Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV nhấn mạnh yêu cầu tạo ra bốn bước chuyển chiến lược, trong đó bước chuyển thứ ba là “xác lập mô hình phát triển dựa vào năng suất, tri thức, công nghệ và con người”. Đây là sự thay đổi căn bản về tư duy phát triển: chuyển từ tăng trưởng dựa nhiều vào mở rộng vốn, đất đai, lao động và khai thác tài nguyên sang nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực, đổi mới sáng tạo và giá trị gia tăng. Bài viết phân tích nội hàm của bốn trụ cột năng suất - tri thức - công nghệ - con người, đồng thời đề xuất một số định hướng nhằm biến khoa học, công nghệ và nguồn nhân lực thành năng suất, năng lực cạnh tranh và thu nhập cao hơn.
Từ khóa: mô hình tăng trưởng; năng suất; tri thức; công nghệ; đổi mới sáng tạo; nguồn nhân lực.
Chuyển từ mở rộng nguồn lực sang nâng cao hiệu quả
Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV đặt ra yêu cầu các quyết sách phải tạo nên bốn bước chuyển chiến lược. Trong đó, bước chuyển thứ ba là “xác lập mô hình phát triển dựa vào năng suất, tri thức, công nghệ và con người”. Đây không đơn thuần là một định hướng về khoa học - công nghệ mà là sự thay đổi căn bản về mô hình tăng trưởng. Trong nhiều năm, tăng trưởng của Việt Nam được hỗ trợ mạnh bởi mở rộng đầu tư, khai thác đất đai và tài nguyên, gia tăng lao động, thu hút FDI và chuyển dịch lao động từ khu vực có năng suất thấp sang khu vực có năng suất cao hơn. Những động lực này vẫn cần thiết nhưng dư địa ngày càng thu hẹp. Một nền kinh tế không thể tăng trưởng cao trong thời gian dài chỉ bằng cách liên tục tăng vốn, tăng lao động và sử dụng thêm tài nguyên. Khi quy mô nền kinh tế lớn lên, vấn đề quan trọng hơn là: với cùng một lượng vốn, lao động, đất đai và năng lượng, có thể tạo ra nhiều giá trị hơn hay không? Nói ngắn gọn, Việt Nam phải chuyển từ tư duy “bỏ thêm nguồn lực để có thêm tăng trưởng” sang “sử dụng nguồn lực thông minh và hiệu quả hơn để tạo ra giá trị cao hơn”. Điều đó không có nghĩa vốn, đất đai hay lao động mất vai trò. Vấn đề là hiệu quả sử dụng chúng phải trở thành tiêu chí trung tâm. Một dự án không chỉ được đánh giá bởi tổng vốn đầu tư hoặc diện tích đất sử dụng, mà phải xem xét năng suất, giá trị gia tăng, hàm lượng công nghệ, chất lượng việc làm và khả năng lan tỏa đối với nền kinh tế.
Năng suất phải trở thành thước đo trung tâm
Trụ cột thứ nhất là năng suất. Năng suất phản ánh khả năng tạo ra nhiều giá trị hơn từ cùng một lượng đầu vào. Nếu trước đây một doanh nghiệp muốn tăng sản lượng có thể tuyển thêm 1.000 lao động thì trong mô hình mới, doanh nghiệp cần đặt câu hỏi: thông qua tự động hóa, AI, đổi mới quy trình và đào tạo kỹ năng, liệu 500 lao động có thể tạo ra giá trị bằng hoặc cao hơn 1.000 lao động trước đây hay không? Nếu làm được, đó chính là tăng trưởng dựa vào năng suất.
Năm 2025, năng suất lao động của Việt Nam theo giá hiện hành ước đạt khoảng 245 triệu đồng/lao động, tương đương 9.809 USD/lao động; theo giá so sánh tăng 6,83% so với năm trước. Đây là tín hiệu tích cực, song thách thức lớn là phải duy trì được xu hướng tăng năng suất cao và bền vững trong nhiều năm.
Nghị quyết số 57-NQ/TW đặt mục tiêu đến năm 2030, đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế đạt trên 55%. Đây là chỉ tiêu rất quan trọng vì TFP phản ánh phần tăng trưởng đến từ đổi mới công nghệ, kỹ năng lao động, cải tiến quản trị và tổ chức sản xuất, thay vì chủ yếu dựa vào tăng thêm vốn và lao động. Vì vậy, cần chuyển dần cách đánh giá từ “đầu tư bao nhiêu” sang “đầu tư tạo thêm bao nhiêu năng suất và giá trị”; từ chạy theo số lượng dự án sang coi trọng chất lượng, hiệu quả và mức độ lan tỏa.
