Thứ sáu, 23/10/2026

Điện thoại (024) 6287 3463

Đường dây nóng (024) 6287 3463

Liên hệ quảng cáo (+84)915.632.345

Thứ sáu, 23/10/2026
Share on Facebook
Copy to Clipboard

Khuôn khổ pháp lý mới cho doanh nghiệp FDI: từ tự do hóa thương mại đến siết chặt quản trị và hậu kiểm

Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 342/2026/NĐ-CP quy định chi tiết Luật Thương mại và Luật Quản lý ngoại thương về hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa của nhà đầu tư nước ngoài, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) tại Việt Nam. Chính thức có hiệu lực từ ngày 18/10/2026 và thay thế Nghị định 09/2018/NĐ-CP, Nghị định 342 mang đến những cải cách quan trọng trong việc làm rõ quyền thương mại, thu hẹp phạm vi kiểm tra nhu cầu kinh tế (ENT), đồng thời nâng cao yêu cầu hậu kiểm gắn liền với yếu tố an ninh quốc gia và kỷ luật tuân thủ báo cáo.

thumbnail

Làm rõ ranh giới quyền xuất nhập khẩu và phân phối hàng hóa

Nghị định 342/2026/NĐ-CP phân định rõ phạm vi quyền mua bán hàng hóa của tổ chức kinh tế FDI. Theo đó, doanh nghiệp FDI đã có quyền xuất khẩu được quyền xuất khẩu ra nước ngoài và khu vực hải quan riêng đối với các loại hàng hóa: hàng hóa mua tại Việt Nam, hàng hóa do doanh nghiệp đặt gia công tại Việt Nam và hàng hóa nhập khẩu hợp pháp. Ở chiều ngược lại, doanh nghiệp có quyền nhập khẩu và phân phối bán buôn, bán lẻ đối với các sản phẩm sản xuất trong nước hoặc nhập khẩu đúng quy định. Quy định này giúp phân định rạch ròi giữa quyền tiếp cận thị trường và điều kiện thực hiện quyền kinh doanh, tránh việc đồng nhất việc gia nhập thị trường với quyền kinh doanh không giới hạn.

Quy định 9 nhóm hoạt động thương mại bắt buộc phải có Giấy phép kinh doanh

Theo quy định tại Điều 4 Nghị định 342/2026/NĐ-CP, các tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phải làm thủ tục xin cấp Giấy phép kinh doanh khi thực hiện các hoạt động sau:

- Thực hiện quyền phân phối bán lẻ hàng hóa (trừ một số mặt hàng quy định riêng).

- Thực hiện quyền nhập khẩu, phân phối bán buôn các mặt hàng chưa cam kết mở cửa như dầu bôi trơn, mỡ bôi trơn có nguồn gốc từ dầu mỏ.

- Thực hiện quyền phân phối bán lẻ các mặt hàng đặc thù chưa cam kết mở cửa bao gồm gạo, đường, vật phẩm đã ghi hình, sách, báo và tạp chí (phải gắn liền với Giấy phép lập cơ sở bán lẻ dưới hình thức cửa hàng tiện lợi, siêu thị mini hoặc siêu thị).

- Cung cấp dịch vụ logistics (trừ các phân ngành Việt Nam đã có cam kết mở cửa trong các Điều ước quốc tế).

- Cho thuê hàng hóa (không bao gồm cho thuê tài chính và cho thuê trang thiết bị xây dựng có người vận hành).

- Cung cấp dịch vụ xúc tiến thương mại (không bao gồm dịch vụ quảng cáo).

- Cung cấp dịch vụ trung gian thương mại.

- Quản lý và vận hành nền tảng thương mại điện tử trung gian, mạng xã hội hoạt động thương mại điện tử, nền tảng thương mại điện tử tích hợp.

- Cung cấp dịch vụ tổ chức đấu thầu hàng hóa, dịch vụ.

Điểm mới nổi bật: Thu hẹp quy định ENT và siết điều kiện cấp phép

Một thay đổi lớn được cộng đồng doanh nghiệp bán lẻ FDI quan tâm là việc loại bỏ hoặc thu hẹp nghĩa vụ Kiểm tra nhu cầu kinh tế (ENT) khi lập cơ sở bán lẻ đối với các nhà đầu tư đến từ các quốc gia, vùng lãnh thổ có cam kết trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên (như CPTPP, EVFTA, UKVFTA, CEPA Việt Nam - UAE...).

