Thứ sáu, 23/10/2026

Điện thoại (024) 6287 3463

Đường dây nóng (024) 6287 3463

Liên hệ quảng cáo (+84)915.632.345

Thứ sáu, 23/10/2026
Share on Facebook
Copy to Clipboard

CƠ CHẾ GIÁM SÁT HÀNG HÓA XUẤT KHẨU TRONG BỐI CẢNH VIỆT NAM GIA NHẬP WTO

Một trong những phương pháp được đề cập khá nhiều trong thời gian gần đây là kiểm soát tự nguyện các hoạt động xuất khẩu từ phía cơ quan Nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam, cũn được biết đến dưới tên “Cơ chế giám sát xuất khẩu”.

 

Cơ chế giám sát hàng hóa xuất khẩu trong bối cảnh Việt nam gia nhập WTO

Cơ chế giám sát xuất khẩu


Cho đến nay chưa có bất kỳ một định nghĩa hay cách hiểu thống nhất nào về “cơ chế giám sát xuất khẩu”. Bản thân thuật ngữ “giám sát xuất khẩu” cũng không được sử dụng thống nhất. Nếu hiểu theo nghĩa một cơ chế nhằm kiểm soát hoạt động xuất khẩu do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thực hiện, nhằm phục vụ những mục đích khác nhau như an ninh quốc gia, bảo vệ môi trường, bảo vệ sức khoẻ con người… thỡ Việt Nam và hầu hết cỏc nước đều đó và đang duy trỡ những cơ chế giám sát như vậy.
 

Nếu hiểu “cơ chế giám sát xuất khẩu” theo nghĩa một cơ chế mà Nhà nước thiết lập để kiểm soát các hoạt động xuất khẩu nhằm hạn chế nguy cơ bị áp dụng các rào cản thương mại ở nước nhập khẩu thì hầu như không tìm thấy một quốc gia nào có một “cơ chế” như vậy. Thực tế này có thể được giải thích bởi nhiều lý do.

