháp lý để công chúng tham gia thị trường khi có điều kiện. Đồng thời giúp việc phân định rõ vai trò của từng thị trường vốn trung , dài và ngắn hạn trong cơ cấu thị  trường tài chính; bảo đảm và phát huy quyền tự chủ của doanh nghiệp huy động vốn trên thị trường chứng khoán, giảm gánh nặng trong việc dùng vốn ngắn hạn cho vay dài hạn của hệ thống ngân hàng hiện nay và góp phần tăng cường tính công khai, minh bạch trong cộng đồng và các doanh nghiệp và cả nền kinh tế. Luật chứng khoán đã đáp ứng yêu cầu của các cam kết quốc tế trong quá trình hội nhập, đặc biệt là các cam kết về hệ thống pháp luật phục vụ quá trình đàm phán gia nhập WTO

3- Những giải pháp phát c¬ b¶n cho sù  ph¸t triÓn lµnh m¹nh cã hiÖu qu¶ cña TTCK trong ®iÒu kiÖn héi nhËp KTQT.

Ngày 2/8/2007, Thủ tường Chính phủ Việt Nam đã phê duyệt : “ Đề án phát triển thị trường vốn Việt Nam đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020”. Nội dung của quyết định này đã nêu rõ các giải pháp thực hiện đề án phát triển thị trường vốn trong những năm tới. Đó là :

Về giải pháp dài hạn : Phát triển thị trường vốn theo hướng hiện đại, hoàn chỉnh về cấu trúc.  Phát triển mạnh các kênh cung cấp vốn cả trong và ngoài nước cho thị trường, mở rộng hệ thống các nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư có tổ chức; phát triển đầy đủ các định chế trung gian; đa dạng hóa các dịch vụ cung cấp,..đảm bảo đầy các yếu tố cấu thành một thị trường vốn phát triển trong khu vực; kết hợp chặt chẽ giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa; hài hòa giữa mục tiêu huy động vốn cho tăng trưởng kinh tế, phát triển bền vững thị trường vốn với ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát, đảm bảo an ninh tài chính quốc gia. Tăng cướng quản lý Nhà nước, thực hiện có hiệu quả chức năng thanh tra, kiểm tra giám sát việc tuân thủ pháp luật của các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động trên thị trường

Về giải pháp trước mắt : Phát triển quy mô, nâng cao chất lượng và đa dạng hóa các loại hàng hóa để đáp ứng nhu cầu thị trường; từng bước hoàn chỉnh cấu trúc của thị trường vốn đảm bảo khả năng quản lý, giám sát của Nhà nước; Phát triển các định chế trung gian và dịch vụ thị trường ; Phát triển hệ thống nhà đầu tư trong nước và ngoài nước ; Hoàn thiện khung pháp lý, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, giám sát của nhà nước; Chủ động mở cửa hội nhập với khu vực và quốc tế; Đảm bảo an ninh tài chính quốc gia.

Từ thực trạng hoạt động của thị trường chứng khoán Việt Nam những năm qua và đặc biệt là sau gần 2 năm Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của WTO, qua diễn biến giao dịch trên TTCK khá phức tạp; Hoạt động của các tổ chức niêm yết; của các tổ chức trung gian; về hoạt động đầu tư nước ngoài. Trên cơ sở dự báo xu hướng về phát triển kinh tế và những hoạt động có liên quan đến hoạt động của thị trường chøng kho¸n, đó là :

-  Nền kinh tế Việt nam năm 2009 gạp nhiều khóa khăn, song vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế, nhưng có nhiều nhân tố suy giảm. Chỉ số giá tiêu dùng có chiều hướng diễn biến phức tạp. Những vấn đề đó đã ảnh hưởng đến các cân đối vĩ mô, tới hoạt động của các doanh nghiepj, tới đời sống xã hội của mọi đối tượng trong nền kinh tế.

-  Do Việt nam cải thiện môi trường đầu tư, vị thế của Việt nam trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao và khẳng định. Do vậy, luồng vồn đầu tư cả trực tiếp và gián tiếp của nước ngoài cũng sẽ được tăng nhanh.

- Tiến trình cổ phần hóa các doanh nghiêp lớn, thông qua các đợt đấu giá cổ phần lần đầu trên thị trường chứng khoán ( IPO) sẽ tác động mạnh tới nguồn cung hàng hóa chứng khoán , tạo ra sự mất cân đối cung cầu, làm cho giá chứng khoán khó phục hồi. Số lương các công ty phát hành cổ phiếu và đưa vào niêm yết trong năm 2008 khoảng trªn 80 công ty, tạo nên nguồn hàng lớn cho thị trường chứng khoán

-  Cuéc khñng ho¶ng tµi chÝnh cña thÕ giíi, ®Æc biÖt cña Mü vµ Ch©u ©u, nên diễn biến TTCK quốc tế kh«ng cã  dấu hiệu tăng trưởng ®ang trong thời kú suy giảm mạnh

Từ những nội dung phân tích trên, chúng tôi xin đưa ra những giải pháp nhằm phát triển TTCK Viêt nam trong những năm tới một cách bền vững :

Về giải pháp kinh tế vĩ mô :

- Kiểm soát lạm phát ( CPI ) , đây là một trong những điều kiện và tiền đề rất quan trong  để thị trường chứng khoán Việt nam phát triển lành mạnh, hiệu quả và ổn định.

-  Thị trường chứng khoán là một kênh huy động vốn quan trọng, cần được quan tâm phát triển theo hướng tăng cung hàng hóa cho thị trường cả về số lượng, chất lượng và chủng loại; phát triển các thị trường giao dịch trái phiếu; triển khai thực hiện thị trường trái phiếu chuyên biệt và thị trường giao dịch chứng khoán chưa niêm yết.

Để khung pháp lý cho hoạt động của thị trường chứng khoán đồng bộ với các quy định khác của Việt Nam, phù hợp với các cam kết quốc tế và đảm bảo sự bình đẳng cho các thành phần kinh tế,  ngành tài chính cần tiến hành sửa đổi và bổ sung các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Chứng khoán và một số điểm của Nghị định về kinh doanh chứng khoán và xử phạt hành chính trong lĩnh vực chứng khoán; Xây dựng Đề án chiến lược phát triển thị trường chứng khoán đến 2020 và trình Chính phủ ban hành Nghị định phát hành chứng khoán riêng lẻ.

- Kết hợp chặt chẽ chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa, hài hòa giữa mục tiêu huy động vốn cho tăng trưởng kinh tế, phát triển bền vững thị trường vốn với ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát, đảm bảo sự an ninh tài chính

- Phát triển thị trường vốn theo hướng hiện đại, hoàn chỉnh về cấu trúc ( bao gồm cổ phiếu tập trung, thị trường quản lý OTC, thị trường trái phiếu vận hành theo thông lệ quốc tế tốt nhất có khả năng liên kết với các thị trường khu vực và quốc tế.

Trước mắt cần thành lập thị trường giao dịch trái phiếu Chính phủ ( TPCP) . Thị trường TPCP có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế. Đây không chỉ là một kênh dẫn vốn hữu hiệu cho nền kinh tế, mà còn tạo ra sự đa dạng hóa các công cụ đầu tư trên thị trường vốn, cho phép các nhà đầu tư có thêm lựa chọn đầu tư ít rủi ro hơn. Thị trường TPCP còn là nền tảng cơ bản cho sự phát triển của thị trường trái phiếu công ty thông qua cung cấp có sở cho định giá chuẩn tin cậy cho các công cụ khác nhờ vậy thúc đẩy sự phát triển của thị trường tài chính nói chung. Thị trường TPCP còn giúp tăng cường sự độc lập trong điều hành chính sách tiền tệ của ngân hàng TW thông qua mua bán TPCP, tác động trực tiếp đến lượng cung tiền và các biến số kinh tế vĩ mô khác

Xây dựng và phát triển thị trường trái phiếu, đặc biệt là thị trường TPCP, đó là một trong những nội dung quan trọng hàng đầu trong chiến lược phát triển thị trường chứng khoán Việt nam từ nay đến năm 2020. Nguyên nhân trực tiếp hay gián tiếp của sự kém phát triển thị trường TPCP của Việt nam chủ yếu đều từ thị trường sơ cấp. Phát triển thị trường trái phiếu thứ cấp  có ý nghĩa rất quan trọng đối với hoạt động phát hành trên thị trường sơ cấp nói riêng và sự phát triển thị trường trái phiếu và thị trường vốn nói chung. Thị trường phát hành giúp cho Chính phủ huy động vốn phục vụ nhu cầu phát triển trong từng thời kỳ và đồng thời tạo nguồn hàng cho thị trường thứ cấp, góp phần  bình ổn và thức đẩy thị trường giao dịch TPCP phát triển. Thị trường giao dịch TPCP là nơi thể hiện rõ nét nhất những bất cập trên thị trường sơ cấp và nếu được tổ chức tốt thì cũng phản hồi một cách nhanh nhậy nhất các diễn biến về lãi suất trên thị trường. Do vậy, cần xây dựng một mô hình giao dịch phù hợp cho thị trường TPCP ở Việt nam với lộ trình phù hợp với những cải cách trên thị trường giao dịch trái phiếu ở Viêt  nam và phù hợp với thông lệ quốc tế

Những giải pháp về quản lý và cơ chế chính sách :

- Đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra và có những biện pháp hạn chế những mặt trái của  các đối tượng trên thị trường chứng khoán; Tăng cường công bố thông tin trên thị trường chứng khoán, nâng cao tính minh bạch của thị trường. Đặc biệt là việc công bố các thông tin về các tổ chức niêm yết và công ty chứng khoán.

- Cần ban hành Nghị định của Chính phủ về quản lý phát hành riêng lẻ; Chính phủ cho phép mở chi nhánh và thành lập công ty quản lý Quỹ đầu tư chứng khoán 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam sớm hơn lộ trình cam kết trong WTO và ban hành danh mục ngành nghề kinh doanh có kiểm soát tỷ lệ vốn của nhà đầu tư nước ngoài và công bố ra thị trường. Trước mắt, duy trì mức sở hữu nước ngoài 49% vốn điều lệ đối với công ty niêm yết và công ty đại chúng theo luật chúng khoán. Bộ Tài chính triển khai tổ chức thị trường giao dịch chứng khoán của công ty đại chúng chưa niêm yết tại TTGDCK Hà nội thông qua phương thức giao dịch OTC tại công ty chứng khoán và thanh toán bù trừ tại trung tâm Lưu ký chứng khoán. Trình Thủ tướng sửa đổi bổ xung Nghị định 14/CP để tăng quy mô vốn, công nghệ, nghiệp vụ, giấy phép hành nghề khi thành lập công ty chứng khoán khắc phục hiện tượng quá tải xin thành lập hiện nay.

Về giải pháp điều chỉnh cung cầu :

 Chính phủ cần có lộ trình cho việc phát hành chứng khoán lần đầu ( IPO)  thật hợp lý đối vói các doanh nghiệp cổ phần hóa và các doanh nghiệp phát hành thêm cổ phiếu.  Căn cứ vào thực trang và năng lực của từng  ngân hàng mà kiểm soát mức cho vay đầu tư chứng khoán, có thể cho phép ngân hàng tăng dự nợ cho vay chứng khoán, nhưng đồng thời cũng phải tăng mức ký quỹ đảm bảo tương ứng

Về địa vị của UBCKNN, hiện nay vẫn là cơ quan trong Bộ Tài chính có chức năng và thẩm quyền, đảm bảo tính độc lập cần thiết và thực quyền trong việc xử lý các vấn đề nghiệp vụ chứng khoán. Về lâu dài, theo chúng tôi khi thị trường chứng khoán đã phát triển ổn định sẽ sắp xếp lại cho phù hợp với yêu cầu của kinh tế thị trường.

Qua những năm hoạt động thị trường chứng khoán và gần 2 năm thực hiện theo Luật chứng khoán cũng cần xem xét loại bỏ các thủ tục hành chính, các loại giấy phép không cần thiết, nhưng cũng đảm bảo yêu cầu của quản lý Nhà nước để thị trường này phát triển an toàn , ổn định. Hoạt động  kinh doanh chứng khoán là lĩnh vực kinh doanh có điều kiện, còn mới đối với Việt Nam, có nhiều rủi ro. Vì vậy trong quá trình thực hiện Luật chứng khoán  ở Việt Nam cần phải luôn xem xét và đánh giá tính khả thi và những nội dung của Luật đã đi vào cuộc sống và còn những điều gì bất cập cần phải hoàn thiện và sửa đổi cho phù hợp với điều kiện cũng như đặc thù thể chế của Việt nam, nhưng đồng thời cũng phải phù hợp với cam kết và thông lệ quốc tế.

4- Những giải pháp trước mắt nhằm vực dậy  và phát triển thị trường chứng khoán ViÖtnam

Năm 2008, thị trường chứng khoán Việt nam liên tục biến động phức tạp, dù Bộ Tài chính đã triển khai nhiều giải pháp tích cực. Chỉ số VN-Index tháng 11 đã giảm tới 70% so với hồi cuối năm 2007. Theo nhận định của Bộ Tài chính, trước tác động của các yếu tố kinh tế vĩ mô trong nước và khủng hoảng tài chính toàn cầu hiện nay, sự phục hồi của thị trường còn nhiều khó khăn. Đến thời điểm này đã có gần 330 cổ phiếu, chứng chỉ quỹ niêm yết trên thị trường chứng khoán với tổng giá trị vốn hoá cổ phiếu đạt khoảng 19% GDP.