Về điều kiện cấp phép, Nghị định yêu cầu nhà đầu tư ngoại phải duy trì điều kiện tiếp cận thị trường trong suốt quá trình hoạt động. Đối với doanh nghiệp FDI đã thành lập tại Việt Nam từ 01 năm trở lên tính đến ngày nộp hồ sơ, yêu cầu bắt buộc là không còn nợ thuế quá hạn. Trường hợp nhà đầu tư không thuộc quốc gia tham gia điều ước quốc tế liên quan, cơ quan quản lý sẽ đánh giá thêm tiêu chí về sự phù hợp với pháp luật chuyên ngành và mức độ cạnh tranh của doanh nghiệp nội địa cùng lĩnh vực trong 01 năm gần nhất.

Tăng cường kiểm soát an ninh quốc gia và siết kỷ luật báo cáo hậu kiểm

Nghị định 342/2026/NĐ-CP tiếp tục phân cấp cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (thông qua Sở Công Thương) thực hiện cấp, điều chỉnh, cấp lại, gia hạn và thu hồi các loại giấy phép. Tuy nhiên, cơ chế kiểm soát được thắt chặt khi cơ quan cấp phép bắt buộc phải lấy ý kiến của Bộ Công an và Bộ Quốc phòng về yếu tố an ninh quốc gia đối với các trường hợp nhà đầu tư nước ngoài chi phối doanh nghiệp là chủ quản nền tảng thương mại điện tử trung gian, mạng xã hội thương mại điện tử hoặc nền tảng tích hợp được xác định là nền tảng số lớn.

Đặc biệt, Nghị định đặt kỷ luật tuân thủ lên vị trí trung tâm với hai kỳ báo cáo định kỳ bắt buộc:

● Báo cáo năm: Nộp trước ngày 15/01.

● Báo cáo 06 tháng đầu năm: Nộp trước ngày 15/07.

Giấy phép kinh doanh sẽ không còn là “tài sản vĩnh viễn”. Doanh nghiệp có thể bị thu hồi Giấy phép nếu rơi vào các trường hợp: ngừng hoạt động quá 12 tháng không báo cáo; không thực hiện báo cáo định kỳ trong 24 tháng liên tiếp; không cung cấp báo cáo/giải trình sau 03 tháng kể từ khi hết hạn yêu cầu; hoặc bị xử phạt vi phạm hành chính 03 lần liên tiếp trong 12 tháng đối với vi phạm nội dung hoạt động đã được cấp phép.

Quy định chuyển tiếp và lộ trình tuân thủ

Nghị định 342/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 18/10/2026, thay thế Nghị định 09/2018/NĐ-CP và bãi bỏ Điều 36 Nghị định 146/2025/NĐ-CP. Các hồ sơ thủ tục hành chính đã tiếp nhận trước ngày 18/10/2026 sẽ tiếp tục áp dụng quy định cũ; tuy nhiên, nếu hồ sơ chưa đầy đủ, doanh nghiệp chỉ có tối đa 06 tháng để bổ sung, hoàn thiện kể từ ngày có yêu cầu, quá thời hạn này sẽ bắt buộc phải chuyển sang thực hiện theo quy định mới của Nghị định 342.

Nhìn tổng thể, Nghị định 342/2026/NĐ-CP định hình cách tiếp cận quản lý hai chiều: vừa tạo thuận lợi cho các hoạt động thương mại hợp pháp theo cam kết quốc tế, vừa tăng cường công cụ sàng lọc, giám sát thị trường và bảo vệ an ninh kinh tế quốc gia. Doanh nghiệp FDI cần chủ động rà soát quy trình quản trị dữ liệu, nghĩa vụ thuế và lịch tuân thủ báo cáo để bảo vệ quyền kinh doanh lâu dài.

