Mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số đặt ra yêu cầu không chỉ mở rộng quy mô nền kinh tế mà còn phải nâng cao hiệu quả huy động, phân bổ và sử dụng các nguồn lực, đặc biệt là nguồn lực công. Trên nền tảng đó, Kiểm toán nhà nước thông qua kết quả kiểm toán góp phần thúc đẩy các mục tiêu tăng trưởng hiệu quả, bền vững.
Tăng trưởng cao đặt ra yêu cầu nâng cao hiệu quả nguồn lực
Năm 2025, kinh tế Việt Nam đạt mức tăng trưởng GDP 8,02%, trong đó tốc độ tăng GDP được cải thiện qua từng quý, từ 7,05% trong quý I lên 8,46% trong quý IV. Khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 8,95%, khu vực dịch vụ tăng 8,62%, tiếp tục là những động lực quan trọng của tăng trưởng. Quy mô GDP theo giá hiện hành đạt khoảng 12.847,6 nghìn tỷ đồng, tương đương 514 tỷ USD.
Bước sang năm 2026, yêu cầu tăng trưởng được đặt ở mức cao hơn. Chính phủ xác định mục tiêu phấn đấu tăng trưởng GDP từ 10% trở lên; đây đồng thời là định hướng quan trọng cho giai đoạn 2026-2030 với yêu cầu duy trì tốc độ tăng trưởng cao gắn với ổn định kinh tế vĩ mô và nâng cao chất lượng tăng trưởng.

Kết quả 6 tháng đầu năm 2026 cho thấy GDP tăng 8,18% so với cùng kỳ năm trước; trong đó công nghiệp và xây dựng tăng 9,81%, dịch vụ tăng 8,09%. Đáng chú ý, vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội đạt khoảng 1.807,8 nghìn tỷ đồng, tăng 12,9% so với cùng kỳ năm 2025. Trong tổng vốn đầu tư này, khu vực Nhà nước đạt 508,3 nghìn tỷ đồng, chiếm 28,1% và tăng 12,5%; khu vực ngoài Nhà nước đạt 973,4 nghìn tỷ đồng, chiếm 53,8%; khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 326,1 nghìn tỷ đồng, chiếm 18,1%.
Những con số trên cho thấy để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số, yêu cầu đặt ra không chỉ là huy động thêm vốn mà quan trọng hơn là nâng cao khả năng chuyển hóa nguồn lực thành kết quả phát triển. Nếu nguồn lực được huy động lớn nhưng phân bổ chưa hợp lý, dự án chậm tiến độ, vốn bị phân tán, tài sản sau đầu tư khai thác chưa hiệu quả thì đóng góp thực tế cho tăng trưởng sẽ không tương xứng với nguồn lực đã bỏ ra.
Trong các động lực tăng trưởng, đầu tư công có vai trò đặc biệt bởi không chỉ trực tiếp tạo ra các công trình kết cấu hạ tầng mà còn có khả năng dẫn dắt, kích hoạt và thu hút nguồn lực từ khu vực tư nhân. Năm 2025, giải ngân vốn đầu tư công đạt khoảng 755.141,6 tỷ đồng, bằng 83,7% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao, tăng 206.564,1 tỷ đồng về số tuyệt đối so với năm 2024. Trong đó, vốn ngân sách trung ương giải ngân 279.713,9 tỷ đồng, đạt 65,6%; vốn ngân sách địa phương giải ngân 475.427,7 tỷ đồng, đạt 99,9%.
Tỷ lệ giải ngân 83,7% cho thấy quy mô nguồn lực được đưa vào nền kinh tế là rất lớn, đồng thời cũng cho thấy còn dư địa đáng kể để nâng cao hiệu quả thực hiện kế hoạch đầu tư công. Đối với mục tiêu tăng trưởng cao, vấn đề không chỉ là “giải ngân nhanh” mà phải là giải ngân đúng, giải ngân có hiệu quả và tạo ra năng lực sản xuất mới.
Từ kiến nghị kiểm toán đến việc giải phóng nguồn lực cho tăng trưởng
Báo cáo tổng hợp kết quả kiểm toán năm 2025 của Kiểm toán nhà nước cho thấy, thông qua 231 Báo cáo kiểm toán của 126 nhiệm vụ kiểm toán, Kiểm toán nhà nước đã cung cấp một lượng thông tin lớn phục vụ đánh giá việc quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước và các nguồn lực công.
Đối với niên độ ngân sách nhà nước năm 2024, kết quả kiểm toán đã kiến nghị tăng thu, giảm chi ngân sách nhà nước 21.798,7 tỷ đồng và 1.728.752,09 USD; các kiến nghị khác về xử lý tài chính là 19.450 tỷ đồng và 127.513.717,8 USD. Bên cạnh kiến nghị xử lý tài chính, Kiểm toán nhà nước còn kiến nghị hủy bỏ, thay thế, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới 166 văn bản, trong đó có 1 luật, 11 nghị định, 2 quyết định của Thủ tướng Chính phủ, 18 thông tư và 134 văn bản khác.
Như vậy, giá trị của hoạt động kiểm toán không chỉ thể hiện ở số tiền kiến nghị xử lý mà còn nằm ở việc phát hiện những bất cập của cơ chế, chính sách và phương thức quản lý nguồn lực. Nếu một kiến nghị sửa đổi chính sách được thực hiện, tác động của nó có thể vượt ra ngoài phạm vi của một đơn vị được kiểm toán và ảnh hưởng đến việc quản lý, sử dụng nguồn lực trên phạm vi rộng hơn.