Về phương pháp: Khú cú một cơ chế giám sát nào có thể áp dụng thống nhất cho tất cả các loại hàng hoá xuất khẩu. Trong thực tiễn thương mại, mỗi loại hàng hoá xuất khẩu của mỗi nước phải đối mặt với những nguy cơ rào cản khác nhau, ở những mức độ khác nhau trên mỗi thị trường xuất khẩu. Tất cả các yếu tố này biến đổi tuỳ thuộc vào hoàn cảnh cụ thể của hoạt động thương mại và mối tương quan giữa lượng nhập khẩu (có lớn hay không), cách thức nhập khẩu (có lành mạnh hay không) và tỡnh trạng của ngành sản xuất nội địa liên quan của nước nhập khẩu (có bị thiệt hại hay không và mức độ thiệt hại đến đâu) trong từng thời điểm cụ thể. Vỡ thế, một cơ chế kiểm soát thống nhất, lâu dài đối với tất cả các loại hàng hoá xuất khẩu là không tưởng, hoặc giả sử có một cơ chế như vậy thỡ cũng khụng thể cú hiệu quả. Ngay cả khi với mỗi loại hàng hoỏ cụ thể Nhà nước thiết lập một cơ chế kiểm soát xuất khẩu riêng, ổn định thỡ điều này cũng khó khả thi ít nhất bởi lý do: nguy cơ rào cản có thể xảy ra với hầu hết các loại hàng hoá, nếu mỗi loại hàng phải thiết lập một cơ chế giám sát riêng thỡ chi phớ về nhõn lực, vật lực để duy trỡ những cơ chế như vậy sẽ là gánh nặng quá lớn đối với bất kỳ Chính phủ nào.
Về tớnh hiệu quả: sử dụng một cơ chế tĩnh để đối phó với những rủi ro động không bao giờ là đơn giản. Cũng như vậy, khó có thể chắc chắn về tính hiệu quả của việc áp dụng cơ chế giám sát xuất khẩu ổn định. Mỗi “cơ chế” liên quan đến cả một bộ máy và phương pháp hoạt động nên cần sự ổn định tương đối, vỡ thế điều chỉnh, nếu cần, chỉ có thể chấp nhận ở quy mô nhỏ và không quá khác biệt để đối phó với những loại rào cản thương mại (đặc biệt là thuế chống bán phá giá, chống trợ cấp và biện pháp tự vệ) vốn phụ thuộc vào rất nhiều các yếu tố chủ quan và khách quan khác nhau, trong đó phải kể đến các yếu tố chính trị rất khó lường (ví dụ khả năng lobby của ngành sản xuất liên quan, thời điểm nhạy cảm về bầu cử tại nước nhập khẩu, sức nặng trong tiếng nói của các nhóm đại diện người tiêu dùng…). Điều này giải thích một phần tại sao dù phải chịu rất nhiều thiệt hại từ các vụ kiện chống bán phá giá, Chính phủ các nước như Ấn Độ, Trung Quốc, Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu…vẫn chưa và có lẽ là không có ý định thiết lập một cơ chế giám sát xuất khẩu hàng hoá để đối phó với những rủi ro này.
Từ góc độ chi phí: việc thiết lập một cơ chế giám sát xuất khẩu của Nhà nước cho tất cả hoặc cho từng nhóm mặt hàng sẽ đũi hỏi những chi phớ rất lớn từ tất cả cỏc chủ thể liờn quan. Nhà nước sẽ phải dành một khoản không nhỏ để xây dựng và duy trỡ cỏc cơ chế này (bao gồm cả nhân lực, phương tiện, quy trỡnh vận hành…). Xó hội (cụ thể là cỏc doanh nghiệp) cũng sẽ phải chịu những chi phớ tương đối lớn về thời gian, nhân lực để tuân thủ. Với tính chất là một thủ tục kiểm soát hành chính, cơ chế giám sát xuất khẩu có thể sẽ không tránh khỏi những căn bệnh hành chính cố hữu, đặc biệt là bệnh nhũng nhiễu, hối lộ có thể gây nên những hệ quả khác có thể nảy sinh trong quá trỡnh thực thi một hoặc cỏc cơ chế kiểm soát xuất khẩu như vậy. Ngoài ra, với các cơ chế này, bộ máy Nhà nước sẽ phải mở rộng tương đối, một vấn đề tương đối khó trong hoàn cảnh hầu hết các nước, trong đó có Việt Nam, đang cố gắng tinh giản bộ máy và hạn chế sự can thiệp trực tiếp của Nhà nước vào các hoạt động kinh doanh… Rừ ràng các nước có lý do để cân nhắc thận trọng khi phải đánh đổi những chi phí quá lớn như trên cho những hiệu quả khá mơ hồ.

 

 

Ở Hoa Kỳ, Uỷ ban Công nghiệp và An ninh (Bureau of Industry and Security – BIS) thuộc Bộ Thương mại là cơ quan giám sát bằng cách cấp phép xuất khẩu cho một số trường hợp nhất định, phụ thuộc vào tính chất của hàng hoá. Hàng hóa được kiểm soát chủ yếu là các sản phẩm có công nghệ cao, phức tạp; sản phẩm có nguồn cung khan hiếm; những thông tin kỹ thuật hoặc sản phẩm có liên quan đến quốc phòng, phát triển hoặc phổ biến vũ khí…. Chủ thể/nơi nhận là một số nước, tổ chức, cá nhân mà Hoa Kỳ liệt vào danh sách hạn chế hoặc cấm nhận một số loại hàng hoá từ Hoa Kỳ và mục đích sử dụng cuối cùng của sản phẩm xuất khẩu như sản phẩm có liên quan tới mục đích quân sự, khủng bố…. Ngoài BIS, một số cơ quan khác cũng tham gia vào việc kiểm soát vật phẩm hoặc dịch vụ xuất khẩu nhằm mục tiêu bảo vệ các lợi ích công cộng quan trọng bằng cách cấp giấy phép ngoài hệ thống của BIS hoặc một số hình thức kiểm soát khác như FDA (Cục quản lý thực phẩm - dược phẩm), PTO (Văn phòng Sáng chế và Nhãn hiệu), EPA (Cục bảo vệ môi trường), DTSA (Cục An ninh Công nghệ Quốc phòng)…Tuy nhiên, mục tiêu của các hoạt động kiểm soát này hoàn toàn không nhằm  phục vụ việc đối phó với các rào cản thương mại mà nước ngoài áp đặt đối với hàng hoá Hoa Kỳ. Thậm chí việc kiểm soát không liên quan đến tính chất thương mại của đối tượng xuất khẩu tức là không phụ thuộc vào việc đối tượng đó được xuất khẩu vì mục tiêu thương mại, quân sự hay sử dụng cá nhân. Tương tự, Vương Quốc Anh hiện đang duy trì một hệ thống kiểm soát xuất khẩu với mục tiêu nhằm thúc đẩy an ninh toàn cầu thông qua các hoạt động giám sát mang tính chiến lược và tạo điều kiện cho các hoạt động xuất khẩu “một cách có trách nhiệm”…