Lượt xem: 3

NHÀ NƯỚC CẦN ĐỒNG HÀNH CÙNG DOANH NGHIỆP BẰNG HÀNH ĐỘNG

(khoahockiemtoan.vn) - Để thúc đẩy tăng trưởng thì phải kích thích được nhu cầu đầu tư sản xuất kinh doanh và tiêu dùng của nền kinh tế và toàn xã hội. Đó là bài toán tổng thể, trong đó chính sách tiền tệ có vai trò đặc biệt quan trọng. TS. Trần Du Lịch, UV Uỷ ban Kinh tế của Quốc hội đã có những trao đổi xung quanh vấn đề này.   * Những dấu hiệu phục hồi kinh tế của nước ta thì ngày càng rõ nét hơn đặc biệt từ đầu năm 2014 cho đến nay. Tuy nhiên có một thực tế là khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế còn yếu. Trong bối cảnh như vậy thì việc tháo gỡ các nút thắt về chính sách tín dụng theo ông có những tác động như thế nào tới sự phục hồi và tăng trưởng kinh tế?             - Tôi đã có nhiều lần phát biểu kể cả trên diễn đàn Quốc hội, có thể nói rằng kinh tế Việt Nam bắt đầu có dấu hiệu phục hồi là từ Quí II/2013. Và tất cả những nỗ lực của Chính phủ thực hiện chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa, các biện pháp đồng bộ vừa tháo gỡ thị trường, vừa xử lý về mặt chính sách thì năm 2013 kinh tế bắt đầu đi vào phục hồi. Với tất những nỗ lực đó (nếu không xảy ra sự kiện biển Đông) thì kinh tế Việt Nam đến hết 2014 là thoát qua được giai đoạn trì trệ, để chúng ta có được giai đoạn phát triển tốt hơn từ 2015. Có thể nói rằng, những khó khăn đặt ra từ khi chúng ta thực hiện chính sách là tập trung kiềm chế lạm phát, giảm tổng cầu, ổn định vĩ mô đặc biệt chống lạm phát, nhất là từ khi triển khai Nghị quyết 11 của Chính phủ. Tất cả tác dụng phụ của các chính sách gọi là tập trung kiềm chế lạm phát làm cho tổng cầu giảm mạnh. Qua thực tiễn TP. HCM trước khi tôi ra Hà Nội họp Kỳ hợp thứ 7, Quốc hội khóa XIII thì khoảng hơn 30% doanh nghiệp hoạt động kinh doanh tốt có lãi đóng thuế. Nói chung, với nhóm này thì chính sách như hiện nay là tốt. Họ sẽ tự phục hồi, họ chỉ trông chờ vào việc làm sao giảm được tốt hơn lãi suất vay trung, dài hạn để họ tái cấu trúc, tập trung làm ăn và đầu tư mới. Họ chỉ trông chờ chính sách tiền tệ như vậy thôi.             Còn với nhóm thứ 2, chiếm khoảng 70% còn lại, thì việc hơn phân nửa số này, tôi nghĩ rằng số đó trong 2, 3 năm rồi, họ “chòi đạp” để tồn tại, bằng mọi cách, vướng đủ thứ tài chính thị trường. Vậy bằng biện pháp nào để tập trung chính sách để nhóm này không chết nữa mà nó vươn lên.             Ví dụ, TP. HCM đã chủ động cùng với NHNN thực hiện chương trình kết nối doanh nghiệp. Nhà nước, hiệp hội, ngân hàng, ngồi tính từng doanh nghiệp, khó khăn nhưng làm sao chúng ta không bị cứng nhắc về những kỷ luật tín dụng. Tôi ủng hộ NHNN, NHTM ở chỗ tăng tín dụng cho vay nhưng không làm tăng nợ xấu đó là một tôn chỉ. Nếu chúng ta suốt ruột làm tăng nợ xấu thì năm tới ta quay lại công việc cũ là không được. Hiện nay vấn đề lãi suất tôi cho rằng kéo giảm được là tốt rồi. Nếu tính trên lạm phát kỳ vọng, thì lãi suất hiện nay là tương đối tốt, nhưng vấn đề là doanh nghiệp làm sao hấp thụ được. Như vậy ở đây là vấn đề thị trường, chứ không chỉ riêng vấn đề ngân hàng tín dụng nữa. Vì vậy tôi ủng hộ các chính sách của Chính phủ, tất cả chính sách tổng hợp lại và tín dụng là một cửa, một phương thức, chứ còn bài toán tín dụng không giải quyết hoàn toàn được cái vấn đề của doanh nghiệp hiện nay. Đó là bối cảnh chung, nhưng tôi tin rằng trong bối cảnh khó khăn hiện nay, nếu nỗ lực tập trung như vậy, kể cả vấn đề sự kiện biển Đông, trong năm 2014 kinh tế sẽ đi vào quỹ đạo phục hồi và chúng ta tin như vậy và có niềm tin như vậy DN mới phục hồi được.             * Cách đây không lâu mặt bằng lãi suất khá là cao so với hiện nay. Nhưng thời gian đó tăng trưởng tín dụng rất nóng. Còn bây giờ thì ngược lại lãi suất khi hạ xuống rồi thì vốn rất là khó để có thể cho vay được. Vốn dư thừa mà cho vay thì không dễ và cứ áp dụng các điều kiện cho vay với Doanh nghiệp thì có lẽ việc giải ngân các gói tín dụng còn khó hơn nữa. Vậy thì theo ông chúng ta phải tháo gỡ bài toán này bằng những phương cách nào?             - Trước hết tôi nói lại một chút, có thời kỳ lãi suất 19, 20% nóng lên thì đấy là một giai đoạn mà nó góp phần làm tăng nợ xấu, nhiều tiêu cực. Có nhiều Doanh nghiệp thời điểm đó, tôi gọi là vay tiền như kiểu giải khát bằng thuốc độc. Chúng ta nhớ rằng là vậy, thời điểm đó nhất là thời kinh doanh bất động sản, thanh khoản, có nhiều người vay đến mức độ cứ nghĩ rằng dù sao có đắt, có cao nhưng vẫn còn hơn đi vay chợ đen. Điều đó để lại hệ quả ghê gớm. Quan điểm của tôi là làm gì thì làm, nhưng chúng ta phải không hạ chuẩn, không hạ chuẩn không có nghĩa là cứ máy móc. Tôi xin lỗi là NHTM nhiều lúc cũng máy móc khi anh xem dự án, một dự án có chút phiêu lưu nào đó, có thể, nó không an toàn lắm cho NHTM, nhưng nếu anh tích cực, anh giám sát dòng tiền cho vay, anh tư vấn thì người ta cũng có thể phát triển được để trả nợ trong tương lại. Còn giờ, khi nhìn vào dự án, anh thấy rủi ro, thấy không an tâm là thôi từ chối. Chính vì vậy, giải pháp kết nối doanh nghiệp theo mô hình như TP. HCM đang triển khai là để làm như vậy. Đi tìm trong những cái không tốt để lựa ra những cái tốt để chúng ta làm. Nhưng mà nhớ rằng, kinh tế nó có tác động lan tỏa, có khi một nhóm này được thì lan tỏa đến nhóm khác, tức là ông này chi tiêu, thì ông kia thành thu nhập, và nó đi vòng trở lại. Chúng ta chưa đánh giá cái lan tỏa, thành ra tôi mới đề xuất giải pháp mà tôi tạm tổng kết việc NHNN đang làm với TP. HCM gọi là “đánh du kích”.             Vì nguyên tắc lý thuyết gọi là NHNN quản trị thì không có NHNN nào trên thế giới mà đi ngồi với từng doanh nghiệp để cho vay. Nhưng đối với nước ta, NHNN phải đi ngồi với từng doanh nghiệp,  chúng ta đi tìm trong một số doanh nghiệp khó khăn như vậy, có rủi ro như vậy, nhưng phân tích kỹ, nếu hỗ trợ họ thì họ có thể bơm được tiền. Nền kinh tế của chúng ta hiện nay. Tại sao chúng ta không hấp thụ vốn được? Bây giờ 1/3 số doanh nghiệp mà tốt rồi, hấp thụ tốt nhưng họ nhìn thị trường, tổng cầu như vậy thì họ không tăng đầu tư và không vay. NHTM năn nỉ, họ không vay, săn đón cỡ nào họ cũng không vay.             Bây giờ vấn đề chính sách làm sao chúng ta tạo niềm tin lớn, vấn đề thể chế, cải cách để tạo niệm tin để 30% số này tăng việc đầu tư, không lo lắng gì cả, thì đầu tiên đây là “khách hàng sộp” cho NHTM. Ông có được “khách hàng sộp”  rồi, thì phần còn lại ông lo cho nhóm còn lại, nhóm đang khó khăn, tháo gỡ du kích. Tôi đã từng nói, hiện nay nền kinh tế chúng ta như một cơ thể hấp thụ thứ ăn rất kém, nếu anh dồn dập cho ăn cao lương mỹ vị coi chừng nó bội thực. Cái hấp thụ kém ở đây không chỉ là doanh nghiệp đâu. Toàn bộ vốn đầu tư XDCB của Nhà nước hiện nay giải ngân cũng chậm, đầy nhiêu khê và chúng ta nhớ rằng cuối năm 2013, trong lúc doanh nghiệp khó khăn trong hấp thụ vốn, chúng ta muốn qua kênh đầu tư công. Quốc hội quyết định tăng bội chi, tăng đầu tư, để giải ngân sớm, tạo sự lan tỏa kích cầu trên thị trường. Nhưng tôi nói thật, tới nay vẫn giải ngân chậm, vẫn có những tác động chưa được như mong muốn.              * Tìm cơ chế thúc đẩy nhanh hơn nguồn vốn tín dụng từ ngân hàng tới các doanh nghiệp, tới người dân là nội dung được nhiều doanh nghiệp cũng như dư luận XH quan tâm, và đặc biệt tại kỳ họp thứ 7 vừa diễn ra, Quốc hội cũng dành thời gian để thảo luận về vấn đề này. Quốc hội nói nhiều khoản tín dụng 10 ngàn tỷ đồng. Ngoài việc cho ngư dân vay với ưu đãi thấp và điều kiện vay ưu đãi, xem xét chính sách đóng tàu vỏ thép cho ngư dân thuê dài hạn. Quan điểm của ông với tư cách là đại biểu Quốc hội về việc đưa ra gói chính sách tín dụng với ngư dân nói riêng và các dư án kinh tế biển trong bối cảnh hiện nay?             - Chính sách cho ngư dân đóng tàu, nhất là đánh bắt xa bờ tôi cho rằng là đề xuất không phải vì riêng chuyện hiện nay xảy ra sự kiện biển Đông.  Đầu tiên tôi hoàn nghênh biện pháp kịp thời của Chính phủ, NHNN về gói 10 ngàn tỷ. Đây là việc kịp thời vì theo chúng tôi biết và qua khảo sát đa số ngư dân đóng tàu đánh bắt xa bờ loại 150, 200, 300 sức ngựa, thì việc tiếp cận tín dụng rất ít bởi vì lâu nay NHTM yêu cầu phải thế chấp tài sản. Cũng có một lý do khác là cách đây 20 năm, chúng ta đã áp dụng một chương trình tín dụng cho đánh bắt xa bờ và không thành công. Rồi đụng đâu là cũng sợ cả. Thành ra, trong thời gian vừa qua nhiều ngư dân phải bán tài sản, phải thế chấp, đóng tầu và có rủi ro. Thì bây giờ gói này là cần thiết. Tuy nhiên tôi đề nghị còn mấy việc nữa phải làm bài bản hơn.             Thứ nhất, hiện nay chúng ta khai thác đánh bắt xa bờ thì vấn đề những con tầu quá nhỏ, chúng ta cứ nhìn ra biển Đông, giữa tàu Trung Quốc và tàu của Việt Nam có sự chênh lệch. Và với công nghệ kỹ thuật, nhất là tàu gỗ hiện nay mà đánh bắt cá nhất là cá ngừ đại dương thì không thể đảm bảo chất lượng để xuất khẩu được. Chúng ta cần những con tàu gì, con tàu sức ngựa lớn, 500-600 sức ngựa, làm cấp đông, mua từ những nhà tàu nhỏ đánh cá, đánh bắt và cấp đông ngay trên biển, chứ không phải là ông đem vô trong bờ. Việc này phải khuyến khích, có chính sách để người ta đóng những con tàu như vậy. Một tàu lớn như vậy nó có thể phụ trách cả một nhóm tàu nhỏ. Đó là cái thứ  nhất.             Cái thứ hai. Tôi đề nghị Chính phủ làm được tốt rồi, bây giờ xây dựng một định chế luôn. Tôi gọi là quỹ đầu tư hay là một công ty, một tổ chức chuyên môn đóng và cho thuê mua hoặc trả góp cho ngư dân các loại tầu để người dân mua bảo hiểm luôn. Như vậy là an tâm rằng tôi thuê mua và tôi tin rằng với ngư dân của mình nếu có định chế thuê mua thì 5 năm, 7 năm họ có thể mua con tầu bằng cách họ góp lại.             * Về tổng thể trong tình hình hiện nay thì theo ông làm thế nào có thể tháo gỡ và khơi thông được những vưỡng mắc trong việc thực thi chính sách thúc đẩy tăng trưởng tín dụng nói riêng cũng như là thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nói chung?             - Thật sự thì tất cả cái gì cần tháo gỡ thì Nghị quyết 01 của Chính phủ đề ra từ đầu năm cũng đã đề cập hết tất cả. Tuy nhiên, trong đó cũng có cái vướng vì do bản chất của vấn đề. Tôi nói ví dụ, như vấn đề nghẽn của tín dụng do nền kinh tế hấp thụ không được. Cái đó chúng ta không gỡ bằng hành chính được mà chúng ta phải có những biện pháp cụ thể. Còn có những cái gỡ hành chính, tôi ví dụ như tháo khoán ĐTC, giải ngân, những quy trình thủ tục, ta phải gỡ bằng hành chính. Và bây giờ, ví dụ như các doanh nghiệp, tôi nói có một số địa phương nếu doanh nghiêp chỉ cần ngân hàng cho vay để đầu tư dự án, thì địa phương họ nói rằng doanh nghiệp chỉ cần bỏ tiền, còn mọi thủ tục chúng tôi làm cho các anh hết. Việc này đã được triển khai trên thực tế. Tôi cũng đã đưa một doanh nghiệp và có ngân hàng cho vay đi theo và địa phương đã làm như vậy. Có nghĩa là gì trong điều kiện hiện nay, tôi tin một điều rằng, từ ngân hàng cho tới cơ quan Nhà nước, chúng ta phải nói với doanh nghiệp rằng Nhà nước đồng hành cùng doanh nghiệp trong điều kiện khó khăn, bằng hành động chứ không phải bằng lời nói và ở TP. HCM đang làm điều đó bằng hành động. Tôi nghĩ đó là cái chúng ta cần đồng hành cùng họ. Mai Chi (ghi)