Đứng trước những khó khăn và thách thức của thị trường chứng khoán hiện nay, báo cáo của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước tại Diễn đàn Kinh tế 2008 diễn ra ngày 2/10/2008 ở Hà Nội chỉ rõ những nhân tố khách quan và chủ quan ảnh hưởng đến thị trường . Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cho biết trước mắt sẽ kiến nghị Chính phủ thông qua đề án “Phát triển bền vững, ngăn ngừa khủng hoảng trên thị trường chứng khoán” nhằm chủ động đối phó với những diễn biến phức tạp có thể xảy ra.

Năm 2009, nền kinh tế Mỹ và thế giới được dự báo vẫn tiếp tục xấu đi nếu các biện pháp của các chính phủ  không đạt được kết quả tốt. Điều đó cũng sẽ tác động đến sự phát triển của TTCK ở nhiều nước, trong đó có Việt Nam. Nhưng tác động mạnh nhất là những yếu tố bên trong của chúng ta.

Theo chúng tôi, khi thị trường thế giới bất ổn thì Việt Nam chính là nơi có điều kiện đầu tư tốt hơn sẽ thu hút được nhiều hơn. Do đó nếu có những chính sách đúng đắn, thì thị trường sẽ tăng trưởng hợp lý. Điều đó còn phụ thuộc vào các chính sách nuôi dưỡng và khuyến khích của Nhà nước. Hiện TTCK Việt Nam vẫn chưa đủ độ lớn và độ mạnh như chúng ta đã đánh giá về nó. Số lượng tài khoản chứng khoán chỉ mới hơn 300.000 nhưng thật sự giao dịch chỉ khoảng 1/2. Đó là một con số rất nhỏ nếu so với dân số của Việt Nam. Theo tôi, tối thiểu phải đạt mức 2% dân số tham gia vào thị trường này thì mới tải được hết dung  lượng của thị trường.

Bên cạnh đó, bình quân lượng giao dịch mỗi ngày chỉ đạt khoảng 1.000 tỉ đồng so với tổng lượng vốn hóa của thị trường là 500.000 tỉ đồng cũng là quá nhỏ. Bất kể sự chuyển dịch nguồn vốn nào cũng sẽ khiến thị trường bị hụt hẫng ngay. Vì vậy, các chính sách của cơ quan quản lý Nhà nước phải theo hướng khuyến khích NĐT tham gia hơn là tính đến chuyện xiết chặt và thu hoạch từ nó. Nếu được cần nới lỏng chính sách về nguồn vốn, thuế thu nhập chứng khoán.

Về mặt quản lý chuyên ngành, cần tạo nên sự chuyên nghiệp, chuẩn mực và trật tự để NĐT không bị thiệt hại trong quá trình đầu tư của mình, đặc biệt là không làm tổn hại đến quyền lợi của NĐT cá nhân. Cụ thể như những yêu cầu về công bố thông tin của các công ty niêm yết phải được xây dựng theo các tiêu chí rõ ràng và có sự kiểm tra thường xuyên. Bên cạnh đó, các công ty khi phát hành cổ phiếu phải thực hiện chuyên nghiệp hơn. Không tự mình phá giá cổ phiếu theo những kiểu như đã làm từ trước đến nay và khiến cho NĐT thiệt hại, ảnh hưởng đến chất lượng của thị trường.

TTCK Việt Nam còn mới và nhỏ, vì thế vai trò của Nhà nước là hết sức quan trọng trong việc hỗ trợ, kiểm soát, và định hướng để thị trường phát triển lành mạnh và bền vững. Để hỗ trợ vực dậy thị trường chứng khoán phát triển trong trước mắt chúng ta cần có các biện pháp sau : 

Một là, Chính phủ có thể xem xét cho lùi thời hạn áp dụng thuế thu nhập cá nhân đối với lợi nhuận từ đầu tư chứng khoán và có lộ trình ưu đãi thuế. Đối với NĐT, ưu đãi thuế sẽ khuyến khích họ đầu tư vào thị trường vốn. Đối với doanh nghiệp, ưu đãi thuế gián tiếp giảm chi phí vốn, tăng hiệu quả, tăng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, và kích thích kinh tế nước nhà tăng trưởng. Kinh tế tăng trưởng thì nguồn thu từ thuế thu nhập doanh nghiệp và các loại thuế khác nhờ đó sẽ bù đắp, thậm chí còn lớn hơn nhiều so với khoản thu tạm thời mất đi từ ưu đãi thuế thu nhập chứng khoán.

            Từ ngày 1/1/2009 tới, thuế thu nhập cá nhân trong kinh doanh chứng khoán bắt đầu được triển khai.Cộng đồng NĐT vẫn cho rằng, trong giai đoạn hiện tại, tạm hoãn sắc thuế này là việc nên làm, như là một biện pháp hỗ trợ tốt cho thị trường, đặc biệt về mặt tâm lý. Tuy nhiên, liên quan vấn đề này, cơ quan phụ trách hành thu là Tổng cục Thuế đã có văn bản gửi Bộ Tài chính, trong đó không ủng hộ chủ trương giãn thu thuế chứng khoán. Về vấn đề thuế đánh vào hoạt động kinh doanh chứng khoán, từ kinh nghiệm của TTCK nhiều nước như Úc, Anh, Mỹ, cho thấy đã kinh doanh thì phải nộp thuế là vấn đề bình thường. Ở nhiều nước, hoạt động kinh doanh chứng khoán thậm chí còn chịu nhiều loại thuế. Nhưng đối với nước ta, vấn đề cơ bản là đánh thuế bao nhiêu cho hợp lý, hình thức đánh thuế như thế nào cho phù hợp.

Hiện nay, hầu hết NĐT ở lại với  thị trường đến thời điểm này đều đang bị thua lỗ. Nếu phải nộp thêm thuế thì tất nhiên ngày càng nhiều người chán nản vì thấy mình bị đối xử “chưa tốt”, vì trong lúc khó khăn không ai san sẻ, điều đó sẽ làm cho NĐT không còn hứng thú với thị trường. Thanh khoản của thị trường thấp thì NĐT có tổ chức trong và ngoài nước cũng không thấy hứng thú đầu tư. Vì vậy sàn vắng, thị trường kém thanh khoản, khó thêm hàng hóa cho thị trường do cổ phần hóa chậm, doanh nghiệp lớn ngại lên sàn vì sợ giá cổ phiếu không được như mong muốn. Đó là vòng luẩn quẩn. 

Do vậy, để vừa giữ sự nhất quán trong chính sách, vừa hỗ trợ được thị trường, theo chúng tôi  vẫn có thể tìm một giải pháp trung dung. Chúng ta vẫn áp dụng đánh thuế trong hoạt động kinh doanh chứng khoán, nhưng có thể áp dụng mức thuế suất 0% trong một thời gian , như kinh nghiệm một số nước áp dụng giải pháp tạm miễn thuế.  Như vậy là thuế chứng khoán vẫn làm đúng lộ trình, nhưng giải pháp thuế tạm thời hỗ trợ thị trường vẫn được thực thi, mọi NĐT hiểu rằng đã kinh doanh chứng khoán là phải nộp thuế. Mặt khác, với cơ quan quản lý, luật thuế cũng đã được thực hiện, chỉ là điều chỉnh thuế suất cho phù hợp, cũng là một cách điều tiết thị trường, một giải pháp hỗ trợ tạm thời cho NĐT. Ví dụ như Trung Quốc trong giai đoạn 2006 - 2007  khi thị trường tăng nóng thì Chính phủ nước này tăng thuế, gần đây khi thị trường sụt giảm mạnh thì họ miễn thu.

Nếu thuế thu nhập cá nhân chỉ luôn bảo vệ quan điểm điều tiết thu nhập mà quên vai trò đòn bẩy kinh tế thì chưa hiểu đầy đủ vai trò của thuế. Do vậy, cần phân biệt tầm quan trọng khác nhau giữa TTCK ( là thị trường vốn rất cần cho nền kinh tế đang tăng trưởng nóng) và thị trường bất động sản (là thị trường đầu tư sinh lời). Nếu chỉ đứng trên quan điểm điều tiết, điều này sẽ làm chùn tay những người muốn tham gia TTCK

Thị trường đi xuống cũng có mặt tích cực của nó. Đó là một sự phản hồi rõ ràng về một thị trường vốn trong cơ chế thị trường và hội nhập, song đòi hỏi phải có những chính sách và cơ chế quản lý phù hợp. Còn nếu chỉ tìm cách khai thác cho nhiều mục đích thu lợi thì nó sẽ khó có điều kiện phát triển. TTCK Việt Nam đã có mức phát triển vượt bậc trong năm 2007, nhưng so với quy mô và nhiệm vụ phát triển thị trường vốn đến năm 2010 - 2020 của Chính phủ thì TTCK cần phải được những cơ chế đặc biệt và đủ mạnh để đạt được mục tiêu này. Qua quan sát các chính sách và điều hành trong những năm qua, tôi thấy có nhiều điểm thiếu nhất quán và đồng bộ.

            Hai là, Vấn đề cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước. Đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh, việc chọn thời điểm và xác định giá chào bán cổ phần ra công chúng thường được tính toán làm sao có lợi nhất cho doanh nghiệp hay cổ đông hiện tại. Tuy nhiên, đối với doanh nghiệp nhà nước, lợi ích của doanh nghiệp và mục tiêu phát triển kinh tế chung cần được cân đối. Để đạt được điều đó, Chính phủ cần quyết tâm thực hiện lộ trình cổ phần hóa đã vạch ra. Giá chào bán cổ phần ra công chúng cần được tính toán hợp lý hơn, căn cứ vào khả năng sinh lợi thực sự của doanh nghiệp, để khuyến khích người dân tham gia. Nguồn vốn nhàn rỗi trong dân nhờ đó sẽ được huy động tối đa vào phát triển kinh tế thay vì chảy vào những kênh khác kém hiệu quả, không có lợi cho phát triển kinh tế và xã hội.

Việc cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước có nhiệm vụ quan trọng là chuyển đổi cơ chế sở hữu và quản lý sang công ty cổ phần còn việc bán để thu vốn cho ngân sách không nhất thiết phải thu ngay một lượng lớn. Do vậy, nếu việc IPO chỉ bán một phần nhỏ (dưới 10%) và lộ trình bán có thể kéo dài nhiều lần trong 3 - 5 năm thì nguồn cung cũng không tăng đột biến mà nhiệm vụ chuyển đổi doanh nghiệp cũng hoàn thành.

Quy mô TTCK Việt Nam vẫn còn nhỏ thì việc cổ phần hóa các doanh nghiệp lớn, đưa các công ty này lên sàn sẽ tạo nên một thị trường lớn hơn. Khi TTCK có đủ độ lớn, đủ tính thanh khoản thì các quỹ đầu tư nước ngoài sẽ đưa vào danh mục đầu tư của mình theo nguyên tắc phân chia rủi ro theo địa lý, ngành nghề... Tất nhiên việc định giá khi bán cổ phần phải được tính toán hợp lý chứ không nên đưa giá bán lên quá cao sẽ là "lợi bất cập hại". Lộ trình thực hiện cũng phải được xem xét kỹ hơn để thị trường không có phản ứng tiêu cực với điều đó. Theo tôi, quý 2 năm nay TTCK sẽ bắt đầu tăng trưởng tốt hơn. Tuy nhiên, sự tăng trưởng năm nay cũng phụ thuộc nhiều vào các chính sách mới của Nhà nước và chỉ số lạm phát đứng ở mức nào

Ba là, Ngân hàng Nhà nước cần có dự báo tốt về nguồn ngoại tệ đổ vào TTCK và giải quyết đúng đắn trong mối quan hệ với lạm phát. Nếu có bước dự đoán đúng thì NHNN có thể phát hành trái phiếu thu tiền đồng để mua USD của NĐT nước ngoài, điều này giúp NĐT có tiền để mua chứng khoán mà không tăng lượng cung tiền gây lạm phát... Từ đó có thể nói rằng, việc TTCK phát triển như thế nào là tùy thuộc vào các cơ quan hoạch định chính sách.

Bốn là, Cơ quan quản lý là người điều phối thị trường, giữ nhịp cho thị trường phát triển nên các chính sách phải có sự ổn định. Phải giải quyết được những vướng mắc hiện nay để tạo dựng niềm tin NĐT trong và ngoài nước. Tâm lý NĐT đang cực thấp nên phải "tiêm" vào một "liều thuốc hồi sinh". Vấn đề quan trọng là khơi thông được nguồn tiền để đầu tư vào TTCK. TTCK phát triển mạnh lên thì nguồn vốn từ các nơi khác như bất động sản, vàng... sẽ tự động chảy về. Khi đó, thị trường bất động sản cũng sẽ tự lắng dịu mà không cần Nhà nước phải có những chính sách kiềm chế. Các thị trường như bình thông nhau nên sự điều tiết sẽ diễn ra tự nhiên hơn mà không cần cơ quan quản lý nhà nước phải can thiệp quá sâu.