Cơ chế giám sát xuất khẩu ở Việt nam

Việt Nam từ lâu đã duy trì các biện pháp kiểm soát khác nhau đối với hàng hoá xuất khẩu. Trong giai đoạn kinh tế bao cấp trước đây, hầu hết các hoạt động xuất khẩu đều phải xin cấp phép hoặc bị kiểm soát. Hiện nay, các hoạt động xuất khẩu thương mại được Chính phủ đẩy mạnh và khuyến khích.

Bên cạnh việc thực hiện thuế suất thuế xuất khẩu của hầu hết các hàng hóa đều bằng không và các doanh nghiệp được hoàn thuế; các thủ tục hành chính được giảm bớt, các chủ thể xuất khẩu tự chịu trách nhiệm về hàng hoá của mình, hình thức cấp phép vẫn được duy trì đối với một số loại hàng hoá đặc biệt (ví dụ văn hoá phẩm, một số loại tài nguyên thiên nhiên….). Ngoài ra, Chính phủ sử dụng một loạt các hình thức kiểm soát kể cả hình thức kiểm soát tự nguyện và bắt buộc khác đối với hàng hoá xuất khẩu như kiểm soát chất lượng hàng hoá (ví dụ NAFIQAVED kiểm soát chất lượng hàng thuỷ sản xuất khẩu), đăng ký xuất khẩu (ví dụ Bộ Khoa học Công nghệ cấp Giấy phép chuyển giao công nghệ đối với hợp đồng xuất, nhập khẩu các các công nghệ thuộc nhóm hạn chế chuyển giao…), kiểm dịch thực vật xuất khẩu theo yêu cầu (Cục bảo vệ thực vật)…. Giống như các quốc gia khác, việc kiểm soát xuất khẩu nói trên của Việt Nam được thực hiện nhằm mục tiêu bảo vệ những lợi ích công cộng quan trọng như an ninh quốc phòng, bảo vệ môi trường, bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên…. Những biện pháp này góp phần vào mục tiêu kiểm soát hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp. Tuy nhiên, đứng trên giác độ kỹ thuật, những biện pháp trên hoàn toàn không phải được thiết kế nhằm mục tiêu đối phó với những rào cản thương mại ở các thị trường xuất khẩu mà hàng hoá Việt Nam có thể phải đối mặt.

Các biện pháp đối phó với những rào cản thương mại

Những bất cập của cái gọi là “cơ chế giám sát xuất khẩu” không đồng nghĩa với các nước không áp dụng những biện pháp khác nhau để giảm thiểu nguy cơ bị áp dụng các loại rào cản thương mại. Việt Nam hoàn toàn có thể nghiên cứu và sử dụng một biện pháp thích hợp vì mục tiêu này. Điều quan trọng là ở chỗ tính chất, chủ thể thực hiện cũng như đích hướng tới của các biện pháp này phải được xác định dựa trên tính khả thi, tính hiệu quả và chi phí thấp nhất có thể.