Tri thức phải trở thành nguồn vốn của nền kinh tế
Trụ cột thứ hai là tri thức. Trong nền kinh tế hiện đại, giá trị của sản phẩm ngày càng phụ thuộc vào thiết kế, công nghệ, thuật toán, dữ liệu, sáng chế, kỹ năng và thương hiệu hơn là lượng nguyên liệu vật chất cấu thành nên sản phẩm. Điều đó có nghĩa tri thức phải được coi là một dạng vốn đặc biệt của nền kinh tế. Vấn đề của Việt Nam hiện nay không chỉ là tạo ra nhiều nghiên cứu, sáng kiến hay bằng sáng chế, mà quan trọng hơn là khả năng chuyển chúng thành sản phẩm, công nghệ và giá trị thương mại. Quá trình này có thể được khái quát thành chuỗi: Nghiên cứu → tri thức → công nghệ → sản phẩm → doanh nghiệp → thị trường → năng suất. Một trường đại học có nhiều công trình nghiên cứu chưa chắc đã tạo ra nhiều sản phẩm thương mại. Nhiều bằng sáng chế cũng chưa đồng nghĩa với nhiều công nghệ được doanh nghiệp sử dụng. Khoảng cách lớn cần vượt qua chính là khoảng cách từ nghiên cứu đến thị trường. WIPO xếp Việt Nam thứ 44/139 nền kinh tế trong Chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu năm 2025. Tuy nhiên, trụ cột vốn con người và nghiên cứu của Việt Nam vẫn chỉ đứng khoảng thứ 70. Điều đó cho thấy tiềm năng đổi mới sáng tạo đã hình thành nhưng năng lực tri thức nội sinh vẫn cần tiếp tục được củng cố. Đặc biệt, xuất khẩu nhiều sản phẩm công nghệ cao chưa đồng nghĩa nền kinh tế đã làm chủ công nghệ cao. Điều quan trọng là doanh nghiệp Việt Nam tham gia được bao nhiêu vào các khâu có giá trị gia tăng lớn như nghiên cứu, thiết kế, phần mềm, linh kiện lõi, sở hữu trí tuệ, thương hiệu và phân phối. Vì vậy, chính sách khoa học và công nghệ phải chuyển mạnh từ quản lý đầu vào sang đánh giá kết quả và khả năng thương mại hóa.
Công nghệ phải chuyển hóa thành năng suất
Trụ cột thứ ba là công nghệ. Nghị quyết số 57-NQ/TW xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính phát triển lực lượng sản xuất hiện đại. Tuy nhiên, cần đặc biệt nhấn mạnh rằng công nghệ không phải mục tiêu tự thân. Một doanh nghiệp mua hệ thống máy móc hiện đại nhưng năng suất không tăng thì đầu tư công nghệ chưa đạt mục tiêu. Một cơ quan triển khai phần mềm nhưng thủ tục vẫn phức tạp thì chưa thể coi là chuyển đổi số thực chất. Một trung tâm đổi mới sáng tạo được đầu tư lớn nhưng không tạo được sản phẩm hoặc doanh nghiệp công nghệ thì hiệu quả kinh tế vẫn hạn chế. AI cũng vậy. Ý nghĩa của AI không nằm ở số lượng ứng dụng được cài đặt mà nằm ở việc giúp tiết kiệm bao nhiêu thời gian lao động, giảm bao nhiêu chi phí, cải thiện chất lượng quyết định ra sao và tạo ra thêm bao nhiêu giá trị. Do đó, cần thay đổi cách đánh giá đầu tư công nghệ. Bên cạnh câu hỏi “đã đầu tư bao nhiêu?”, phải trả lời được các câu hỏi: Năng suất tăng bao nhiêu; chi phí giảm bao nhiêu; thời gian sản xuất rút ngắn thế nào; chất lượng sản phẩm tăng ra sao; giá trị gia tăng được cải thiện đến mức nào? Đồng thời, cần chú trọng khả năng hấp thụ công nghệ của doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa. Không phải tất cả doanh nghiệp đều phải tự nghiên cứu ra công nghệ mới. Hàng triệu doanh nghiệp có thể nâng cao năng suất trước hết bằng việc tiếp nhận, ứng dụng và cải tiến công nghệ phù hợp. Bên cạnh phát triển các lĩnh vực chiến lược như AI, bán dẫn, dữ liệu lớn, công nghệ sinh học và công nghệ xanh, cần có chính sách phổ biến công nghệ đến toàn bộ khu vực doanh nghiệp.