Lượt xem: 4

Các đầu tàu kinh tế trước áp lực bứt tốc hai con số trong quý IV

Để đạt mục tiêu tăng trưởng GDP cả năm 2026 ở mức hai con số, Chính phủ yêu cầu các địa phương có quy mô kinh tế lớn phát huy mạnh hơn vai trò dẫn dắt. Trong khi Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh phải tăng tốc đáng kể, Hải Phòng, Quảng Ninh, Bắc Ninh cần duy trì đà tăng trưởng cao, thúc đẩy đầu tư, sản xuất và tiêu dùng. Áp lực tăng trưởng dồn vào những tháng cuối năm Theo Nghị quyết số 312/NQ-CP ngày 5/10/2026 của Chính phủ, GDP quý III ước tăng 9,95% so với cùng kỳ, đưa mức tăng trưởng 9 tháng lên 9,01%. Để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số cả năm, GDP quý IV phải tăng trên 12,5%. Tại phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 9/2026, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng nhấn mạnh, đây là nhiệm vụ rất nặng nề, đòi hỏi các bộ, ngành, địa phương nỗ lực cao nhất. Đặc biệt, các cực tăng trưởng lớn như Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Đồng Nai, Bắc Ninh phải khai thác mạnh hơn dư địa, đóng góp nhiều hơn cho tăng trưởng cả nước. Yêu cầu này được lượng hóa trong kịch bản tăng trưởng quý IV ban hành kèm Nghị quyết số 312/NQ-CP. Nguồn: Nghị quyết số 312/NQ-CP ngày 5/10/2026 về Phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 9 năm 2026 và Hội nghị trực tuyến Chính phủ với địa phương Theo đó, Thành phố Hồ Chí Minh, địa phương chiếm 23,3% tổng GRDP cả nước năm 2025, đạt mức tăng trưởng 9,06% trong 9 tháng. Để hoàn thành mục tiêu 10,2% cả năm, Thành phố cần tăng 13,23% trong quý IV. Trong khi đó, Hà Nội phải đạt 16,55% trong quý cuối năm, sau khi tăng 8,85% trong 9 tháng, để hoàn thành mục tiêu 11%. Hải Phòng tăng trưởng 12,08% sau 9 tháng nhưng vẫn cần đạt 15,39% trong quý IV để hoàn thành mục tiêu 13% cả năm. Bắc Ninh cần tăng 14,37%, Quảng Ninh 14,24%. Riêng Đồng Nai, với mức tăng trưởng 10,01% sau 9 tháng, được yêu cầu duy trì tốc độ, tối thiểu đạt 9,98% trong quý IV và phấn đấu cao hơn. Đáng chú ý, Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội chiếm tới 35,7% tổng GRDP cả nước năm 2025. Nếu tính thêm Hải Phòng, Đồng Nai, Bắc Ninh và Quảng Ninh, tỷ trọng của sáu địa phương đạt 53,7%. Vì thế, kết quả của nhóm này có ảnh hưởng lớn tới tăng trưởng chung. Để hiện thực hóa kịch bản, Chính phủ yêu cầu từng địa phương xác định rõ dư địa tăng trưởng, tập trung tháo gỡ khó khăn cho những dự án có khả năng sớm hoàn thành, đưa vào khai thác và doanh nghiệp có khả năng mở rộng sản xuất, kinh doanh. Các cực kinh tế dồn lực cho đầu tư, sản xuất Đối với Thủ đô Hà Nội, đầu tư công và phát triển hạ tầng tiếp tục là những động lực quan trọng. Các dự án như đường Vành đai 4 - Vùng Thủ đô, tuyến kết nối sân bay Gia Bình không chỉ thúc đẩy hoạt động xây dựng mà còn mở rộng không gian phát triển công nghiệp, đô thị và dịch vụ. Theo GS.TS. Hoàng Văn Cường, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam, Thành phố Hà Nội có quy mô đầu tư công đứng đầu cả nước, công tác giải phóng mặt bằng phức tạp nhưng tiến độ giải ngân vẫn thuộc nhóm dẫn đầu. Điều này cho thấy vai trò quan trọng của năng lực thực thi trong huy động và sử dụng nguồn lực phát triển. Với Thành phố Hồ Chí Minh, dư địa tăng trưởng gắn với đầu tư hạ tầng, phát triển thị trường và các ngành dịch vụ giá trị gia tăng cao. Những công trình như Vành đai 3, Vành đai 4, tuyến cao tốc kết nối Thành phố Hồ Chí Minh - Mộc Bài cùng định hướng phát triển Trung tâm Tài chính quốc tế được kỳ vọng tạo thêm động lực dài hạn. Trước mắt, Thành phố cần đẩy nhanh tiến độ dự án, tháo gỡ vướng mắc về đất đai, thủ tục đầu tư, đồng thời thúc đẩy tiêu dùng, thương mại và du lịch. Ở phía Bắc, Hải Phòng phát huy lợi thế công nghiệp, cảng biển, logistics và liên kết vùng để thúc đẩy sản xuất, xuất khẩu. Trong khi đó, Quảng Ninh có dư địa từ công nghiệp chế biến, chế tạo, đầu tư ngoài ngân sách và du lịch. Một góc Thành phố Hải Phòng Theo GS.TS. Hoàng Văn Cường, công nghiệp chế biến, chế tạo của Quảng Ninh trong 8 tháng đầu năm tăng 31,77% so với cùng kỳ, vốn đầu tư ngoài ngân sách trong nước đạt 182.732 tỷ đồng. Đây là những nguồn lực quan trọng để địa phương duy trì tốc độ tăng trưởng cao. Bắc Ninh cũng đang phát huy lợi thế về công nghiệp điện tử, thu hút đầu tư và tham gia chuỗi cung ứng quốc tế. Quy hoạch chung đô thị Bắc Ninh được phê duyệt trong tháng 7/2026 xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực phát triển, hướng tới hình thành trung tâm công nghiệp điện tử, bán dẫn và trí tuệ nhân tạo. Trong khi đó, Đồng Nai tập trung phát huy lợi thế công nghiệp, thúc đẩy các dự án hạ tầng kết nối như Biên Hòa - Vũng Tàu, Dầu Giây - Tân Phú và các tuyến giao thông liên vùng. Để tạo thêm động lực trong quý cuối năm, Chính phủ yêu cầu đẩy nhanh giải ngân vốn đầu tư công, phấn đấu hoàn thành 100% kế hoạch được giao. Theo đó, Hà Nội tăng cường theo dõi tiến độ, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và các dự án xây dựng; Hải Phòng tập trung xử lý dự án tồn đọng, phát triển hạ tầng công nghiệp; Quảng Ninh triển khai đợt cao điểm 90 ngày đêm hoàn thành nhiệm vụ cuối năm. Tuy nhiên, tăng trưởng không thể chỉ dựa vào gia tăng đầu tư. GS.TS. Hoàng Văn Cường cho rằng, điểm nghẽn phát triển đang dịch chuyển từ thể chế, chính sách sang năng lực tổ chức thực thi. Phân quyền mạnh hơn nhưng nếu thiếu nhân lực, dữ liệu và hạ tầng số, hiệu quả giải quyết công việc khó cải thiện tương ứng. Phát biểu tại Diễn đàn Kinh tế mới 2026 mới đây, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị nhấn mạnh yêu cầu chuyển từ chủ trương đúng sang đột phá trong thực thi. Kết quả phải thể hiện bằng những thay đổi cụ thể trong môi trường kinh doanh, năng lực quản trị địa phương và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Đặc biệt, Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương lưu ý, đầu tư công phải trở thành vốn mồi dẫn dắt đầu tư xã hội, trong khi nguồn vốn dài hạn cần được phân bổ vào những dự án chất lượng, hiệu quả và minh bạch. Đồng thời, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo phải thực sự tạo ra năng suất, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh. Như vậy, kết quả tăng trưởng quý IV không chỉ quyết định khả năng hoàn thành mục tiêu GDP hai con số năm 2026, mà còn phản ánh hiệu quả điều hành, sử dụng nguồn lực của từng địa phương, tạo nền tảng phát triển cho năm 2027.

Kinh tế tăng trưởng 9,01%, vì sao VN-Index vẫn chưa bứt phá?

Kinh tế Việt Nam tăng tốc mạnh trong 9 tháng đầu năm 2026, với GDP tăng 9,01%, riêng quý III tăng 9,95% - mức cao nhất trong 4 năm. Tuy nhiên, VN-Index vẫn giảm 0,89%, VN30 giảm 6,10%, trong khi khối ngoại bán ròng khoảng 97.200 tỷ đồng trên HOSE. Sự lệch pha cho thấy tăng trưởng kinh tế chưa lập tức chuyển thành dòng tiền và mức định giá cao hơn trên thị trường chứng khoán. Theo báo cáo “Cập nhật tình hình vĩ mô 9 tháng đầu năm 2026” của TCBS Research, GDP tăng tốc qua từng quý, từ 8,15% trong quý I lên 8,81% quý II và 9,95% quý III, đưa mức tăng 9 tháng lên 9,01%. Đáng chú ý, đà tăng này được củng cố bởi nhiều chỉ báo độc lập: khối lượng hàng hóa vận chuyển tăng 15,8%, thu ngân sách tăng 12,1%, xuất khẩu theo tờ khai hải quan tăng 24,5% và PMI duy trì trên ngưỡng 50 trong 15 tháng liên tiếp. Tuy nhiên, thị trường chứng khoán lại chưa phản ánh tương xứng. Sau 9 tháng, VN-Index giảm 0,89% so với cuối năm 2025, VN30 giảm 6,10%, thanh khoản bình quân giảm 26,9%, còn khối ngoại bán ròng khoảng 97.200 tỷ đồng trên HOSE. Nền kinh tế đang tăng tốc, nhưng dòng tiền trên thị trường cổ phiếu chưa chạy cùng nhịp. Tăng trưởng đang dựa nhiều hơn vào đầu tư Điểm đáng chú ý trong bức tranh kinh tế 9 tháng là động lực tăng trưởng đang nghiêng về phía đầu tư và mở rộng năng lực sản xuất. Khu vực công nghiệp - xây dựng tăng 11,21%, đóng góp 49,62% vào mức tăng chung. Riêng công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11,36%, đóng góp 33,85%, trong khi xây dựng tăng 12,22%. Khu vực dịch vụ tăng 8,69%; nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,02%. Ở phía sử dụng, tích lũy tài sản tăng 17,88%, riêng quý III tăng 21,39%, cao hơn đáng kể mức tăng 8,51% của tiêu dùng cuối cùng. Vốn đầu tư toàn xã hội 9 tháng đạt 3.109,6 nghìn tỷ đồng, tăng 15,1%. Điều này cho thấy tăng trưởng hiện không đơn thuần đến từ việc người dân chi tiêu nhiều hơn, mà đang được hỗ trợ mạnh bởi quá trình tích lũy tài sản, xây dựng và mở rộng sản xuất. Số liệu về công nghiệp cũng củng cố nhận định này. IIP 9 tháng tăng 12,3%, riêng quý III tăng 14,8%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 12,9%. Chỉ số tiêu thụ ngành chế biến, chế tạo tăng 12,8%, cao hơn mức 9,1% cùng kỳ năm 2025. Sản lượng công nghiệp tăng ở cả 34/34 địa phương. TCBS đánh giá đây là dấu hiệu cho thấy chất lượng tăng trưởng được cải thiện, khi lao động có việc làm chỉ tăng khoảng 1,3%, trong khi năng suất lao động ước tăng khoảng 7,6%. Đáng chú ý, tín dụng đến cuối tháng 9 tăng 11,59%, thấp hơn mức 13,37% cùng kỳ, trong khi GDP lại tăng nhanh hơn. Dòng vốn đang đi vào năng lực sản xuất Một chi tiết đáng chú ý khác nằm ở cơ cấu nhập khẩu. 9 tháng, nhập khẩu đạt 453,72 tỷ USD, tăng 36,7%. Trong đó, máy móc, thiết bị chiếm 58,3%, nguyên, nhiên vật liệu chiếm 35,8%, còn hàng tiêu dùng chỉ chiếm 5,9%. Như vậy, 94,1% hàng nhập khẩu là tư liệu sản xuất. Theo TCBS, mức nhập siêu 19,42 tỷ USD trong bối cảnh này phần lớn phản ánh một nền kinh tế đang mở rộng công suất hơn là tiêu dùng vượt khả năng. Dòng vốn ngoại cũng cho thấy xu hướng tương tự. Vốn FDI đăng ký đạt 50,36 tỷ USD, tăng 76,4%, trong khi FDI thực hiện đạt 21,07 tỷ USD, tăng 12,1% và là mức cao nhất trong 5 năm. TCBS cho rằng dòng vốn đăng ký hiện tại có thể trở thành “đường ống” năng lực sản xuất cho giai đoạn 2027-2030 khi các dự án đi vào vận hành. Chuỗi vận động của dòng vốn cũng khá rõ: đầu tư toàn xã hội tăng 15,1%, xây dựng tăng 12,22%, vận tải và kho bãi tăng 11,03%, FDI thực hiện tăng 12,1%, chế biến chế tạo tăng 11,36%, xuất khẩu tăng 24,5% và thu nhập người lao động tăng 9%. Đây là nền tảng quan trọng để kỳ vọng lợi nhuận doanh nghiệp cải thiện. Nhưng lợi nhuận tăng chưa đủ để thị trường chứng khoán tăng giá. Ba “trạm” khiến tăng trưởng chưa chuyển thành định giá Theo TCBS, một chỉ tiêu vĩ mô chỉ đến được giá cổ phiếu khi đi qua ba trạm: lãi suất, lợi nhuận doanh nghiệp và dòng tiền. Trong ba yếu tố này, lợi nhuận đang thuận lợi nhất. GDP quý III tăng 9,95%, IIP tăng 14,8%, tiêu thụ ngành chế biến, chế tạo tăng 12,8% - những dữ liệu hỗ trợ triển vọng lợi nhuận của các nhóm sản xuất, hạ tầng và logistics. Ngược lại, trạm lãi suất đang trở nên khó khăn hơn. CPI bình quân 9 tháng tăng 4,52%, vượt nhẹ mục tiêu khoảng 4,5%; riêng tháng 9 tăng 5,08%, trong khi lạm phát cơ bản tăng 4,26%. Khi lạm phát vượt mục tiêu, dư địa nới lỏng tiền tệ trở nên hạn chế. Nói cách khác, tăng trưởng cao không đồng nghĩa với việc thị trường có thêm một môi trường tiền rẻ để đẩy định giá cổ phiếu lên. Ở trạm thứ ba, dòng tiền cũng chưa đảo chiều. Khối ngoại đã bán ròng khoảng 97.200 tỷ đồng trên HOSE trong 9 tháng; riêng tháng 9 còn bán ròng khoảng 4.500 tỷ đồng. Thanh khoản bình quân giảm 26,9% so với cùng kỳ. Vì vậy, dù nền kinh tế tạo ra thêm sản lượng và triển vọng lợi nhuận được cải thiện, thị trường vẫn thiếu một yếu tố quan trọng để tái định giá: dòng tiền. Một lý do khác khiến thị trường chưa thể hoàn toàn lạc quan là những tín hiệu sớm từ khu vực sản xuất. Chỉ số quản lý mua sắm (PMI) tháng 9 đạt 51,9 điểm, tiếp tục trên ngưỡng 50 và đánh dấu tháng thứ 15 liên tiếp mở rộng. Tuy nhiên, đơn hàng mới tăng chậm nhất 5 tháng, chủ yếu nhờ cầu trong nước. Đáng chú ý, đơn hàng xuất khẩu mới giảm tháng thứ hai liên tiếp, với mức giảm mạnh nhất kể từ tháng 4. Trong khi đó, tồn kho ngành chế biến tại ngày 30/9 tăng 11,9% so với cùng kỳ. Như vậy, sản lượng hiện tại vẫn rất mạnh, nhưng thị trường đang phải nhìn xa hơn con số GDP của 9 tháng để đánh giá đơn hàng và lợi nhuận của các quý tới. Sức khỏe doanh nghiệp cũng chưa hoàn toàn đồng đều. Tháng 9, số doanh nghiệp thành lập mới giảm 31,1%, trong khi số doanh nghiệp hoàn tất giải thể tăng 89,3%. TCBS cho rằng điều này cho thấy độ lan tỏa của tăng trưởng chưa đồng đều, đặc biệt giữa doanh nghiệp quy mô lớn và khu vực doanh nghiệp nhỏ. Khoảng cách giữa GDP và chứng khoán vì thế không hẳn phản ánh việc thị trường “bỏ qua” tăng trưởng. Ngược lại, thị trường đang đặt ra những yêu cầu cao hơn đối với chất lượng và tính bền vững của tăng trưởng. Trong quý IV, nhà đầu tư sẽ phải theo dõi sát diễn biến CPI, tín dụng, đơn hàng xuất khẩu và tồn kho. TCBS ước tính hệ thống tín dụng cần tăng thêm khoảng 3,4 điểm % trong ba tháng cuối năm để tiến gần định hướng khoảng 15% cả năm. Nếu tăng trưởng tiếp tục chuyển hóa thành lợi nhuận doanh nghiệp, lạm phát được kiểm soát và dòng tiền quay trở lại, khoảng cách giữa nền kinh tế và thị trường vốn có thể thu hẹp. Ngược lại, nếu lạm phát tiếp tục tăng, đơn hàng xuất khẩu suy yếu và dòng tiền chưa cải thiện, tốc độ tăng GDP cao cũng chưa đủ để tạo ra một mặt bằng định giá mới.

