Bài viết trao đổi một số nội dung đáng chú ý trong Dự thảo Thông tư của Bộ Tài chính về quản lý, sử dụng và kế toán tài sản cố định tại doanh nghiệp (bản ngày 05/10/2026). Trên cơ sở phân tích văn bản và đối chiếu với quy định hiện hành, bài viết tập trung vào ranh giới giữa ghi nhận kế toán và khấu hao tính thuế, yêu cầu đánh giá suy giảm giá trị và quy định chuyển tiếp. Các kiến nghị hướng đến việc làm rõ tiêu chí áp dụng, tăng khả năng kiểm chứng các ước tính và bảo đảm tính nhất quán khi chuyển đổi chính sách.
Từ khóa: tài sản cố định; khấu hao; suy giảm giá trị; kế toán và thuế; dự thảo thông tư.
1. Đặt vấn đề
Thông tư số 45/2013/TT-BTC đã tạo lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc quản lý, sử dụng và trích khấu hao tài sản cố định tại doanh nghiệp. Tuy nhiên, sự thay đổi của môi trường kinh doanh, sự đa dạng của các loại tài sản và yêu cầu nâng cao chất lượng thông tin tài chính đặt ra nhu cầu tiếp tục hoàn thiện các quy định hiện hành. Trong bối cảnh đó, Dự thảo Thông tư ngày 05/10/2026 của Bộ Tài chính không chỉ đề xuất điều chỉnh chế độ quản lý và khấu hao tài sản cố định mà còn mở rộng nội dung hướng dẫn về kế toán tài sản, phân loại tài sản nắm giữ để bán và tài sản hình thành từ các dự án đầu tư theo phương thức đối tác công tư. Đáng chú ý, dự thảo thể hiện xu hướng tăng cường quyền chủ động và trách nhiệm xét đoán của doanh nghiệp trong việc nhận diện, phân loại, xác định thời gian sử dụng hữu ích và đánh giá khả năng thu hồi giá trị tài sản, đồng thời phân định rõ hơn các yêu cầu kế toán với quy định phục vụ mục đích tính thuế. Những thay đổi này đặt ra yêu cầu bảo đảm tính nhất quán giữa các quy định, tính hợp lý của các ước tính kế toán và khả năng kiểm chứng thông tin trên báo cáo tài chính.
Trên cơ sở phân tích nội dung dự thảo và đối chiếu với các nguyên tắc kế toán có liên quan, bài viết tập trung làm rõ ba vấn đề: sự phân định giữa tiêu chuẩn ghi nhận tài sản cố định cho mục đích kế toán và mục đích tính thuế; cơ sở xác định và ghi nhận suy giảm giá trị tài sản cố định; và tính rõ ràng, thống nhất của các quy định chuyển tiếp. Từ đó, bài viết đề xuất một số kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện dự thảo, bảo đảm tính khả thi trong áp dụng và nâng cao tính minh bạch, độ tin cậy của thông tin kế toán.
2. Một số điểm mới đáng chú ý
Phân loại tài sản cố định và phân định mục đích kế toán – thuế
Theo Điều 4 dự thảo, tư liệu lao động được coi là tài sản cố định hữu hình khi chắc chắn đem lại lợi ích kinh tế tương lai và có thời gian sử dụng trên một năm. Đối với tài sản đáp ứng hai tiêu chuẩn này, đơn vị được quyết định phân loại là tài sản cố định hoặc công cụ, dụng cụ tùy đặc điểm hoạt động, nhưng phải công bố danh mục hoặc nguyên tắc phân loại. Như vậy, dự thảo không tiếp tục đặt một ngưỡng tiền tệ thống nhất làm điều kiện bắt buộc để ghi nhận tài sản cố định hữu hình trên sổ kế toán.
Ngược lại, Điều 26 dự thảo quy định ngưỡng nguyên giá từ 100 triệu đồng đối với tài sản cố định được khấu hao cho mục đích tính thuế thu nhập doanh nghiệp; tài sản dưới ngưỡng này được tính vào chi phí hoặc phân bổ theo pháp luật thuế. Hai quy định phục vụ hai mục đích khác nhau: một bên là phản ánh tài sản và chi phí trên báo cáo tài chính, một bên là xác định chi phí tính thuế. Vì thế không thể suy luận rằng mọi tài sản dưới 100 triệu đồng đều phải ghi nhận là công cụ, dụng cụ trong kế toán.
Điều 6 dự thảo đã yêu cầu theo dõi riêng các chênh lệch giữa khấu hao kế toán và khấu hao phục vụ tính thuế, đồng thời đề cập kế toán thuế thu nhập doanh nghiệp hoãn lại đối với chênh lệch tạm thời theo pháp luật kế toán. Đây là bước phù hợp để tách mục tiêu lập báo cáo tài chính khỏi mục tiêu tính thuế. Tuy nhiên, việc vận dụng đòi hỏi doanh nghiệp có dữ liệu theo dõi song song về nguyên giá, căn cứ khấu hao, thời gian sử dụng và khoản chênh lệch phát sinh.