Con người là yếu tố quyết định
Trụ cột thứ tư là con người và đây chính là chủ thể kết nối ba trụ cột còn lại. Không có lao động có kỹ năng thì máy móc hiện đại khó phát huy hiệu quả. Không có nhà khoa học và kỹ sư giỏi thì khó tạo ra công nghệ. Không có doanh nhân và nhà quản trị có năng lực thì công nghệ và tri thức khó trở thành sản phẩm thương mại. Năm 2025, tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ của Việt Nam khoảng 29,2%. Điều đó cho thấy dư địa nâng cao chất lượng nguồn nhân lực còn rất lớn. Ngân hàng Thế giới cho rằng mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045 đòi hỏi Việt Nam phải xây dựng đội ngũ nhân lực công nghệ cao có khả năng nghiên cứu, làm chủ phòng thí nghiệm và biến ý tưởng thành sản phẩm thương mại; đồng thời tăng liên kết giữa đại học, doanh nghiệp và Nhà nước. Chính sách nguồn nhân lực vì vậy không thể chỉ chạy theo số lượng bằng cấp mà phải chuyển sang năng lực thực hành, kỹ năng số, ngoại ngữ, tư duy phản biện, khả năng sáng tạo và giải quyết vấn đề. Doanh nghiệp phải tham gia sâu hơn vào thiết kế chương trình đào tạo. Trường đại học phải gắn nghiên cứu với nhu cầu của thị trường. Người lao động cần có cơ hội học tập và nâng cấp kỹ năng trong suốt quá trình làm việc. Đặc biệt, trong bối cảnh AI phát triển nhanh, đào tạo lại và nâng cao kỹ năng phải trở thành một bộ phận thường xuyên của chính sách lao động. Mục tiêu không phải là ngăn công nghệ thay thế những công việc cũ mà giúp người lao động chuyển sang những công việc có năng suất và giá trị cao hơn.
Xây dựng hệ sinh thái năng suất của nền kinh tế
Năng suất, tri thức, công nghệ và con người không phải bốn chính sách tách rời mà tạo thành một hệ thống liên kết: Con người tạo ra tri thức → tri thức tạo ra công nghệ → công nghệ được doanh nghiệp ứng dụng → năng suất tăng → giá trị gia tăng và thu nhập được nâng cao. Để hiện thực hóa bước chuyển thứ ba, cần tập trung vào một số định hướng.
Thứ nhất, lấy năng suất làm tiêu chí trung tâm của chính sách phát triển. Bên cạnh GDP, cần coi trọng tăng năng suất lao động, TFP, hiệu quả sử dụng vốn, giá trị gia tăng và thu nhập thực.
Thứ hai, đặt doanh nghiệp ở trung tâm hệ thống đổi mới sáng tạo. Nghiên cứu phải gắn chặt hơn với nhu cầu của sản xuất và thị trường; thúc đẩy liên kết thực chất giữa viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp.
Thứ ba, nâng cao năng lực làm chủ công nghệ. Nhập khẩu máy móc cần thiết nhưng chưa đủ. Doanh nghiệp Việt Nam phải từng bước có khả năng cải tiến, thiết kế và sở hữu công nghệ.
Thứ tư, cải cách giáo dục và đào tạo nhân lực. Trọng tâm phải chuyển từ bằng cấp sang năng lực, kỹ năng số, sáng tạo, ngoại ngữ, quản trị và khả năng làm việc với AI.
Thứ năm, đổi mới cơ chế đầu tư cho khoa học – công nghệ. Phân bổ nguồn lực cần gắn chặt hơn với kết quả, sản phẩm và tác động kinh tế – xã hội; đồng thời tạo động lực mạnh hơn cho doanh nghiệp đầu tư R&D.
Thứ sáu, bảo đảm thành quả tăng năng suất được chuyển hóa thành nâng cao đời sống người dân. Mục tiêu cuối cùng của khoa học, công nghệ và tăng trưởng phải là việc làm tốt hơn, thu nhập cao hơn, dịch vụ công hiệu quả hơn và cơ hội phát triển rộng mở hơn.
Kết luận
Chuyển từ tăng trưởng dựa nhiều vào vốn, đất đai, lao động và tài nguyên sang phát triển dựa trên năng suất, tri thức, công nghệ và con người là bước chuyển căn bản của mô hình phát triển Việt Nam. Trong đó, năng suất là thước đo, tri thức là nguồn lực, công nghệ là công cụ và con người là chủ thể quyết định.Thước đo thành công không nằm ở số lượng đề tài khoa học, trung tâm đổi mới sáng tạo hay ứng dụng AI, mà ở giá trị gia tăng, năng suất, sức cạnh tranh của doanh nghiệp và thu nhập của người dân. Nếu mô hình cũ đặt câu hỏi “cần thêm bao nhiêu nguồn lực?”, thì mô hình mới phải trả lời “làm thế nào tạo ra nhiều giá trị hơn từ nguồn lực hiện có?”. Giải được bài toán đó bằng cải cách thể chế, đổi mới công nghệ và phát triển con người chính là nền tảng để Việt Nam tăng trưởng nhanh, bền vững và tiến tới quốc gia phát triển, thu nhập cao.
Tài liệu tham khảo
1- Tô Lâm (2026), Phát biểu khai mạc Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, Cổng Thông tin điện tử Chính phủ;
2- Bộ Chính trị (2024), Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia;
3- Cục Thống kê (2026), Báo cáo tình hình kinh tế – xã hội quý IV và năm 2025, Hà Nội;
4- World Intellectual Property Organization – WIPO (2025), Global Innovation Index 2025 – Viet Nam’
5- World Bank (2025), Taking Stock: Viet Nam Economic Update – Nurturing Viet Nam’s High-Tech Talents, Washington, D.C.