Dòng vốn cho tăng trưởng chuyển sang nhiều kênh

Nhu cầu đầu tư gia tăng cùng mục tiêu tăng trưởng cao đang thúc đẩy việc mở rộng các nguồn vốn trung, dài hạn. Đi cùng quy mô vốn là yêu cầu nâng hiệu quả phân bổ, chất lượng dự án và phát triển cân bằng các kênh huy động. Vốn lớn hơn, hiệu quả cao hơn Bức tranh tăng trưởng năm 2026 cho thấy vai trò ngày càng nổi bật của đầu tư. Báo cáo Triển vọng Phát triển châu Á của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) cho biết, GDP Việt Nam tăng 8,2% trong nửa đầu năm, trong khi tổng vốn hình thành tài sản tăng 15,2%, phản ánh hoạt động đầu tư mạnh từ khu vực công, FDI và tư nhân. Vì thế, nhiều tổ chức quốc tế đã nâng dự báo tăng trưởng của Việt Nam, bởi những hỗ trợ từ sản xuất, nhu cầu trong nước, đầu tư công và FDI. Tuy nhiên, báo cáo của ADB cũng lưu ý, đầu tư và tín dụng tăng nhanh có thể làm gia tăng những điểm dễ tổn thương về tài chính và thu hẹp không gian chính sách. Theo ông Bùi Minh Giáp, Chuyên gia kinh tế trưởng ADB tại Việt Nam, tăng trưởng của Việt Nam có sự đóng góp của nhiều động lực, từ công nghiệp, xây dựng, dịch vụ đến tiêu dùng, đầu tư công, FDI và thương mại. Trong đó, hoạt động đầu tư đang diễn ra mạnh. Tuy nhiên, trọng tâm không chỉ nằm ở lượng vốn đưa vào nền kinh tế. Việt Nam phải nâng hiệu quả sử dụng vốn và lao động để cải thiện năng suất tổng hợp, đồng thời phát triển hạ tầng kết nối và chất lượng nguồn nhân lực. Với đầu tư công, ông Bùi Minh Giáp cho rằng, bên cạnh tiến độ giải ngân, vốn phải tập trung vào những dự án có chất lượng, khả năng lan tỏa và dẫn dắt đầu tư tư nhân, chẳng hạn các dự án giảm chi phí logistics, tăng an ninh năng lượng hoặc cải thiện kết nối vùng. Nếu lựa chọn được dự án hiệu quả, tác động trung và dài hạn sẽ khác với việc đẩy vốn chủ yếu nhằm đạt mục tiêu tăng trưởng trước mắt. Quy mô nguồn lực trong những năm tới cũng rất lớn. Theo phân tích của Ngân hàng UOB, Việt Nam cần khoảng 38,5 triệu tỷ đồng, tương đương khoảng 1,5 nghìn tỷ USD vốn đầu tư trong giai đoạn 2026-2030 để hướng tới mục tiêu tăng trưởng cao. Nguồn lực này phục vụ hạ tầng, kinh tế xanh, công nghệ, mở rộng năng lực sản xuất, giáo dục và y tế. Tại buổi làm việc với Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC) ngày 28/9/2026, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Đức Ấn cũng nhấn mạnh, trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng 2 con số, nhu cầu vốn cho phát triển kinh tế rất lớn. Việc huy động và phân bổ hiệu quả các nguồn lực tài chính không chỉ đáp ứng yêu cầu trước mắt mà còn phục vụ các mục tiêu phát triển dài hạn, bền vững. Mở rộng các kênh vốn Theo Ngân hàng Nhà nước, tổng dư nợ của IFC tại Việt Nam hiện đạt 2,6 tỷ USD, trong khi tổng vốn cam kết trong tài khóa 2026 đạt 3 tỷ USD, bao gồm vốn ngắn hạn và dài hạn. Ông Arnaud Dupoizat, Giám đốc IFC khu vực Đông Á và Thái Bình Dương cho biết, IFC mong muốn tiếp tục mở rộng đầu tư, huy động vốn quốc tế và hỗ trợ khu vực tư nhân Việt Nam, trong đó chú trọng doanh nghiệp nhỏ và vừa, nông nghiệp và các dự án phát triển dài hạn. Đáng chú ý, IFC sẽ tập trung phát triển các công cụ tài chính trên thị trường vốn để bổ trợ cho nguồn vốn ngân hàng, nhất là đối với dự án dài hạn và hạ tầng; đồng thời huy động thêm nguồn lực quốc tế thông qua cơ chế đồng tài trợ và tăng kết nối nhà đầu tư quốc tế với Việt Nam. Chia sẻ thêm về hướng đa dạng hóa nguồn vốn, bà Jing Zhao, chuyên gia cao cấp về tài chính của Ngân hàng Thế giới cho rằng, việc lựa chọn nguồn tài trợ nên gắn với đặc điểm dự án. Với những dự án có ý nghĩa xã hội lớn nhưng khả năng thu hồi vốn thấp, nguồn lực công giữ vai trò chủ đạo. Trong khi đó, với các dự án có khả năng tạo doanh thu nhưng chưa đủ hấp dẫn nhà đầu tư, vốn công hoặc vốn ưu đãi có thể tham gia để chia sẻ rủi ro, qua đó thu hút thêm nguồn vốn tư nhân. Bà Jing Zhao cũng đề cập, các quỹ hưu trí, doanh nghiệp bảo hiểm và hình thức đầu tư tập thể như những nguồn vốn có đặc điểm kỳ hạn phù hợp với các khoản đầu tư dài hạn. Việc mở rộng sự tham gia của các tổ chức này phải đi cùng nâng cao năng lực đầu tư và phát triển nguồn dự án phù hợp. Cấu trúc các kênh huy động càng đáng chú ý khi ADB, cho biết dư nợ tín dụng tại Việt Nam đến cuối năm 2025 tương đương 145% GDP, trong khi thị trường trái phiếu doanh nghiệp khoảng 10% GDP. Theo ADB, chênh lệch kỳ hạn và bộ đệm vốn đặt ra yêu cầu thận trọng đối với việc tài trợ những dự án hạ tầng quy mô lớn, có thời gian thu hồi vốn dài. Ông Bùi Minh Giáp lưu ý, định hướng này không nhằm giảm vai trò của ngân hàng mà hướng tới một cấu trúc tài chính cân bằng hơn, trong đó các kênh vốn bổ trợ lẫn nhau. Để thị trường vốn đảm nhiệm tốt hơn vai trò cung ứng vốn trung và dài hạn, ngoài tăng phát hành cổ phiếu và trái phiếu, thị trường phải củng cố niềm tin thông qua công bố thông tin minh bạch, xếp hạng tín nhiệm độc lập, quản trị doanh nghiệp tốt hơn và cơ chế bảo vệ nhà đầu tư rõ ràng. Việc thị trường chứng khoán Việt Nam được FTSE Russell nâng hạng tạo thêm một điều kiện cho quá trình này. Tuy nhiên, theo Chuyên gia kinh tế trưởng của ADB, nâng hạng trước hết là chỉ báo ghi nhận những cải thiện đã đạt được; khả năng thu hút nguồn lực trong thời gian tới còn phụ thuộc vào môi trường chính sách, khả năng tiếp cận thông tin và mức độ minh bạch của thị trường. Như vậy, cùng với việc gia tăng quy mô nguồn lực, trọng tâm đang chuyển sang hiệu quả phân bổ và sự phù hợp về kỳ hạn. Vốn công, vốn tư nhân, tín dụng, thị trường vốn và nguồn lực quốc tế có thể bổ trợ cho nhau theo đặc điểm từng dự án, qua đó vừa đáp ứng nhu cầu đầu tư lớn, vừa nâng hiệu quả sử dụng vốn và chất lượng tăng trưởng.