Khấu hao và đánh giá suy giảm giá trị
Điều 10-12 dự thảo gắn khấu hao với giá trị phải khấu hao, giá trị thanh lý ước tính và thời gian sử dụng hữu ích của tài sản cố định. Doanh nghiệp được lựa chọn phương pháp phù hợp với cách thức thu hồi lợi ích kinh tế; việc thay đổi phương pháp hoặc thời gian sử dụng cần có căn cứ và thuyết minh. Khác biệt với cách áp dụng máy móc một khung thời gian chung, hướng tiếp cận này chú trọng đặc điểm sử dụng thực tế, nhưng làm tăng vai trò của các ước tính kế toán.
Điều 13-14 đề cập dấu hiệu suy giảm giá trị từ môi trường kinh doanh và tình trạng hoạt động của tài sản. Giá trị có thể thu hồi được xác định theo giá cao hơn giữa giá trị hợp lý trừ chi phí bán và giá trị sử dụng; đối với tài sản không tạo dòng tiền độc lập, cần xem xét ở cấp đơn vị tạo tiền. Yêu cầu này bổ sung góc nhìn giá trị kinh tế mà chỉ tiêu khấu hao lũy kế không phản ánh đầy đủ. Đồng thời, nó đòi hỏi chứng cứ về dự báo dòng tiền, giả định tăng trưởng, tỷ lệ chiết khấu và phạm vi nhóm tài sản được thử nghiệm.
3. Một số vấn đề cần làm rõ trong dự thảo
Căn cứ để doanh nghiệp tự xác định ngưỡng ghi nhận
Việc giao doanh nghiệp quyết định tiêu chí phân loại tài sản cố định có ưu điểm là linh hoạt, nhưng nếu thiếu nguyên tắc bổ trợ có thể làm giảm tính so sánh giữa các doanh nghiệp tương đồng. Ví dụ, hai doanh nghiệp cùng sử dụng một nhóm thiết bị trong nhiều năm có thể ghi nhận khác nhau do lựa chọn ngưỡng nội bộ khác nhau. Dự thảo đã yêu cầu công bố nguyên tắc phân loại tại Điều 4; song chưa làm rõ mức độ ổn định của chính sách và điều kiện được thay đổi ngưỡng phân loại trong các kỳ tiếp theo.
Theo đó, nên bổ sung yêu cầu lựa chọn tiêu chí dựa trên tính trọng yếu, đặc điểm sử dụng và tính nhất quán qua các kỳ; mọi thay đổi chính sách cần được lập hồ sơ, giải thích lý do và đánh giá ảnh hưởng theo pháp luật kế toán. Đây không phải đề xuất khôi phục một ngưỡng cứng cho toàn bộ doanh nghiệp, mà là cơ chế bảo đảm quyền tự chủ đi kèm trách nhiệm giải trình. Khi đối chiếu cho mục đích thuế, hệ thống sổ chi tiết cũng cần nhận diện rõ những tài sản được ghi nhận là tài sản cố định kế toán nhưng không thuộc nhóm tài sản cố định khấu hao cho mục đích thuế theo Điều 26.
Làm rõ khái niệm và điều kiện ghi nhận suy giảm giá trị
Khoản 1 Điều 14 hiện diễn đạt suy giảm giá trị xảy ra khi “giá trị còn lại của tài sản cố định thấp hơn giá trị có thể thu hồi”. Cách viết này đảo ngược chiều so sánh: khi giá trị có thể thu hồi cao hơn giá trị ghi sổ, về nguyên tắc chưa phát sinh khoản lỗ suy giảm giá trị. Đáng chú ý, khoản 3 của chính Điều 14 lại quy định ghi giảm khi giá trị có thể thu hồi thấp hơn giá trị còn lại. Sự không thống nhất nội tại cần được sửa dứt điểm trước khi ban hành, vì liên quan trực tiếp tới thời điểm ghi nhận chi phí và giá trị tài sản trên báo cáo tài chính.
Ngoài việc sửa chiều so sánh, cần phân biệt rõ hao mòn hữu hình, khấu hao có hệ thống và lỗ suy giảm giá trị. Cách đặt tên mục “suy giảm giá trị tài sản cố định do hao mòn vô hình” có thể khiến người đọc hiểu rằng chỉ những tổn thất phát sinh do lạc hậu công nghệ mới thuộc phạm vi đánh giá. Trong khi đó, các dấu hiệu tại Điều 13 bao gồm cả thay đổi thị trường, lãi suất, tái cấu trúc hoạt động và kết quả dòng tiền kém dự kiến. Do đó, nên sử dụng thuật ngữ “suy giảm giá trị tài sản cố định” nhất quán, đồng thời mô tả nguyên tắc xác định giá trị có thể thu hồi và đơn vị tạo tiền một cách tách bạch.