BỒI DƯỠNG NGHIỆP VỤ KẾ TOÁN, KIỂM TOÁN

(khoahockiemtoan.vn) - Trung tâm Khoa học và Bồi dưỡng cán bộ trực thuộc Kiểm toán Nhà nước được thành lập theo Quyết định số 142/TTg ngày 10 tháng 3 năm 1997 của Thủ tướng Chính phủ.   Bồi dưỡng nghiệp vụ Kế toán, Kiểm toán   Trung tâm có chức năng chính là thực hiện các hoạt động khoa học về kiểm toán và đào tạo bồi dưỡng đội ngũ kiểm toán viên của KTNN; Ngoài ra, Trung tâm cũng liên tục tổ chức các khoá đào tạo kế toán, kiểm toán, quản lý tài chính, giám sát tài chính… Với đội ngũ giảng viên là các Giáo sư, Tiến sỹ và các chuyên gia đầu ngành, Trung tâm KH&BDCB luôn mang đến chất lượng đào tạo tốt nhất cho học viên.   1. Chức năng:  (1) Chức năng tư vấn về kế toán, kiểm toán.  (2) Chức  năng đào tạo kế toán, kiểm toán và các chuyên đề liên quan đến tài chính. 2. Kinh nghiệm đào tạo thực tế: + Tổ chức các lớp đào tạo ngắn hạn về Kiểm soát nội bộ, Phân tích tài chính v.v. + Tổ chức các lớp bồi dưỡng chuyên đề như nghiệp vụ kiểm toán, kiểm toán nội bộ.. + Xây dựng và tổ chức các chương trình đào tạo kế toán và kiểm toán theo yêu cầu, phù hợp với đặc điểm khách hàng… 3. Liên hệ: Trung tâm khoa học và Bồi dưỡng cán bộ - Kiểm toán Nhà nước ĐT       : 5565786 – 1103 FAX    : 5565238