SSI Research dự báo lợi nhuận quý III/2026: Loạt doanh nghiệp tăng trưởng ba chữ số

Theo báo cáo Ước tính KQKD Q3/2026 của SSI Research, bức tranh lợi nhuận quý III/2026 giữa các doanh nghiệp có sự phân hóa rõ. Một số doanh nghiệp được hưởng lợi từ giá hàng hóa, sản lượng, bàn giao dự án hoặc sự phục hồi của tiêu dùng. Ngược lại, nhóm bất động sản và một số ngân hàng chịu tác động bởi nền so sánh cao, chi phí tăng hoặc tiến độ ghi nhận doanh thu chậm hơn. Loạt doanh nghiệp có thể tăng trưởng ba chữ số Viglacera (VGC) nằm trong nhóm có mức tăng trưởng lợi nhuận cao nhất. SSI Research ước tính lợi nhuận sau thuế quý III/2026 đạt 331 tỷ đồng, tăng 183% so với cùng kỳ, dù giảm 60% so với quý II. Động lực chính đến từ việc VGC bắt đầu ghi nhận doanh thu cho thuê đất tại KCN Tràng Yên, với khoảng 290 tỷ đồng, cùng sự phục hồi của mảng sản xuất kính. Kết quả kinh doanh còn được hỗ trợ bởi lãi suất tiền gửi tăng và chính sách thuế mới đối với sản phẩm kính xây dựng. Dự báo kết quả kinh doanh của SSI Research SSI Research cũng đề cập mức thuế chống bán phá giá đối với kính nổi nhập khẩu từ Indonesia và Malaysia ở mức 15,17%-63,39%. Với Masan (MSN), lợi nhuận sau thuế quý III/2026 được SSI Research ước tính đạt 4.200 tỷ đồng, tăng 125% so với cùng kỳ và tăng 11% so với quý trước. Mức tăng chủ yếu đến từ đóng góp đột biến của mảng khai khoáng, trong khi bán lẻ tiếp tục được kỳ vọng duy trì tăng trưởng. PHR cũng được dự báo đạt lợi nhuận sau thuế 576 tỷ đồng, tăng 118% so với cùng kỳ và 56% so với quý II. SSI Research dự báo sản lượng tiêu thụ cao su giảm khoảng 8%, nhưng giá bán bình quân tăng khoảng 18%. Đáng chú ý, lợi nhuận cả năm 2026 của PHR được dự báo tăng tới 234%. Trong nhóm tăng trưởng ba chữ số, NT2 được dự báo đạt 428 tỷ đồng lợi nhuận sau thuế, gấp đôi cùng kỳ, dù giảm 39% so với quý trước. Sản lượng điện khí được kỳ vọng tăng 40-50% nhờ nguồn cung khí được đảm bảo và chi phí khấu hao giảm. Bán lẻ, ngân hàng duy trì đà tăng trưởng Ở lĩnh vực bán lẻ, FRT được SSI Research dự báo đạt 530 tỷ đồng lợi nhuận sau thuế, tăng 99% so với cùng kỳ và 18% so với quý II. Động lực đến từ việc mở rộng mạng lưới cửa hàng, hiệu quả hoạt động của chuỗi nhà thuốc và sự cải thiện của nhu cầu sản phẩm công nghệ. MWG được dự báo đạt 3.000 tỷ đồng lợi nhuận, tăng 68% so với cùng kỳ nhưng giảm 11% so với quý trước. SSI Research kỳ vọng nhu cầu thay thế, nâng cấp sản phẩm công nghệ, điện máy và sự cải thiện của chuỗi bách hóa tiếp tục hỗ trợ kết quả kinh doanh. Trong nhóm ngân hàng, HDB được dự báo đạt 7.000 tỷ đồng lợi nhuận, tăng 48%; MBB đạt 10.000 tỷ đồng, tăng 38%; MSB đạt 2.100 tỷ đồng, tăng 32%. Một số ngân hàng khác cũng được dự báo tăng trưởng như TPB 31%, BID và CTG cùng 27%, VIB 23%, TCB 15% và VCB 14%. Riêng VPB, SSI Research ước tính lợi nhuận sau thuế quý III đạt 10.000 tỷ đồng, tăng 9% so với cùng kỳ nhưng giảm 9% so với quý trước. Tăng trưởng tín dụng tiếp tục là động lực chính, trong khi thu nhập ngoài lãi được hỗ trợ bởi hoạt động tư vấn phát hành trái phiếu doanh nghiệp. Dầu khí, điện và cảng biển: lợi nhuận tiếp tục cải thiện Ở nhóm năng lượng, GAS được dự báo đạt 4.076 tỷ đồng lợi nhuận sau thuế, tăng 60% so với cùng kỳ. PVT đạt khoảng 595 tỷ đồng, tăng 71%, trong khi POW đạt 1.103 tỷ đồng, tăng 36%. Với POW, sản lượng điện được kỳ vọng tăng 35-45%, nhờ các nhà máy nhiệt điện hiện hữu và đóng góp của dự án Nhơn Trạch 3&4. SSI Research dự báo lợi nhuận cả năm 2026 của POW tăng tới 156%. GMD cũng được dự báo đạt 720 tỷ đồng lợi nhuận, tăng 67%. Động lực đến từ sản lượng qua cảng Gemalink và lợi nhuận mảng vận tải biển. SSI Research đồng thời đề cập khoản hoàn nhập dự phòng bất thường 624 tỷ đồng từ thoái vốn tại CJ Logistics trong quý II/2026. Bất động sản phân hóa mạnh Ở nhóm bất động sản, VHM được SSI Research ước tính đạt 4.601 tỷ đồng lợi nhuận sau thuế trong quý III, tăng 3,7% so với cùng kỳ nhưng giảm tới 83% so với quý trước. Lợi nhuận chủ yếu đến từ bàn giao các dự án Golden City, Wonder City, Royal Island và Green Paradise. NLG được dự báo đạt 236 tỷ đồng, tăng nhẹ 1% so với cùng kỳ. Trong khi đó, KDH có thể đạt 185 tỷ đồng, giảm 22%. Lợi nhuận KDH chủ yếu đến từ bàn giao sản phẩm thấp tầng tại dự án Gladia, trong khi quý trước có nền lợi nhuận cao và khoản lãi tài chính bất thường từ việc ngừng hợp nhất Bình Trưng Mới. HDG cũng nằm trong nhóm suy giảm, với lợi nhuận dự báo 176 tỷ đồng, giảm 38%. Đối với PVD, lợi nhuận được dự báo đạt 200 tỷ đồng, giảm 28%, do chi phí tăng từ khoản đầu tư giàn PVD IX trong quý III. IDC, STB chịu áp lực giảm lợi nhuận Ở chiều ngược lại, IDC là một trong những doanh nghiệp được dự báo giảm lợi nhuận mạnh nhất. SSI Research ước tính lợi nhuận sau thuế quý III đạt 457 tỷ đồng, giảm 53% so với cùng kỳ và 29% so với quý II. Nguyên nhân chủ yếu là diện tích đất khu công nghiệp bàn giao trong quý III dự kiến chỉ khoảng 10 ha, giảm 71% so với cùng kỳ. Trong đó, KCN Hựu Thạnh và KCN Phú Mỹ II mở rộng đóng góp chính. Giá cho thuê đất được dự báo khoảng 140 USD/m²/chu kỳ thuê, tăng 3%. Tại ngân hàng, STB được dự báo đạt 2.000 tỷ đồng lợi nhuận, giảm 45% so với cùng kỳ. SSI Research cho rằng chi phí dự phòng vẫn ở mức cao, dù tăng trưởng tín dụng được kỳ vọng cải thiện từ quý III. Đáng chú ý, HPG lại được dự báo tăng 37%, lên 5.500 tỷ đồng, nhưng giảm 14% so với quý trước. SSI Research cho rằng chi phí đầu vào tăng nhanh hơn giá thép trong quý III, trong khi mặt bằng lãi suất cao hơn làm gia tăng chi phí lãi vay.

Dòng hàng đi liên vùng, hạ tầng không thể đầu tư riêng lẻ

Không dừng ở địa giới hành chính Một thay đổi đáng chú ý trong tư duy phát triển vùng được đặt ra tại Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 28/8/2026 của Bộ Chính trị về phát triển các vùng và tổ chức không gian phát triển quốc gia trong giai đoạn mới là yêu cầu tái cấu trúc, quản lý và khai thác hiệu quả không gian phát triển vùng đồng bộ với không gian phát triển quốc gia trên cơ sở phát huy tối đa ưu điểm nổi trội, lợi thế cạnh tranh, bản sắc văn hoá của từng vùng và từng địa phương; phát huy vai trò đi đầu, dẫn dắt, lan toả của các vùng động lực, hành lang kinh tế, cực tăng trưởng… Yêu cầu này cho thấy nguồn lực phát triển cần được nhìn trong không gian rộng hơn phạm vi của từng địa phương, gắn với vị trí, chức năng và khả năng kết nối của mỗi địa bàn trong tổng thể vùng, các hành lang kinh tế. Đối với phía Bắc, hành lang kinh tế Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh được xác định là một trong những hành lang kinh tế quan trọng, tạo không gian kết nối từ khu vực cửa khẩu, qua các trung tâm kinh tế, sản xuất lớn tới hệ thống cảng biển. Phát biểu tại Diễn đàn Logistics vùng lần VII năm 2026 mới đây, ông Nguyễn Ngọc Tuấn, Phó Trưởng Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương cho rằng, không gian kinh tế cần được cấu trúc theo các dòng lưu chuyển của hàng hóa, vốn, công nghệ, nhân lực và tri thức. Trong đó, hành lang kinh tế, cực tăng trưởng và chuỗi giá trị được kết nối để tạo ra giá trị gia tăng và sức lan tỏa. Trong cấu trúc này, logistics là một trong những lĩnh vực thể hiện được tính liên vùng. Dòng hàng từ nhà máy đến thị trường, cảng biển hay cửa khẩu thường đi qua nhiều địa phương và nhiều đầu mối khác nhau. Theo ông Hà Vũ Hào, Phó Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Cảng Hải Phòng, một container không kết thúc hành trình khi rời tàu xuống cảng. Hiệu quả của cảng biển phụ thuộc mật thiết vào sự đồng bộ của hạ tầng phía sau, bao gồm đường bộ, đường thủy nội địa, đường sắt, các cảng cạn, kho bãi và trung tâm logistics. Bởi ngay cả khi cảng được đầu tư hiện đại, nếu kết nối hậu cần không thông suốt thì chuỗi logistics vẫn có thể bị nghẽn. Là một doanh nghiệp vận tải, ông Cáp Trọng Cường, Tổng Giám đốc Tập đoàn Macstar cũng đề cập đến tình trạng nhiều khu công nghiệp, khu chế xuất và cụm công nghiệp chưa có vị trí phù hợp để phương tiện thủy tiếp cận. Theo ông Cường, tình trạng này làm tăng chi phí khai thác và khiến doanh nghiệp khó duy trì các tuyến vận tải thường xuyên. Do đó cần hoàn thiện quy hoạch và đầu tư cảng cạn, ICD, bãi container rỗng, cảng thủy nội địa và trung tâm logistics gắn với các tuyến đường thủy; đồng thời hình thành các tuyến vận tải thủy thường xuyên kết nối cảng biển với ICD, cảng cạn, khu công nghiệp và trung tâm logistics. Đảm bảo hiệu quả của mạng lưới Nghị quyết số 27-NQ/TW không chỉ đặt vấn đề tổ chức lại không gian mà còn yêu cầu đổi mới cơ chế điều phối và liên kết vùng; tăng tính đồng bộ giữa quy hoạch, đầu tư, kết cấu hạ tầng và phân bổ nguồn lực. Mục tiêu là khắc phục tình trạng phát triển phân tán, thiếu liên kết giữa các địa phương. Điểm này càng đáng chú ý khi nhu cầu đầu tư hạ tầng ngày càng lớn. Một dự án nằm trên địa bàn một tỉnh, thành phố có thể phục vụ hoạt động sản xuất, xuất nhập khẩu của nhiều địa phương khác. Ngược lại, hiệu quả của một công trình lớn cũng có thể phụ thuộc vào những hạng mục nằm ngoài địa giới nơi công trình đó được đầu tư. Cảng biển là một trường hợp điển hình. Công suất cảng tăng nhưng khả năng tiếp nhận thêm dòng hàng còn phụ thuộc vào năng lực vận chuyển, kho bãi, trung chuyển và các khu vực sản xuất phía sau. Tương tự, khi một khu công nghiệp mở rộng sản xuất, nhu cầu hạ tầng phát sinh không chỉ ở địa phương đặt khu công nghiệp mà còn trên hành trình hàng hóa tới cảng biển, cửa khẩu và thị trường. Vì thế, việc lựa chọn nguồn lực đầu tư cần tính đến phạm vi tác động của từng dự án, nhất là những công trình phục vụ dòng hàng và hoạt động sản xuất của nhiều địa phương. Từ góc nhìn quốc tế, ông Stéphane Graber, Tổng Giám đốc Liên đoàn các Hiệp hội Giao nhận Vận tải Thế giới (FIATA) nhấn mạnh, đầu tư cơ sở hạ tầng là điều kiện cần nhưng chưa đủ. Khả năng chống chịu của chuỗi cung ứng còn phụ thuộc vào chia sẻ thông tin, hợp tác công - tư và mức độ ứng dụng các công cụ thương mại số phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế. Ông Graber đưa ra 4 nhóm điều kiện đối với một trung tâm trung chuyển, gồm vị trí địa lý và hạ tầng vật lý; kết nối đa phương thức; tốc độ và độ ổn định trong vận hành; khả năng kết nối dữ liệu và đồng bộ pháp lý. Trong đó, dữ liệu vận tải, thương mại và thông quan cần được trao đổi thuận lợi giữa các bên trong chuỗi logistics. Đại diện FIATA cũng khuyến nghị tăng kết nối các tuyến đường sắt, đường thủy nội địa và đường bộ từ cảng biển đến các trung tâm sản xuất, nhà máy; đồng thời thúc đẩy hài hòa thủ tục hải quan nhằm hạn chế tình trạng hàng hóa đã được xử lý nhanh ở một đầu nhưng lại bị ách tắc ở điểm tiếp theo. Đối với doanh nghiệp, điều cần thiết là một mạng lưới có khả năng đưa hàng hóa từ nơi sản xuất tới thị trường ổn định và thuận lợi. Còn với mỗi địa phương, hiệu quả của một dự án liên vùng có thể vượt khỏi phạm vi địa giới khi công trình đó đồng thời mở rộng khả năng tiếp cận cảng biển, cửa khẩu và thị trường cho doanh nghiệp ở các địa phương khác, qua đó phát huy tốt hơn vai trò dẫn dắt và lan tỏa của các cực tăng trưởng.