Một trong những vấn đề cần được quan tâm trong quá trình thúc đẩy tăng trưởng cao là mức độ thực hiện các kiến nghị kiểm toán. Đối với niên độ ngân sách năm 2023, đến thời điểm tổng hợp, số kiến nghị đã thực hiện đạt 27.507,34 tỷ đồng trên tổng số 31.093,33 tỷ đồng, tương ứng 88,47%. Trong đó, tỷ lệ thực hiện kiến nghị tăng thu, giảm chi đạt 93,88%; các kiến nghị khác đạt 82,67%.
Tuy nhiên, đến cuối năm 2025, tổng số kiến nghị tài chính và kiến nghị khác còn tồn đọng chưa thực hiện đối với các niên độ từ năm 2023 trở về trước vẫn ở mức 54.860,90 tỷ đồng. Theo báo cáo, nguyên nhân chủ yếu thuộc về các đơn vị được kiểm toán, bên cạnh những nguyên nhân liên quan đến bên thứ ba, cơ chế chính sách, thủ tục phê duyệt và khả năng cân đối nguồn lực.
Từ góc độ tăng trưởng, đây không đơn thuần là vấn đề thực hiện một kết luận hoặc kiến nghị kiểm toán. Những khoản kiến nghị chưa được thực hiện đầy đủ có thể được nhìn nhận như một phần nguồn lực chưa được giải phóng và đưa trở lại phục vụ các mục tiêu phát triển. Do đó, nâng cao tỷ lệ thực hiện kiến nghị kiểm toán cần được xem là một nội dung góp phần tăng cường hiệu quả quản trị tài chính công.
Điều này cũng đặt ra yêu cầu đối với Kiểm toán nhà nước phải quan tâm nhiều hơn đến nguyên nhân gốc rễ của các tồn tại. Kiểm toán cần làm rõ vì sao nguồn lực chưa được sử dụng hiệu quả, vướng mắc nằm ở khâu nào, thuộc trách nhiệm của chủ thể nào và cần thay đổi cơ chế, quy trình hay phương thức tổ chức thực hiện ra sao. Khi kiến nghị kiểm toán gắn với giải pháp xử lý nguyên nhân, giá trị của kiểm toán sẽ được chuyển hóa từ phát hiện vấn đề sang thúc đẩy thay đổi và giải phóng nguồn lực.
Đổi mới hoạt động kiểm toán hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số
Mục tiêu tăng trưởng hai con số đòi hỏi hoạt động kiểm toán tiếp tục chuyển mạnh từ việc kiểm tra tính đúng đắn, hợp pháp của các khoản thu, chi sang đánh giá sâu hơn về tính kinh tế, hiệu lực và hiệu quả của việc sử dụng nguồn lực.
Theo đó, cần tăng cường kiểm toán hoạt động, kiểm toán chuyên đề, kiểm toán các chương trình, dự án lớn và những chính sách có tác động trực tiếp đến tăng trưởng. Trọng tâm kiểm toán có thể hướng vào các lĩnh vực sử dụng nguồn lực lớn và có sức lan tỏa như đầu tư công, kết cấu hạ tầng chiến lược, đất đai, tài sản công, doanh nghiệp nhà nước, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Đặc biệt, trong bối cảnh vốn đầu tư toàn xã hội 6 tháng đầu năm 2026 tăng 12,9%, việc đánh giá hiệu quả đầu tư cần được đặt ngang với yêu cầu về tiến độ giải ngân. Kiểm toán cần trả lời không chỉ câu hỏi “vốn đã được giải ngân đúng quy định chưa?” mà còn phải làm rõ “vốn đã tạo ra kết quả và năng lực phát triển tương xứng chưa?”.
Cùng với đó, việc ứng dụng dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo và các công cụ phân tích dữ liệu trong hoạt động kiểm toán sẽ giúp nâng cao khả năng nhận diện rủi ro, phân tích xu hướng và lựa chọn trọng tâm kiểm toán. Đây là hướng đi cần thiết để Kiểm toán nhà nước có thể theo dõi tốt hơn những dòng nguồn lực lớn, các dự án có tác động lan tỏa và những chính sách có ảnh hưởng đến tăng trưởng.
Kết luận
Tăng trưởng kinh tế hai con số đặt ra yêu cầu cao đối với khả năng huy động và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực của nền kinh tế. Kết quả GDP tăng 8,02% năm 2025 và 8,18% trong 6 tháng đầu năm 2026, cùng với mức tăng 12,9% của vốn đầu tư toàn xã hội, cho thấy nền kinh tế đang huy động lượng nguồn lực lớn để tạo động lực phát triển. Tuy nhiên, để chuyển từ mức tăng trưởng cao sang tăng trưởng hai con số một cách bền vững, vấn đề cốt lõi là nâng cao hiệu quả sử dụng từng đồng vốn, từng tài sản và từng nguồn lực.
Trong quá trình đó, Kiểm toán nhà nước có vai trò quan trọng thông qua kiểm toán việc quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công; kiến nghị xử lý tài chính; kiến nghị hoàn thiện cơ chế, chính sách; đồng thời nhận diện những điểm nghẽn làm hạn chế hiệu quả sử dụng nguồn lực.
Vì vậy, đóng góp của Kiểm toán nhà nước đối với tăng trưởng không nên chỉ được nhìn nhận qua số tiền kiến nghị xử lý, mà cần được nhìn nhận rộng hơn ở khả năng nâng cao kỷ luật, kỷ cương tài chính; giải phóng nguồn lực; cải thiện chất lượng đầu tư công; hoàn thiện thể chế và nâng cao hiệu quả quản trị quốc gia. Đây chính là hướng phát triển để hoạt động kiểm toán ngày càng gắn chặt hơn với yêu cầu tăng trưởng nhanh, bền vững và nâng cao chất lượng phát triển của nền kinh tế.