Biện pháp đối phó chỉ đem lại hiệu quả tích cực nếu nó dược xử lý dựa trên các nguyên nhân trực tiếp của các rào cản thương mại. Các rào cản thương mại được chia thành hai nhóm phân biệt nhau khá rõ rệt về tính chất và căn cứ áp dụng, nên các biện pháp đối phó cũng vì thế phải phân thành hai nhóm tương ứng.

1. Biện pháp đối phó với các rào cản thường trực: Thực hiện tốt các yêu cầu về mặt kỹ thuật đối với hàng hóa xuất khẩu

Các rào cản thương mại mang tính thường xuyên đang được các nước sử dụng phổ biến bao gồm các điều kiện về kỹ thuật (ví dụ các yêu cầu về chất lượng, về nhãn mác, bao bì); các đòi hỏi về vệ sinh dịch tễ (áp dụng chủ yếu đối với các hàng hoá xuất nhập khẩu là nông sản, các sản phẩm động thực vật khác); các yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ… Đây là các quy định bắt buộc và tương đối ổn định mà hàng hoá nhập khẩu từ tất cả các nguồn đều phải tuân thủ.Với tính chất như vậy, biện pháp đối phó duy nhất với các rào cản này là đảm bảo rằng hàng hoá Việt Nam trước khi xuất khẩu đáp ứng được đầy đủ các yêu cầu này. Để tất cả các doanh nghiệp xuất khẩu có thể thực hiện tốt các yêu cầu đó,  phía Việt Nam cần duy trì các đơn vị thường trực, theo từng chuyên ngành, để thực hiện việc kiểm soát điều kiện kỹ thuật hoặc vệ sinh dịch tễ đối với từng nhóm hàng hoá cụ thể nhằm bảo vệ lợi ích chung của cả cộng đồng các doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu loại hàng hoá liên quan.

Tuy nhiên, thực tế đặt ra hiện nay đó là “ai” sẽ thực hiện việc kiểm soát này, và “hiệu lực” của việc kiểm soát như thế nào?

Nếu thủ tục kiểm soát là bắt buộc tương tự như một hình thức giấy phép: Với biện pháp này, doanh nghiệp sẽ phải mất thêm chi phí tuân thủ; Tuy nhiên, sản phẩm xuất khẩu sẽ có hiệu quả bảo vệ sẽ cao hơn, ít bị rủi ro hơn.

Nếu thủ tục này là tự nguyện tức là doanh nghiệp tự đề nghị kiểm soát hàng để đảm bảo yêu cầu theo hợp đồng hoặc đảm bảo uy tín…Về nguyên tắc sẽ thuận lợi hơn cho doanh nghiệp, tiết kiệm chi phí cho xã hội nhưng sẽ có nguy cơ một số hàng hoá không đảm bảo yêu cầu nhưng vẫn được xuất khẩu dẫn tới thiệt hại chung cho cả cộng đồng.

Trên thực tế, không có nước nào duy trì một hệ thống kiểm soát bắt buộc đối với tất cả các loại hàng hoá theo các yêu cầu kỹ thuật của từng nước nhập khẩu bởi chi phí cho việc này quá lớn trong khi nguy cơ lại phân bố không đều giữa các sản phẩm, các thị trường. Vì vậy, ngoài những hình thức kiểm soát xuất khẩu bắt buộc theo cam kết quốc tế (tương tự như cách Đài Loan duy trì Hệ thống kiểm soát bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ tại biên giới theo cam kết gia nhập WTO của lãnh thổ này). Sẽ tốt hơn nếu duy trì các hình thức kiểm soát thường xuyên ở dạng “tự nguyện” đối với các loại hàng hoá và chỉ chuyển thành “bắt buộc” đối với những mặt hàng xuất sang những thị trường đang có nguy cơ cao, ví dụ khi một thị trường phát đi tín hiệu sẽ thực hiện các biện pháp kiểm soát mạnh mẽ hơn đối với một loại hàng hoá do phát hiện các lô hàng không đạt tiêu chuẩn quy định…như đã thấy với trường hợp thủy sản Việt Nam xuất sang thị trường EU, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Canada….