Thu hẹp khoảng cách từ nguồn lực đến năng suất

Khoảng cách từ có tiền đến tạo ra công nghệ Việt Nam đang đứng trước yêu cầu vừa mở rộng các nguồn lực cho phát triển, vừa nâng hiệu quả sử dụng khi mô hình tăng trưởng ngày càng dựa nhiều hơn vào khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chất lượng nguồn nhân lực. Vì thế, vấn đề quan trọng hơn là đưa những nguồn lực sẵn có vào đúng nơi, kết nối với nhau và chuyển hóa thành năng suất, giá trị gia tăng. Phát biểu tại Hội thảo khoa học quốc gia “Khơi thông và sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho phát triển kinh tế trong kỷ nguyên mới” mới đây, PGS.TS. Bùi Đức Thọ, Giám đốc Đại học Kinh tế Quốc dân cho rằng, trong giai đoạn phát triển mới, vấn đề không chỉ là Việt Nam có bao nhiêu nguồn lực, mà quan trọng hơn là làm thế nào khai thông những nguồn lực đang bị ách tắc, khơi dậy nguồn lực tiềm ẩn, thu hút nguồn lực mới và phân bổ hiệu quả để tạo ra giá trị kinh tế - xã hội cao nhất. Theo PGS.TS Vũ Trọng Lâm, Giám đốc, Tổng Biên tập Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, lợi thế phát triển của một quốc gia ngày càng được quyết định bởi năng lực tổ chức, kết nối và chuyển hóa nguồn lực thành năng suất, giá trị gia tăng và sức mạnh phát triển. Đặt trong yêu cầu chuyển đổi mô hình tăng trưởng, câu chuyện sử dụng nguồn lực càng rõ hơn ở lĩnh vực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. PGS.TS Vũ Sỹ Cường, Học viện Tài chính cho biết, khi mô hình phát triển chuyển sang dựa nhiều hơn vào tri thức và công nghệ, cách huy động và sử dụng nguồn lực tài chính cũng phải thay đổi. Thực tế cho thấy khu vực doanh nghiệp đang ngày càng giữ vai trò lớn hơn trong hoạt động nghiên cứu và phát triển. Năm 2023, R&D tại khu vực doanh nghiệp chiếm 77,76% tổng chi R&D, trong khi các tổ chức R&D chiếm 11,93%. Con số này cho thấy dư địa đáng kể để chuyển trọng tâm từ Nhà nước trực tiếp cấp vốn sang sử dụng nguồn lực công làm “vốn mồi”, tạo động lực để doanh nghiệp tăng đầu tư cho nghiên cứu, đổi mới công nghệ và thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Tuy nhiên, theo PGS.TS. Vũ Sỹ Cường, một số chính sách hiện vẫn mới dừng ở văn bản khung; doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, còn thiếu thông tin về các chương trình hỗ trợ. Vì thế, yêu cầu đặt ra không đơn thuần là bổ sung thêm một nguồn vốn mới, mà cần phổ biến và hướng dẫn cụ thể hơn cho doanh nghiệp về các ưu đãi thuế, tài chính dành cho R&D; hỗ trợ doanh nghiệp tham gia chuỗi giá trị trong nước và toàn cầu; hỗ trợ đăng ký quyền sở hữu trí tuệ và chuyển đổi sang mô hình doanh nghiệp khoa học, công nghệ... Nhìn rộng hơn từ nguồn lực tài chính sang hiệu quả của toàn bộ nền kinh tế, PGS.TS. Hoàng Văn Hoan, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh cho rằng, một nghịch lý đang tồn tại là các nguồn lực của Việt Nam mở rộng nhanh hơn khả năng chuyển hóa thành kết quả phát triển. Trong giai đoạn 2015-2025, quy mô vốn đầu tư, nhân lực, khoa học, công nghệ và hạ tầng số đều được mở rộng. Thị trường vốn tiếp tục phát triển, đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng ngày càng lớn. Tuy nhiên, tốc độ tăng TFP giai đoạn 2021-2025 chỉ đạt 2,91%, gần như không thay đổi so với giai đoạn trước; hiệu quả sử dụng vốn chưa ổn định và nguồn lực chưa chuyển mạnh sang các ngành có năng suất cao. Theo PGS.TS. Hoàng Văn Hoan, vấn đề cần giải quyết là “khoảng cách” giữa có nguồn lực và chuyển hóa được nguồn lực. Một trong những hướng đi quan trọng là làm rõ quyền, lợi ích và trách nhiệm của các chủ thể, đồng thời kết nối thể chế, thị trường, doanh nghiệp, công nghệ và dữ liệu. Trong đó, khu vực tư nhân giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Khi doanh nghiệp đã trở thành khu vực chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi R&D, hiệu quả chính sách không chỉ thể hiện ở số tiền ngân sách dành cho khoa học, công nghệ, mà còn ở khả năng tạo ra môi trường để doanh nghiệp sẵn sàng bỏ thêm vốn, chấp nhận rủi ro nghiên cứu và đưa kết quả nghiên cứu ra thị trường. Có vốn, có công nghệ vẫn cần người làm chủ Dòng tiền và công nghệ mới chỉ là một phần của bài toán. Khả năng chuyển hóa những nguồn lực này thành năng suất còn phụ thuộc trực tiếp vào nguồn nhân lực công nghệ chất lượng cao. GS.TSKH Nguyễn Đình Đức, Chủ tịch Hội đồng Trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội cho biết, Việt Nam đã đạt những kết quả đáng ghi nhận trong khoa học, công nghệ và chuyển đổi số. Kinh tế số đóng góp 14,02% GDP; năng suất lao động đạt khoảng 245 triệu đồng/lao động và tăng 6,83% theo giá so sánh. Tuy nhiên, đầu tư cho R&D mới ở mức khoảng 0,41% GDP năm 2023, thấp hơn đáng kể so với mục tiêu 2% GDP vào năm 2030 theo định hướng tại Nghị quyết 57-NQ/TW. Khoảng cách cũng thể hiện rõ ở nguồn nhân lực. Nhu cầu kỹ sư công nghệ thông tin và công nghệ số hiện khoảng 150.000 người mỗi năm, trong khi khả năng đáp ứng mới đạt khoảng 50%. Các lĩnh vực AI, khoa học dữ liệu, an ninh mạng và bán dẫn đặc biệt cần nguồn nhân lực trình độ cao. Theo GS.TSKH Nguyễn Đình Đức, nếu không đồng thời cải thiện đầu tư cho R&D, chất lượng nhân lực và liên kết nghiên cứu - sản xuất, công nghệ khó trở thành động lực tăng trưởng thực chất. Vì thế, bài toán không thể giải quyết riêng ở từng nguồn lực. Một hướng được đề xuất là xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo “4 nhà”, trong đó Nhà nước giữ vai trò kiến tạo, doanh nghiệp là trung tâm đổi mới sáng tạo, nhà trường là cái nôi nghiên cứu và nhà khoa học là hạt nhân. Các trường đại học cũng cần chuyển mạnh sang mô hình đại học nghiên cứu, chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo và thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Từ những khoảng cách về vốn, công nghệ đến nhân lực, yêu cầu đặt ra không chỉ là dành thêm nguồn lực cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, mà quan trọng hơn là thay đổi cách sử dụng và đo lường hiệu quả của nguồn lực này. Khi mỗi đồng vốn công có thể kéo thêm vốn doanh nghiệp, mỗi kết quả nghiên cứu có đường đi vào sản xuất và nguồn nhân lực đủ khả năng làm chủ công nghệ, khoảng cách từ “có nguồn lực” đến “tạo ra giá trị” mới thực sự được thu hẹp. Đây mới là nền tảng để khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành động lực thực chất cho mục tiêu tăng trưởng cao trong giai đoạn mới.

Dòng hàng đi liên vùng, hạ tầng không thể đầu tư riêng lẻ

Không dừng ở địa giới hành chính Một thay đổi đáng chú ý trong tư duy phát triển vùng được đặt ra tại Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 28/8/2026 của Bộ Chính trị về phát triển các vùng và tổ chức không gian phát triển quốc gia trong giai đoạn mới là yêu cầu tái cấu trúc, quản lý và khai thác hiệu quả không gian phát triển vùng đồng bộ với không gian phát triển quốc gia trên cơ sở phát huy tối đa ưu điểm nổi trội, lợi thế cạnh tranh, bản sắc văn hoá của từng vùng và từng địa phương; phát huy vai trò đi đầu, dẫn dắt, lan toả của các vùng động lực, hành lang kinh tế, cực tăng trưởng… Yêu cầu này cho thấy nguồn lực phát triển cần được nhìn trong không gian rộng hơn phạm vi của từng địa phương, gắn với vị trí, chức năng và khả năng kết nối của mỗi địa bàn trong tổng thể vùng, các hành lang kinh tế. Đối với phía Bắc, hành lang kinh tế Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh được xác định là một trong những hành lang kinh tế quan trọng, tạo không gian kết nối từ khu vực cửa khẩu, qua các trung tâm kinh tế, sản xuất lớn tới hệ thống cảng biển. Phát biểu tại Diễn đàn Logistics vùng lần VII năm 2026 mới đây, ông Nguyễn Ngọc Tuấn, Phó Trưởng Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương cho rằng, không gian kinh tế cần được cấu trúc theo các dòng lưu chuyển của hàng hóa, vốn, công nghệ, nhân lực và tri thức. Trong đó, hành lang kinh tế, cực tăng trưởng và chuỗi giá trị được kết nối để tạo ra giá trị gia tăng và sức lan tỏa. Trong cấu trúc này, logistics là một trong những lĩnh vực thể hiện được tính liên vùng. Dòng hàng từ nhà máy đến thị trường, cảng biển hay cửa khẩu thường đi qua nhiều địa phương và nhiều đầu mối khác nhau. Theo ông Hà Vũ Hào, Phó Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Cảng Hải Phòng, một container không kết thúc hành trình khi rời tàu xuống cảng. Hiệu quả của cảng biển phụ thuộc mật thiết vào sự đồng bộ của hạ tầng phía sau, bao gồm đường bộ, đường thủy nội địa, đường sắt, các cảng cạn, kho bãi và trung tâm logistics. Bởi ngay cả khi cảng được đầu tư hiện đại, nếu kết nối hậu cần không thông suốt thì chuỗi logistics vẫn có thể bị nghẽn. Là một doanh nghiệp vận tải, ông Cáp Trọng Cường, Tổng Giám đốc Tập đoàn Macstar cũng đề cập đến tình trạng nhiều khu công nghiệp, khu chế xuất và cụm công nghiệp chưa có vị trí phù hợp để phương tiện thủy tiếp cận. Theo ông Cường, tình trạng này làm tăng chi phí khai thác và khiến doanh nghiệp khó duy trì các tuyến vận tải thường xuyên. Do đó cần hoàn thiện quy hoạch và đầu tư cảng cạn, ICD, bãi container rỗng, cảng thủy nội địa và trung tâm logistics gắn với các tuyến đường thủy; đồng thời hình thành các tuyến vận tải thủy thường xuyên kết nối cảng biển với ICD, cảng cạn, khu công nghiệp và trung tâm logistics. Đảm bảo hiệu quả của mạng lưới Nghị quyết số 27-NQ/TW không chỉ đặt vấn đề tổ chức lại không gian mà còn yêu cầu đổi mới cơ chế điều phối và liên kết vùng; tăng tính đồng bộ giữa quy hoạch, đầu tư, kết cấu hạ tầng và phân bổ nguồn lực. Mục tiêu là khắc phục tình trạng phát triển phân tán, thiếu liên kết giữa các địa phương. Điểm này càng đáng chú ý khi nhu cầu đầu tư hạ tầng ngày càng lớn. Một dự án nằm trên địa bàn một tỉnh, thành phố có thể phục vụ hoạt động sản xuất, xuất nhập khẩu của nhiều địa phương khác. Ngược lại, hiệu quả của một công trình lớn cũng có thể phụ thuộc vào những hạng mục nằm ngoài địa giới nơi công trình đó được đầu tư. Cảng biển là một trường hợp điển hình. Công suất cảng tăng nhưng khả năng tiếp nhận thêm dòng hàng còn phụ thuộc vào năng lực vận chuyển, kho bãi, trung chuyển và các khu vực sản xuất phía sau. Tương tự, khi một khu công nghiệp mở rộng sản xuất, nhu cầu hạ tầng phát sinh không chỉ ở địa phương đặt khu công nghiệp mà còn trên hành trình hàng hóa tới cảng biển, cửa khẩu và thị trường. Vì thế, việc lựa chọn nguồn lực đầu tư cần tính đến phạm vi tác động của từng dự án, nhất là những công trình phục vụ dòng hàng và hoạt động sản xuất của nhiều địa phương. Từ góc nhìn quốc tế, ông Stéphane Graber, Tổng Giám đốc Liên đoàn các Hiệp hội Giao nhận Vận tải Thế giới (FIATA) nhấn mạnh, đầu tư cơ sở hạ tầng là điều kiện cần nhưng chưa đủ. Khả năng chống chịu của chuỗi cung ứng còn phụ thuộc vào chia sẻ thông tin, hợp tác công - tư và mức độ ứng dụng các công cụ thương mại số phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế. Ông Graber đưa ra 4 nhóm điều kiện đối với một trung tâm trung chuyển, gồm vị trí địa lý và hạ tầng vật lý; kết nối đa phương thức; tốc độ và độ ổn định trong vận hành; khả năng kết nối dữ liệu và đồng bộ pháp lý. Trong đó, dữ liệu vận tải, thương mại và thông quan cần được trao đổi thuận lợi giữa các bên trong chuỗi logistics. Đại diện FIATA cũng khuyến nghị tăng kết nối các tuyến đường sắt, đường thủy nội địa và đường bộ từ cảng biển đến các trung tâm sản xuất, nhà máy; đồng thời thúc đẩy hài hòa thủ tục hải quan nhằm hạn chế tình trạng hàng hóa đã được xử lý nhanh ở một đầu nhưng lại bị ách tắc ở điểm tiếp theo. Đối với doanh nghiệp, điều cần thiết là một mạng lưới có khả năng đưa hàng hóa từ nơi sản xuất tới thị trường ổn định và thuận lợi. Còn với mỗi địa phương, hiệu quả của một dự án liên vùng có thể vượt khỏi phạm vi địa giới khi công trình đó đồng thời mở rộng khả năng tiếp cận cảng biển, cửa khẩu và thị trường cho doanh nghiệp ở các địa phương khác, qua đó phát huy tốt hơn vai trò dẫn dắt và lan tỏa của các cực tăng trưởng.