Về thực thi, khi xác định giá trị sử dụng bằng dòng tiền chiết khấu, cần yêu cầu thuyết minh tối thiểu phương pháp, nguồn dữ liệu, giả định trọng yếu và cơ sở xác định tỷ lệ chiết khấu. Các yêu cầu này giúp tăng khả năng kiểm tra, kiểm toán, hạn chế tình trạng thay đổi ước tính thiếu căn cứ để điều chỉnh lợi nhuận. Đối với doanh nghiệp chưa có khả năng xây dựng mô hình dòng tiền đáng tin cậy, dự thảo nên chỉ rõ cách xử lý và phạm vi sử dụng bằng chứng thay thế phù hợp pháp luật kế toán, thay vì cho phép áp dụng tùy nghi.
Tính rõ ràng của quy định chuyển tiếp và hiệu lực
Điều 29 dự thảo cho phép tiếp tục quản lý và trích khấu hao các tài sản cố định hiện có, đồng thời quy định một số trường hợp tái phân loại, trong đó có công trình BOT đang ghi nhận là tài sản cố định hữu hình. Điều 30 dự kiến áp dụng từ năm tài chính 2027, bãi bỏ Thông tư 45/2013/TT-BTC và các thông tư sửa đổi năm 2016, 2017, nhưng lại nêu Thông tư 30/2025/TT-BTC tiếp tục có hiệu lực. Thông tư 30/2025 là văn bản bổ sung quy định đặc thù về giãn hoặc tạm hoãn khấu hao đối với một số tài sản nhất định. Vì vậy, vấn đề cần phân tích không chỉ là tên văn bản còn hiệu lực, mà là nội dung quy phạm được kế thừa sẽ được thực hiện trên căn cứ nào sau khi Thông tư 45/2013/TT-BTC bị bãi bỏ.
Để tránh cách hiểu khác nhau, đề nghị cơ quan soạn thảo làm rõ phạm vi tiếp tục áp dụng quy định đặc thù của Thông tư 30/2025/TT-BTC, đối tượng được hưởng và mối quan hệ với nguyên tắc khấu hao của thông tư mới. Nếu có chủ trương kế thừa nội dung này, có thể thiết kế điều khoản độc lập hoặc dẫn chiếu minh bạch đến quy định tương ứng, bảo đảm người thực hiện xác định được căn cứ pháp lý trực tiếp. Bên cạnh đó, cần làm rõ yêu cầu xử lý số liệu đầu kỳ, hồ sơ tái phân loại và trường hợp phải trình bày lại số liệu so sánh để doanh nghiệp có thể chuẩn bị trước thời điểm dự kiến áp dụng.
4. Kiến nghị triển khai và kết luận
Đối với cơ quan soạn thảo, ba nội dung cần ưu tiên là: (i) quy định rõ điều kiện thay đổi tiêu chí phân loại tài sản cố định do doanh nghiệp lựa chọn; (ii) sửa chiều so sánh tại khoản 1 Điều 14, thống nhất thuật ngữ suy giảm giá trị và yêu cầu chứng cứ định giá; (iii) thiết kế điều khoản chuyển tiếp dễ tra cứu, xác định rõ phần quy định được kế thừa. Với các nội dung có nhiều xét đoán, hướng dẫn kèm ví dụ ngắn về hồ sơ và thuyết minh sẽ hữu ích hơn việc mở rộng danh mục tình huống mà không xác định nguyên tắc áp dụng.
Đối với doanh nghiệp, nên chủ động rà soát danh mục tài sản cố định, xây dựng quy chế phân loại và lưu hồ sơ phê duyệt; thiết lập thông tin theo dõi riêng cho mục đích kế toán và thuế; đồng thời chuẩn bị dữ liệu phục vụ ước tính thời gian sử dụng, giá trị thanh lý và khả năng thu hồi. Bộ phận kiểm toán nội bộ hoặc kiểm soát nội bộ cần tập trung vào căn cứ của các ước tính thay vì chỉ kiểm tra phép tính khấu hao. Chỉ khi quyền xét đoán đi kèm cơ chế chứng minh và kiểm tra phù hợp, những thay đổi được đề xuất mới có thể nâng cao chất lượng thông tin tài chính.
Tài liệu tham khảo
1. Bộ Tài chính (2013), Thông tư số 45/2013/TT-BTC ngày 25/4/2013 hướng dẫn chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao tài sản cố định.
2. Bộ Tài chính (2025), Thông tư số 30/2025/TT-BTC ngày 30/5/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều tại Thông tư số 45/2013/TT-BTC.
3. Bộ Tài chính (2026), Dự thảo Thông tư hướng dẫn chế độ quản lý, sử dụng đối với tài sản cố định và tài sản đầu tư theo phương thức đối tác công tư tại doanh nghiệp, bản ngày 05/10/2026 (tài liệu dự thảo).