Về chủ thể thực hiện, nếu thủ tục kiểm soát được thực thi bởi Nhà nước thông qua một cơ quan quản lý Nhà nước, hiệu quả quản lý có thể sẽ tốt hơn đặc biệt đối với trường hợp kiểm soát bắt buộc. Tuy nhiên, việc thành lập thêm các đơn vị mới hoặc bổ sung chức năng cho các đơn vị đang tồn tại để thực hiện việc kiểm soát tự nguyện hoặc bắt buộc đối với tất cả các loại hàng hoá sẽ là không thể với những lý do về chi phí và bất cập về bộ máy hành chính. Vì vậy, sẽ thuận lợi và linh hoạt hơn nhiều nếu Nhà nước trao chức năng này cho các tổ chức hoặc đơn vị phi Chính phủ bao gồm các Hiệp hội và doanh nghiệp. Các tổ chức này sẽ thực hiện việc kiểm soát như là một hianhf thức dịch vụ. Trường hợp kiểm soát là bắt buộc thì đây là hình thức thực hiện dịch vụ công theo uỷ quyền của Nhà nước. Thực tế, việc uỷ quyền một số hoạt động quản lý từ Nhà nước sang các Hiệp hội và các thiết chế dân sự khác đang là một xu hướng khá phổ biến trên thế giới.

2. Biện pháp đối phó với các vụ kiện thương mại: biện pháp phũng trỏnh tốt nhất là giảm thiểu cỏc rủi ro này bằng cỏch đa dạng hoá thị trường, không tập trung quá nhiều hàng hóa xuất khẩu một thị trường nào, nâng cao trị giá hàng hoá bằng cách tăng xuất khẩu hàng có chất lượng cao thay vỡ hàng giỏ rẻ và cú “cơ chế dự báo nguy cơ” cho phép theo dừi thường xuyên động thái của ngành sản xuất nội địa liên quan nhằm phát hiện kịp thời những nguy cơ khởi xướng vụ kiện.

Các vụ kiện thương mại như kiện chống bán phá giá, chống trợ cấp hoặc tự vệ là loại rào cản mang tính trừng phạt, chỉ áp dụng đối với các mặt hàng nhất định từ một số nước nhất định. Và vì thế, đây là những loại rào cản “có điều kiện” và biện pháp đối phó được cho là những cách thức làm “triệt tiêu” sự tồn tại của các điều kiện đó.

Về nguyên tắc, các rào cản này chỉ áp dụng khi có hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh của hàng hoá nhập khẩu từ nước ngoài; như vậy cách đối phó về lý thuyết là không thực hiện những hành vi cạnh tranh bất hợp pháp (ví dụ không bán phá giá, không trợ cấp…).

Trên thực tế, không phải hành vi cạnh tranh không lành mạnh mà là việc tăng lượng nhập khẩu ồ ạt vào một thị trường với giá rẻ khiến ngành sản xuất nội địa nước nhập khẩu nhanh chóng mất thị phần và khả năng cạnh tranh thường là nguyên nhân chủ yếu dẫn tới những vụ kiện thương mại; thái độ của ngành sản xuất nội địa là điều kiện trực tiếp cho việc khởi xướng vụ kiện. Do đó, về logic, biện pháp phòng tránh tốt nhất là giảm thiểu các rủi ro này bằng cách đa dạng hoá thị trường, không tập trung quá nhiều hàng hóa xuất khẩu một thị trường nào, nâng cao trị giá hàng hoá bằng cách tăng xuất khẩu hàng có chất lượng cao thay vì hàng giá rẻ và có “cơ chế dự báo nguy cơ” cho phép theo dõi thường xuyên động thái của ngành sản xuất nội địa liên quan nhằm phát hiện kịp thời những nguy cơ khởi xướng vụ kiện.

Như vậy, đối với các rào cản loại này, chúng ta cần một hệ thống phức hợp nhiều biện pháp với tính chất khác nhau từ phía nhà nước và các cơ quan chức năng và đặc biệt là sự chủ động từ phía doanh nghiệp xuất khẩu.