SSI Research dự báo lợi nhuận quý III/2026: Loạt doanh nghiệp tăng trưởng ba chữ số

Theo báo cáo Ước tính KQKD Q3/2026 của SSI Research, bức tranh lợi nhuận quý III/2026 giữa các doanh nghiệp có sự phân hóa rõ. Một số doanh nghiệp được hưởng lợi từ giá hàng hóa, sản lượng, bàn giao dự án hoặc sự phục hồi của tiêu dùng. Ngược lại, nhóm bất động sản và một số ngân hàng chịu tác động bởi nền so sánh cao, chi phí tăng hoặc tiến độ ghi nhận doanh thu chậm hơn. Loạt doanh nghiệp có thể tăng trưởng ba chữ số Viglacera (VGC) nằm trong nhóm có mức tăng trưởng lợi nhuận cao nhất. SSI Research ước tính lợi nhuận sau thuế quý III/2026 đạt 331 tỷ đồng, tăng 183% so với cùng kỳ, dù giảm 60% so với quý II. Động lực chính đến từ việc VGC bắt đầu ghi nhận doanh thu cho thuê đất tại KCN Tràng Yên, với khoảng 290 tỷ đồng, cùng sự phục hồi của mảng sản xuất kính. Kết quả kinh doanh còn được hỗ trợ bởi lãi suất tiền gửi tăng và chính sách thuế mới đối với sản phẩm kính xây dựng. Dự báo kết quả kinh doanh của SSI Research SSI Research cũng đề cập mức thuế chống bán phá giá đối với kính nổi nhập khẩu từ Indonesia và Malaysia ở mức 15,17%-63,39%. Với Masan (MSN), lợi nhuận sau thuế quý III/2026 được SSI Research ước tính đạt 4.200 tỷ đồng, tăng 125% so với cùng kỳ và tăng 11% so với quý trước. Mức tăng chủ yếu đến từ đóng góp đột biến của mảng khai khoáng, trong khi bán lẻ tiếp tục được kỳ vọng duy trì tăng trưởng. PHR cũng được dự báo đạt lợi nhuận sau thuế 576 tỷ đồng, tăng 118% so với cùng kỳ và 56% so với quý II. SSI Research dự báo sản lượng tiêu thụ cao su giảm khoảng 8%, nhưng giá bán bình quân tăng khoảng 18%. Đáng chú ý, lợi nhuận cả năm 2026 của PHR được dự báo tăng tới 234%. Trong nhóm tăng trưởng ba chữ số, NT2 được dự báo đạt 428 tỷ đồng lợi nhuận sau thuế, gấp đôi cùng kỳ, dù giảm 39% so với quý trước. Sản lượng điện khí được kỳ vọng tăng 40-50% nhờ nguồn cung khí được đảm bảo và chi phí khấu hao giảm. Bán lẻ, ngân hàng duy trì đà tăng trưởng Ở lĩnh vực bán lẻ, FRT được SSI Research dự báo đạt 530 tỷ đồng lợi nhuận sau thuế, tăng 99% so với cùng kỳ và 18% so với quý II. Động lực đến từ việc mở rộng mạng lưới cửa hàng, hiệu quả hoạt động của chuỗi nhà thuốc và sự cải thiện của nhu cầu sản phẩm công nghệ. MWG được dự báo đạt 3.000 tỷ đồng lợi nhuận, tăng 68% so với cùng kỳ nhưng giảm 11% so với quý trước. SSI Research kỳ vọng nhu cầu thay thế, nâng cấp sản phẩm công nghệ, điện máy và sự cải thiện của chuỗi bách hóa tiếp tục hỗ trợ kết quả kinh doanh. Trong nhóm ngân hàng, HDB được dự báo đạt 7.000 tỷ đồng lợi nhuận, tăng 48%; MBB đạt 10.000 tỷ đồng, tăng 38%; MSB đạt 2.100 tỷ đồng, tăng 32%. Một số ngân hàng khác cũng được dự báo tăng trưởng như TPB 31%, BID và CTG cùng 27%, VIB 23%, TCB 15% và VCB 14%. Riêng VPB, SSI Research ước tính lợi nhuận sau thuế quý III đạt 10.000 tỷ đồng, tăng 9% so với cùng kỳ nhưng giảm 9% so với quý trước. Tăng trưởng tín dụng tiếp tục là động lực chính, trong khi thu nhập ngoài lãi được hỗ trợ bởi hoạt động tư vấn phát hành trái phiếu doanh nghiệp. Dầu khí, điện và cảng biển: lợi nhuận tiếp tục cải thiện Ở nhóm năng lượng, GAS được dự báo đạt 4.076 tỷ đồng lợi nhuận sau thuế, tăng 60% so với cùng kỳ. PVT đạt khoảng 595 tỷ đồng, tăng 71%, trong khi POW đạt 1.103 tỷ đồng, tăng 36%. Với POW, sản lượng điện được kỳ vọng tăng 35-45%, nhờ các nhà máy nhiệt điện hiện hữu và đóng góp của dự án Nhơn Trạch 3&4. SSI Research dự báo lợi nhuận cả năm 2026 của POW tăng tới 156%. GMD cũng được dự báo đạt 720 tỷ đồng lợi nhuận, tăng 67%. Động lực đến từ sản lượng qua cảng Gemalink và lợi nhuận mảng vận tải biển. SSI Research đồng thời đề cập khoản hoàn nhập dự phòng bất thường 624 tỷ đồng từ thoái vốn tại CJ Logistics trong quý II/2026. Bất động sản phân hóa mạnh Ở nhóm bất động sản, VHM được SSI Research ước tính đạt 4.601 tỷ đồng lợi nhuận sau thuế trong quý III, tăng 3,7% so với cùng kỳ nhưng giảm tới 83% so với quý trước. Lợi nhuận chủ yếu đến từ bàn giao các dự án Golden City, Wonder City, Royal Island và Green Paradise. NLG được dự báo đạt 236 tỷ đồng, tăng nhẹ 1% so với cùng kỳ. Trong khi đó, KDH có thể đạt 185 tỷ đồng, giảm 22%. Lợi nhuận KDH chủ yếu đến từ bàn giao sản phẩm thấp tầng tại dự án Gladia, trong khi quý trước có nền lợi nhuận cao và khoản lãi tài chính bất thường từ việc ngừng hợp nhất Bình Trưng Mới. HDG cũng nằm trong nhóm suy giảm, với lợi nhuận dự báo 176 tỷ đồng, giảm 38%. Đối với PVD, lợi nhuận được dự báo đạt 200 tỷ đồng, giảm 28%, do chi phí tăng từ khoản đầu tư giàn PVD IX trong quý III. IDC, STB chịu áp lực giảm lợi nhuận Ở chiều ngược lại, IDC là một trong những doanh nghiệp được dự báo giảm lợi nhuận mạnh nhất. SSI Research ước tính lợi nhuận sau thuế quý III đạt 457 tỷ đồng, giảm 53% so với cùng kỳ và 29% so với quý II. Nguyên nhân chủ yếu là diện tích đất khu công nghiệp bàn giao trong quý III dự kiến chỉ khoảng 10 ha, giảm 71% so với cùng kỳ. Trong đó, KCN Hựu Thạnh và KCN Phú Mỹ II mở rộng đóng góp chính. Giá cho thuê đất được dự báo khoảng 140 USD/m²/chu kỳ thuê, tăng 3%. Tại ngân hàng, STB được dự báo đạt 2.000 tỷ đồng lợi nhuận, giảm 45% so với cùng kỳ. SSI Research cho rằng chi phí dự phòng vẫn ở mức cao, dù tăng trưởng tín dụng được kỳ vọng cải thiện từ quý III. Đáng chú ý, HPG lại được dự báo tăng 37%, lên 5.500 tỷ đồng, nhưng giảm 14% so với quý trước. SSI Research cho rằng chi phí đầu vào tăng nhanh hơn giá thép trong quý III, trong khi mặt bằng lãi suất cao hơn làm gia tăng chi phí lãi vay.

Dòng vốn cho tăng trưởng chuyển sang nhiều kênh

Nhu cầu đầu tư gia tăng cùng mục tiêu tăng trưởng cao đang thúc đẩy việc mở rộng các nguồn vốn trung, dài hạn. Đi cùng quy mô vốn là yêu cầu nâng hiệu quả phân bổ, chất lượng dự án và phát triển cân bằng các kênh huy động. Vốn lớn hơn, hiệu quả cao hơn Bức tranh tăng trưởng năm 2026 cho thấy vai trò ngày càng nổi bật của đầu tư. Báo cáo Triển vọng Phát triển châu Á của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) cho biết, GDP Việt Nam tăng 8,2% trong nửa đầu năm, trong khi tổng vốn hình thành tài sản tăng 15,2%, phản ánh hoạt động đầu tư mạnh từ khu vực công, FDI và tư nhân. Vì thế, nhiều tổ chức quốc tế đã nâng dự báo tăng trưởng của Việt Nam, bởi những hỗ trợ từ sản xuất, nhu cầu trong nước, đầu tư công và FDI. Tuy nhiên, báo cáo của ADB cũng lưu ý, đầu tư và tín dụng tăng nhanh có thể làm gia tăng những điểm dễ tổn thương về tài chính và thu hẹp không gian chính sách. Theo ông Bùi Minh Giáp, Chuyên gia kinh tế trưởng ADB tại Việt Nam, tăng trưởng của Việt Nam có sự đóng góp của nhiều động lực, từ công nghiệp, xây dựng, dịch vụ đến tiêu dùng, đầu tư công, FDI và thương mại. Trong đó, hoạt động đầu tư đang diễn ra mạnh. Tuy nhiên, trọng tâm không chỉ nằm ở lượng vốn đưa vào nền kinh tế. Việt Nam phải nâng hiệu quả sử dụng vốn và lao động để cải thiện năng suất tổng hợp, đồng thời phát triển hạ tầng kết nối và chất lượng nguồn nhân lực. Với đầu tư công, ông Bùi Minh Giáp cho rằng, bên cạnh tiến độ giải ngân, vốn phải tập trung vào những dự án có chất lượng, khả năng lan tỏa và dẫn dắt đầu tư tư nhân, chẳng hạn các dự án giảm chi phí logistics, tăng an ninh năng lượng hoặc cải thiện kết nối vùng. Nếu lựa chọn được dự án hiệu quả, tác động trung và dài hạn sẽ khác với việc đẩy vốn chủ yếu nhằm đạt mục tiêu tăng trưởng trước mắt. Quy mô nguồn lực trong những năm tới cũng rất lớn. Theo phân tích của Ngân hàng UOB, Việt Nam cần khoảng 38,5 triệu tỷ đồng, tương đương khoảng 1,5 nghìn tỷ USD vốn đầu tư trong giai đoạn 2026-2030 để hướng tới mục tiêu tăng trưởng cao. Nguồn lực này phục vụ hạ tầng, kinh tế xanh, công nghệ, mở rộng năng lực sản xuất, giáo dục và y tế. Tại buổi làm việc với Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC) ngày 28/9/2026, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Đức Ấn cũng nhấn mạnh, trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng 2 con số, nhu cầu vốn cho phát triển kinh tế rất lớn. Việc huy động và phân bổ hiệu quả các nguồn lực tài chính không chỉ đáp ứng yêu cầu trước mắt mà còn phục vụ các mục tiêu phát triển dài hạn, bền vững. Mở rộng các kênh vốn Theo Ngân hàng Nhà nước, tổng dư nợ của IFC tại Việt Nam hiện đạt 2,6 tỷ USD, trong khi tổng vốn cam kết trong tài khóa 2026 đạt 3 tỷ USD, bao gồm vốn ngắn hạn và dài hạn. Ông Arnaud Dupoizat, Giám đốc IFC khu vực Đông Á và Thái Bình Dương cho biết, IFC mong muốn tiếp tục mở rộng đầu tư, huy động vốn quốc tế và hỗ trợ khu vực tư nhân Việt Nam, trong đó chú trọng doanh nghiệp nhỏ và vừa, nông nghiệp và các dự án phát triển dài hạn. Đáng chú ý, IFC sẽ tập trung phát triển các công cụ tài chính trên thị trường vốn để bổ trợ cho nguồn vốn ngân hàng, nhất là đối với dự án dài hạn và hạ tầng; đồng thời huy động thêm nguồn lực quốc tế thông qua cơ chế đồng tài trợ và tăng kết nối nhà đầu tư quốc tế với Việt Nam. Chia sẻ thêm về hướng đa dạng hóa nguồn vốn, bà Jing Zhao, chuyên gia cao cấp về tài chính của Ngân hàng Thế giới cho rằng, việc lựa chọn nguồn tài trợ nên gắn với đặc điểm dự án. Với những dự án có ý nghĩa xã hội lớn nhưng khả năng thu hồi vốn thấp, nguồn lực công giữ vai trò chủ đạo. Trong khi đó, với các dự án có khả năng tạo doanh thu nhưng chưa đủ hấp dẫn nhà đầu tư, vốn công hoặc vốn ưu đãi có thể tham gia để chia sẻ rủi ro, qua đó thu hút thêm nguồn vốn tư nhân. Bà Jing Zhao cũng đề cập, các quỹ hưu trí, doanh nghiệp bảo hiểm và hình thức đầu tư tập thể như những nguồn vốn có đặc điểm kỳ hạn phù hợp với các khoản đầu tư dài hạn. Việc mở rộng sự tham gia của các tổ chức này phải đi cùng nâng cao năng lực đầu tư và phát triển nguồn dự án phù hợp. Cấu trúc các kênh huy động càng đáng chú ý khi ADB, cho biết dư nợ tín dụng tại Việt Nam đến cuối năm 2025 tương đương 145% GDP, trong khi thị trường trái phiếu doanh nghiệp khoảng 10% GDP. Theo ADB, chênh lệch kỳ hạn và bộ đệm vốn đặt ra yêu cầu thận trọng đối với việc tài trợ những dự án hạ tầng quy mô lớn, có thời gian thu hồi vốn dài. Ông Bùi Minh Giáp lưu ý, định hướng này không nhằm giảm vai trò của ngân hàng mà hướng tới một cấu trúc tài chính cân bằng hơn, trong đó các kênh vốn bổ trợ lẫn nhau. Để thị trường vốn đảm nhiệm tốt hơn vai trò cung ứng vốn trung và dài hạn, ngoài tăng phát hành cổ phiếu và trái phiếu, thị trường phải củng cố niềm tin thông qua công bố thông tin minh bạch, xếp hạng tín nhiệm độc lập, quản trị doanh nghiệp tốt hơn và cơ chế bảo vệ nhà đầu tư rõ ràng. Việc thị trường chứng khoán Việt Nam được FTSE Russell nâng hạng tạo thêm một điều kiện cho quá trình này. Tuy nhiên, theo Chuyên gia kinh tế trưởng của ADB, nâng hạng trước hết là chỉ báo ghi nhận những cải thiện đã đạt được; khả năng thu hút nguồn lực trong thời gian tới còn phụ thuộc vào môi trường chính sách, khả năng tiếp cận thông tin và mức độ minh bạch của thị trường. Như vậy, cùng với việc gia tăng quy mô nguồn lực, trọng tâm đang chuyển sang hiệu quả phân bổ và sự phù hợp về kỳ hạn. Vốn công, vốn tư nhân, tín dụng, thị trường vốn và nguồn lực quốc tế có thể bổ trợ cho nhau theo đặc điểm từng dự án, qua đó vừa đáp ứng nhu cầu đầu tư lớn, vừa nâng hiệu quả sử dụng vốn và chất lượng tăng trưởng.