Khuôn khổ pháp lý mới cho doanh nghiệp FDI: từ tự do hóa thương mại đến siết chặt quản trị và hậu kiểm

Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 342/2026/NĐ-CP quy định chi tiết Luật Thương mại và Luật Quản lý ngoại thương về hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa của nhà đầu tư nước ngoài, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) tại Việt Nam. Chính thức có hiệu lực từ ngày 18/10/2026 và thay thế Nghị định 09/2018/NĐ-CP, Nghị định 342 mang đến những cải cách quan trọng trong việc làm rõ quyền thương mại, thu hẹp phạm vi kiểm tra nhu cầu kinh tế (ENT), đồng thời nâng cao yêu cầu hậu kiểm gắn liền với yếu tố an ninh quốc gia và kỷ luật tuân thủ báo cáo. Làm rõ ranh giới quyền xuất nhập khẩu và phân phối hàng hóa Nghị định 342/2026/NĐ-CP phân định rõ phạm vi quyền mua bán hàng hóa của tổ chức kinh tế FDI. Theo đó, doanh nghiệp FDI đã có quyền xuất khẩu được quyền xuất khẩu ra nước ngoài và khu vực hải quan riêng đối với các loại hàng hóa: hàng hóa mua tại Việt Nam, hàng hóa do doanh nghiệp đặt gia công tại Việt Nam và hàng hóa nhập khẩu hợp pháp. Ở chiều ngược lại, doanh nghiệp có quyền nhập khẩu và phân phối bán buôn, bán lẻ đối với các sản phẩm sản xuất trong nước hoặc nhập khẩu đúng quy định. Quy định này giúp phân định rạch ròi giữa quyền tiếp cận thị trường và điều kiện thực hiện quyền kinh doanh, tránh việc đồng nhất việc gia nhập thị trường với quyền kinh doanh không giới hạn. Quy định 9 nhóm hoạt động thương mại bắt buộc phải có Giấy phép kinh doanh Theo quy định tại Điều 4 Nghị định 342/2026/NĐ-CP, các tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phải làm thủ tục xin cấp Giấy phép kinh doanh khi thực hiện các hoạt động sau: - Thực hiện quyền phân phối bán lẻ hàng hóa (trừ một số mặt hàng quy định riêng). - Thực hiện quyền nhập khẩu, phân phối bán buôn các mặt hàng chưa cam kết mở cửa như dầu bôi trơn, mỡ bôi trơn có nguồn gốc từ dầu mỏ. - Thực hiện quyền phân phối bán lẻ các mặt hàng đặc thù chưa cam kết mở cửa bao gồm gạo, đường, vật phẩm đã ghi hình, sách, báo và tạp chí (phải gắn liền với Giấy phép lập cơ sở bán lẻ dưới hình thức cửa hàng tiện lợi, siêu thị mini hoặc siêu thị). - Cung cấp dịch vụ logistics (trừ các phân ngành Việt Nam đã có cam kết mở cửa trong các Điều ước quốc tế). - Cho thuê hàng hóa (không bao gồm cho thuê tài chính và cho thuê trang thiết bị xây dựng có người vận hành). - Cung cấp dịch vụ xúc tiến thương mại (không bao gồm dịch vụ quảng cáo). - Cung cấp dịch vụ trung gian thương mại. - Quản lý và vận hành nền tảng thương mại điện tử trung gian, mạng xã hội hoạt động thương mại điện tử, nền tảng thương mại điện tử tích hợp. - Cung cấp dịch vụ tổ chức đấu thầu hàng hóa, dịch vụ. Điểm mới nổi bật: Thu hẹp quy định ENT và siết điều kiện cấp phép Một thay đổi lớn được cộng đồng doanh nghiệp bán lẻ FDI quan tâm là việc loại bỏ hoặc thu hẹp nghĩa vụ Kiểm tra nhu cầu kinh tế (ENT) khi lập cơ sở bán lẻ đối với các nhà đầu tư đến từ các quốc gia, vùng lãnh thổ có cam kết trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên (như CPTPP, EVFTA, UKVFTA, CEPA Việt Nam - UAE...). Về điều kiện cấp phép, Nghị định yêu cầu nhà đầu tư ngoại phải duy trì điều kiện tiếp cận thị trường trong suốt quá trình hoạt động. Đối với doanh nghiệp FDI đã thành lập tại Việt Nam từ 01 năm trở lên tính đến ngày nộp hồ sơ, yêu cầu bắt buộc là không còn nợ thuế quá hạn. Trường hợp nhà đầu tư không thuộc quốc gia tham gia điều ước quốc tế liên quan, cơ quan quản lý sẽ đánh giá thêm tiêu chí về sự phù hợp với pháp luật chuyên ngành và mức độ cạnh tranh của doanh nghiệp nội địa cùng lĩnh vực trong 01 năm gần nhất. Tăng cường kiểm soát an ninh quốc gia và siết kỷ luật báo cáo hậu kiểm Nghị định 342/2026/NĐ-CP tiếp tục phân cấp cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (thông qua Sở Công Thương) thực hiện cấp, điều chỉnh, cấp lại, gia hạn và thu hồi các loại giấy phép. Tuy nhiên, cơ chế kiểm soát được thắt chặt khi cơ quan cấp phép bắt buộc phải lấy ý kiến của Bộ Công an và Bộ Quốc phòng về yếu tố an ninh quốc gia đối với các trường hợp nhà đầu tư nước ngoài chi phối doanh nghiệp là chủ quản nền tảng thương mại điện tử trung gian, mạng xã hội thương mại điện tử hoặc nền tảng tích hợp được xác định là nền tảng số lớn. Đặc biệt, Nghị định đặt kỷ luật tuân thủ lên vị trí trung tâm với hai kỳ báo cáo định kỳ bắt buộc: ● Báo cáo năm: Nộp trước ngày 15/01. ● Báo cáo 06 tháng đầu năm: Nộp trước ngày 15/07. Giấy phép kinh doanh sẽ không còn là “tài sản vĩnh viễn”. Doanh nghiệp có thể bị thu hồi Giấy phép nếu rơi vào các trường hợp: ngừng hoạt động quá 12 tháng không báo cáo; không thực hiện báo cáo định kỳ trong 24 tháng liên tiếp; không cung cấp báo cáo/giải trình sau 03 tháng kể từ khi hết hạn yêu cầu; hoặc bị xử phạt vi phạm hành chính 03 lần liên tiếp trong 12 tháng đối với vi phạm nội dung hoạt động đã được cấp phép. Quy định chuyển tiếp và lộ trình tuân thủ Nghị định 342/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 18/10/2026, thay thế Nghị định 09/2018/NĐ-CP và bãi bỏ Điều 36 Nghị định 146/2025/NĐ-CP. Các hồ sơ thủ tục hành chính đã tiếp nhận trước ngày 18/10/2026 sẽ tiếp tục áp dụng quy định cũ; tuy nhiên, nếu hồ sơ chưa đầy đủ, doanh nghiệp chỉ có tối đa 06 tháng để bổ sung, hoàn thiện kể từ ngày có yêu cầu, quá thời hạn này sẽ bắt buộc phải chuyển sang thực hiện theo quy định mới của Nghị định 342. Nhìn tổng thể, Nghị định 342/2026/NĐ-CP định hình cách tiếp cận quản lý hai chiều: vừa tạo thuận lợi cho các hoạt động thương mại hợp pháp theo cam kết quốc tế, vừa tăng cường công cụ sàng lọc, giám sát thị trường và bảo vệ an ninh kinh tế quốc gia. Doanh nghiệp FDI cần chủ động rà soát quy trình quản trị dữ liệu, nghĩa vụ thuế và lịch tuân thủ báo cáo để bảo vệ quyền kinh doanh lâu dài.