Nhà nước, các cơ quan chức năng, các hiệp hội cần đẩy mạnh hơn nữa các biện pháp như tuyên truyền, cảnh báo nguy bị kiện để tất cả các doanh nghiệp nắm vững và có kế hoạch ứng phó một cách chủ động. Mặt khác nhà nước cần có các biện pháp cứng rắn hơn như hạn chế số lượng, ấn định giá sàn, áp dụng thuế xuất khẩu… tuỳ thuộc vào tình hình thực tế.

Các biện pháp như tuyên truyền, xây dựng và cập nhật cơ sở dữ liệu về tình hình thương mại liên quan đến sản phẩm, thu thập thông tin thường xuyên về ngành sản xuất nội địa nước xuất khẩu để cảnh báo kịp thời các nguy cơ, chuẩn bị sẵn sàng các chứng cứ ví dụ duy trì hệ thống sổ sách kế toán rõ ràng, hợp chuẩn; lưu giữ các số liệu đầy đủ, chính xác… cần thực hiện thường xuyên, liên tục. Cũng vì các biện pháp này mang tính lâu dài nên việc thiết kế các cơ chế tương ứng cần tính đến yếu tố này từ góc độ chi phí, khả năng duy trì và tính hiệu quả. Chẳng hạn, đối với việc thu thập cơ sở dữ liệu về tình hình xuất khẩu, cần chú ý đến việc cải tổ hệ thống quản lý số liệu của cơ quan hải quan để từ đó có dữ liệu cần thiết thay vì thiết kế mới một cơ chế đăng ký hay báo cáo tốn kém chỉ để phục vụ mục tiêu này.

Đối với các biện pháp “cứng rắn” kiểu ấn định hạn ngạch xuất khẩu, ấn định giá sàn... việc áp dụng khi nào và như thế nào cần được cân nhắc cẩn trọng và cần có lộ trình cụ thể. Bởi các yếu tố là nguyên nhân dẫn tới những vụ kiện thương mại là không xác định nên hiệu quả của việc kiểm soát để phòng ngừa là rất mong manh trong khi chi phí để thực hiện các biện pháp này lại rất lớn đặc biệt là từ phía doanh nghiệp.

Nhìn lại bài học của Trung Quốc vào thời điểm trước 1/1/2005 (thời điểm Hiệp định đa sợi với nguyên tắc về hạn ngạch nhập khẩu hàng dệt may hết hiệu lực) có thể thấy nhiều điểm thú vị. Trước hiện thực rõ ràng là hàng dệt may Trung Quốc sẽ xâm lấn ồ ạt tất cả các thị trường sau khi chế độ hạn ngạch được dỡ bỏ và không ít nước đã cảnh báo khả năng sử dụng các công cụ rào cản thương mại đặc biệt là chống bán phá giá và biện pháp tự vệ để chống lại làn sóng hàng dệt may Trung Quốc giá rẻ, ở Trung Quốc vào thời điểm đó đã dấy lên những tranh luận khá gay gắt về biện pháp để đối phó. Chính phủ Trung quốc đã tính đến việc Nhà nước trực tiếp kiểm soát và hạn chế lượng xuất khẩu, ấn định mức giá sàn… cho các doanh nghiệp dệt may và nhiều biện pháp khác. Cuối cùng, những giải pháp trung gian chắc chắn hơn và bớt tính “can thiệp” hơn đã được lựa chọn. Cụ thể, Trung Quốc chọn cách ký thoả thuận về hạn ngạch đối với một số loại hàng dệt may với Hoa Kỳ thay vì tự mình hạn chế lượng xuất. Với biện pháp này, Trung Quốc đã đạt được sự ngầm định với Hoa Kỳ rằng trong khuôn khổ hạn ngạch, lượng xuất khẩu hàng dệt may Trung Quốc vào Hoa Kỳ có thể không bị xem như là “quá lớn” đến mức làm tổn thương ngành sản xuất nước này. Ngoài ra, Trung Quốc còn áp dụng thuế xuất khẩu đánh vào hàng dệt may theo số lượng để vừa hạn chế lượng xuất vừa khuyến khích các doanh nghiệp xuất khẩu hàng dệt may có chất lượng và trị giá cao. Bên cạnh đó, trên cơ sở thương lượng và thoả thuận, các Hiệp hội dệt may Trung Quốc quyết định áp dụng các mức giá sàn xuất khẩu cho doanh nghiệp trong Hiệp hội mình để tự hạn chế khả năng bán phá giá. Chính phủ Trung Quốc xem như đứng ngoài vấn đề này và vì thế có thể tránh được các chỉ trích về việc Chính phủ can thiệp vào quyền quyết định của doanh nghiệp, một vấn đề khá nhạy cảm trong các xem xét về quy chế phi thị trường.

Ví dụ này một lần nữa cho thấy việc lựa chọn biện pháp đối phó như thế nào đối với các vụ kiện thương mại là việc cần cân nhắc từ nhiều góc độ đặc biệt là cách mà Nhà nước hạn chế can thiệp trực tiếp vào hoạt động xuất khẩu liên quan cũng như việc nhấn mạnh vai trò của các Hiệp hội ngành hàng.

Về phía doanh nghiệp

Doanh nghiệp cần có một chiến lược kinh doanh cụ thể hướng vào sự đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, nâng cao giá trị hàng hóa xuất khẩu bằng cách đầu tư các dây chuyền công nghệ cao, lựa chọn các hợp đồng xuất khẩu có giá trị cao. Đặc biệt doanh nghiệp phảI theo dõi thường xuyên các động thái của các doanh nghiệp nộI địa và chuẩn bị sẵn sàng các tài liệu khi có nguy cơ bị kiện.

Mục tiêu tận dụng các cơ hội xuất khẩu mà việc gia nhập WTO đem lại là chính đáng và hoàn toàn khả thi. Vấn đề còn lại là làm thế nào để vượt qua những thách thức vốn song hành với những cơ hội này. Cơ chế giám sát xuất khẩu có thể là một giải pháp với điều kiện đó phải là một cơ chế “mở” và “động”!

 

                                                  Th.s Nguyễn Thị Mai Phương

                                                        Viện Khoa học Tài chính

Lượt xem: 3

Phạm vi hợp nhất báo cáo tài chính khu vực công: tiếp cận từ IPSAS 35 và Thông tư 108/2025/TT-BTC