Kinh tế tăng trưởng 9,01%, vì sao VN-Index vẫn chưa bứt phá?

Kinh tế Việt Nam tăng tốc mạnh trong 9 tháng đầu năm 2026, với GDP tăng 9,01%, riêng quý III tăng 9,95% - mức cao nhất trong 4 năm. Tuy nhiên, VN-Index vẫn giảm 0,89%, VN30 giảm 6,10%, trong khi khối ngoại bán ròng khoảng 97.200 tỷ đồng trên HOSE. Sự lệch pha cho thấy tăng trưởng kinh tế chưa lập tức chuyển thành dòng tiền và mức định giá cao hơn trên thị trường chứng khoán. Theo báo cáo “Cập nhật tình hình vĩ mô 9 tháng đầu năm 2026” của TCBS Research, GDP tăng tốc qua từng quý, từ 8,15% trong quý I lên 8,81% quý II và 9,95% quý III, đưa mức tăng 9 tháng lên 9,01%. Đáng chú ý, đà tăng này được củng cố bởi nhiều chỉ báo độc lập: khối lượng hàng hóa vận chuyển tăng 15,8%, thu ngân sách tăng 12,1%, xuất khẩu theo tờ khai hải quan tăng 24,5% và PMI duy trì trên ngưỡng 50 trong 15 tháng liên tiếp. Tuy nhiên, thị trường chứng khoán lại chưa phản ánh tương xứng. Sau 9 tháng, VN-Index giảm 0,89% so với cuối năm 2025, VN30 giảm 6,10%, thanh khoản bình quân giảm 26,9%, còn khối ngoại bán ròng khoảng 97.200 tỷ đồng trên HOSE. Nền kinh tế đang tăng tốc, nhưng dòng tiền trên thị trường cổ phiếu chưa chạy cùng nhịp. Tăng trưởng đang dựa nhiều hơn vào đầu tư Điểm đáng chú ý trong bức tranh kinh tế 9 tháng là động lực tăng trưởng đang nghiêng về phía đầu tư và mở rộng năng lực sản xuất. Khu vực công nghiệp - xây dựng tăng 11,21%, đóng góp 49,62% vào mức tăng chung. Riêng công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11,36%, đóng góp 33,85%, trong khi xây dựng tăng 12,22%. Khu vực dịch vụ tăng 8,69%; nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,02%. Ở phía sử dụng, tích lũy tài sản tăng 17,88%, riêng quý III tăng 21,39%, cao hơn đáng kể mức tăng 8,51% của tiêu dùng cuối cùng. Vốn đầu tư toàn xã hội 9 tháng đạt 3.109,6 nghìn tỷ đồng, tăng 15,1%. Điều này cho thấy tăng trưởng hiện không đơn thuần đến từ việc người dân chi tiêu nhiều hơn, mà đang được hỗ trợ mạnh bởi quá trình tích lũy tài sản, xây dựng và mở rộng sản xuất. Số liệu về công nghiệp cũng củng cố nhận định này. IIP 9 tháng tăng 12,3%, riêng quý III tăng 14,8%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 12,9%. Chỉ số tiêu thụ ngành chế biến, chế tạo tăng 12,8%, cao hơn mức 9,1% cùng kỳ năm 2025. Sản lượng công nghiệp tăng ở cả 34/34 địa phương. TCBS đánh giá đây là dấu hiệu cho thấy chất lượng tăng trưởng được cải thiện, khi lao động có việc làm chỉ tăng khoảng 1,3%, trong khi năng suất lao động ước tăng khoảng 7,6%. Đáng chú ý, tín dụng đến cuối tháng 9 tăng 11,59%, thấp hơn mức 13,37% cùng kỳ, trong khi GDP lại tăng nhanh hơn. Dòng vốn đang đi vào năng lực sản xuất Một chi tiết đáng chú ý khác nằm ở cơ cấu nhập khẩu. 9 tháng, nhập khẩu đạt 453,72 tỷ USD, tăng 36,7%. Trong đó, máy móc, thiết bị chiếm 58,3%, nguyên, nhiên vật liệu chiếm 35,8%, còn hàng tiêu dùng chỉ chiếm 5,9%. Như vậy, 94,1% hàng nhập khẩu là tư liệu sản xuất. Theo TCBS, mức nhập siêu 19,42 tỷ USD trong bối cảnh này phần lớn phản ánh một nền kinh tế đang mở rộng công suất hơn là tiêu dùng vượt khả năng. Dòng vốn ngoại cũng cho thấy xu hướng tương tự. Vốn FDI đăng ký đạt 50,36 tỷ USD, tăng 76,4%, trong khi FDI thực hiện đạt 21,07 tỷ USD, tăng 12,1% và là mức cao nhất trong 5 năm. TCBS cho rằng dòng vốn đăng ký hiện tại có thể trở thành “đường ống” năng lực sản xuất cho giai đoạn 2027-2030 khi các dự án đi vào vận hành. Chuỗi vận động của dòng vốn cũng khá rõ: đầu tư toàn xã hội tăng 15,1%, xây dựng tăng 12,22%, vận tải và kho bãi tăng 11,03%, FDI thực hiện tăng 12,1%, chế biến chế tạo tăng 11,36%, xuất khẩu tăng 24,5% và thu nhập người lao động tăng 9%. Đây là nền tảng quan trọng để kỳ vọng lợi nhuận doanh nghiệp cải thiện. Nhưng lợi nhuận tăng chưa đủ để thị trường chứng khoán tăng giá. Ba “trạm” khiến tăng trưởng chưa chuyển thành định giá Theo TCBS, một chỉ tiêu vĩ mô chỉ đến được giá cổ phiếu khi đi qua ba trạm: lãi suất, lợi nhuận doanh nghiệp và dòng tiền. Trong ba yếu tố này, lợi nhuận đang thuận lợi nhất. GDP quý III tăng 9,95%, IIP tăng 14,8%, tiêu thụ ngành chế biến, chế tạo tăng 12,8% - những dữ liệu hỗ trợ triển vọng lợi nhuận của các nhóm sản xuất, hạ tầng và logistics. Ngược lại, trạm lãi suất đang trở nên khó khăn hơn. CPI bình quân 9 tháng tăng 4,52%, vượt nhẹ mục tiêu khoảng 4,5%; riêng tháng 9 tăng 5,08%, trong khi lạm phát cơ bản tăng 4,26%. Khi lạm phát vượt mục tiêu, dư địa nới lỏng tiền tệ trở nên hạn chế. Nói cách khác, tăng trưởng cao không đồng nghĩa với việc thị trường có thêm một môi trường tiền rẻ để đẩy định giá cổ phiếu lên. Ở trạm thứ ba, dòng tiền cũng chưa đảo chiều. Khối ngoại đã bán ròng khoảng 97.200 tỷ đồng trên HOSE trong 9 tháng; riêng tháng 9 còn bán ròng khoảng 4.500 tỷ đồng. Thanh khoản bình quân giảm 26,9% so với cùng kỳ. Vì vậy, dù nền kinh tế tạo ra thêm sản lượng và triển vọng lợi nhuận được cải thiện, thị trường vẫn thiếu một yếu tố quan trọng để tái định giá: dòng tiền. Một lý do khác khiến thị trường chưa thể hoàn toàn lạc quan là những tín hiệu sớm từ khu vực sản xuất. Chỉ số quản lý mua sắm (PMI) tháng 9 đạt 51,9 điểm, tiếp tục trên ngưỡng 50 và đánh dấu tháng thứ 15 liên tiếp mở rộng. Tuy nhiên, đơn hàng mới tăng chậm nhất 5 tháng, chủ yếu nhờ cầu trong nước. Đáng chú ý, đơn hàng xuất khẩu mới giảm tháng thứ hai liên tiếp, với mức giảm mạnh nhất kể từ tháng 4. Trong khi đó, tồn kho ngành chế biến tại ngày 30/9 tăng 11,9% so với cùng kỳ. Như vậy, sản lượng hiện tại vẫn rất mạnh, nhưng thị trường đang phải nhìn xa hơn con số GDP của 9 tháng để đánh giá đơn hàng và lợi nhuận của các quý tới. Sức khỏe doanh nghiệp cũng chưa hoàn toàn đồng đều. Tháng 9, số doanh nghiệp thành lập mới giảm 31,1%, trong khi số doanh nghiệp hoàn tất giải thể tăng 89,3%. TCBS cho rằng điều này cho thấy độ lan tỏa của tăng trưởng chưa đồng đều, đặc biệt giữa doanh nghiệp quy mô lớn và khu vực doanh nghiệp nhỏ. Khoảng cách giữa GDP và chứng khoán vì thế không hẳn phản ánh việc thị trường “bỏ qua” tăng trưởng. Ngược lại, thị trường đang đặt ra những yêu cầu cao hơn đối với chất lượng và tính bền vững của tăng trưởng. Trong quý IV, nhà đầu tư sẽ phải theo dõi sát diễn biến CPI, tín dụng, đơn hàng xuất khẩu và tồn kho. TCBS ước tính hệ thống tín dụng cần tăng thêm khoảng 3,4 điểm % trong ba tháng cuối năm để tiến gần định hướng khoảng 15% cả năm. Nếu tăng trưởng tiếp tục chuyển hóa thành lợi nhuận doanh nghiệp, lạm phát được kiểm soát và dòng tiền quay trở lại, khoảng cách giữa nền kinh tế và thị trường vốn có thể thu hẹp. Ngược lại, nếu lạm phát tiếp tục tăng, đơn hàng xuất khẩu suy yếu và dòng tiền chưa cải thiện, tốc độ tăng GDP cao cũng chưa đủ để tạo ra một mặt bằng định giá mới.