Bài viết phân tích cơ sở xác định phạm vi hợp nhất báo cáo tài chính theo IPSAS 35 và đối chiếu với Thông tư số 108/2025/TT-BTC về lập báo cáo tài chính hợp nhất của đơn vị kế toán hành chính, sự nghiệp. Trọng tâm phân tích là sự khác biệt giữa ranh giới hợp nhất dựa trên quyền kiểm soát theo bản chất kinh tế và ranh giới báo cáo dựa trên cơ cấu tổ chức kế toán. Bằng phương pháp phân tích và đối chiếu văn bản, bài viết cho thấy cần phân biệt quyền lực, lợi ích có thể thay đổi và mối liên hệ giữa hai yếu tố; đồng thời nhận diện các vấn đề về thay đổi tổ chức, tính đầy đủ của phạm vi báo cáo và loại trừ giao dịch nội bộ. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất hàm ý đối với lập báo cáo và kiểm toán khu vực công tại Việt Nam. Từ khóa: IPSAS 35; Thông tư 108/2025/TT-BTC; báo cáo tài chính hợp nhất; phạm vi hợp nhất; quyền kiểm soát; kiểm toán khu vực công. 1. Đặt vấn đề Báo cáo tài chính hợp nhất cung cấp bức tranh về tài sản, nợ phải trả, tài sản thuần, kết quả hoạt động và các luồng tiền của các đơn vị thuộc cùng phạm vi báo cáo. Đối với khu vực công, việc xác định ranh giới này có ý nghĩa đặc biệt bởi nguồn lực công được quản lý thông qua những cơ quan, tổ chức và đơn vị sự nghiệp có cơ chế hoạt động khác nhau. Nếu phạm vi hợp nhất không đầy đủ hoặc thiếu nhất quán, thông tin tài chính có thể không phản ánh đúng nguồn lực và nghĩa vụ thuộc phạm vi quản lý của đơn vị lập báo cáo. Thông tư số 108/2025/TT-BTC ngày 14/11/2025 của Bộ Tài chính hướng dẫn lập báo cáo tài chính hợp nhất của đơn vị kế toán hành chính, sự nghiệp; có hiệu lực từ ngày 01/01/2026, áp dụng cho báo cáo tài chính hợp nhất từ năm tài chính 2025 và thay thế Thông tư số 99/2018/TT-BTC. Quy định mới chuyển trọng tâm từ báo cáo tài chính tổng hợp sang báo cáo tài chính hợp nhất, đồng thời quy định cụ thể trách nhiệm lập báo cáo, danh sách đơn vị trực thuộc và việc loại trừ giao dịch nội bộ (Bộ Tài chính, 2025, Điều 5, 8 và 9). Trong khi đó, IPSAS 35 xác định phạm vi hợp nhất thông qua quan hệ kiểm soát, không chỉ dựa vào cấp quản lý hoặc quan hệ sở hữu. Vấn đề cần phân tích không phải là Việt Nam chưa có khuôn khổ hợp nhất, mà là cách xác định phạm vi báo cáo theo Thông tư 108 có điểm gì khác so với tiêu chí kiểm soát của IPSAS 35 và những khác biệt ấy đặt ra yêu cầu nào đối với lập báo cáo, kiểm toán. Bài viết sử dụng phương pháp phân tích tài liệu và đối chiếu quy phạm; không đưa ra kết luận thực nghiệm về mức độ tuân thủ tại các đơn vị. 2. Phạm vi hợp nhất theo IPSAS 35: Quyền kiểm soát là tiêu chí quyết định IPSAS 35 định nghĩa báo cáo tài chính hợp nhất là báo cáo của một đơn vị kinh tế, trong đó tài sản, nợ phải trả, tài sản thuần/vốn chủ sở hữu, doanh thu, chi phí và các luồng tiền của đơn vị kiểm soát cùng các đơn vị chịu kiểm soát được trình bày như của một đơn vị kinh tế duy nhất (IPSASB, 2025, đoạn 14). Theo đó, việc xác định phạm vi hợp nhất bắt đầu từ việc đánh giá quyền kiểm soát chứ không đơn thuần lập danh sách các đơn vị cùng một cấp ngân sách. Theo đoạn 19–20 của IPSAS 35, một đơn vị kiểm soát đơn vị khác khi đồng thời: có quyền lực đối với đơn vị đó; chịu ảnh hưởng của sự biến động hoặc có quyền đối với những lợi ích có thể thay đổi từ việc tham gia vào đơn vị đó; và có khả năng sử dụng quyền lực để tác động đến bản chất hoặc giá trị của các lợi ích ấy. Đây là ba điều kiện đồng thời, không phải ba dấu hiệu có thể thay thế cho nhau. Quyền lực là các quyền hiện hữu cho phép đơn vị điều hành những hoạt động liên quan, tức các hoạt động ảnh hưởng đáng kể đến bản chất hoặc giá trị lợi ích từ sự tham gia (IPSASB, 2025, đoạn 14, 23). Theo hướng dẫn AG58, lợi ích có thể thay đổi là các lợi ích không cố định, có khả năng biến động do kết quả hoạt động của đơn vị khác; tác động có thể tích cực, tiêu cực hoặc đồng thời cả hai. Lợi ích trong khu vực công còn có thể là phi tài chính, chẳng hạn kết quả cung cấp dịch vụ công, tiết kiệm chi phí hoặc khả năng hoàn thành mục tiêu chính sách (IPSASB, 2025, đoạn 30–33, AG58). Quyền lực cũng không đồng nhất với thẩm quyền quản lý nhà nước. IPSAS 35 nêu rõ sự tồn tại riêng lẻ của quyền quản lý theo pháp luật hoặc sự phụ thuộc về kinh tế không đủ để kết luận một đơn vị có quyền lực đối với đơn vị khác (đoạn 26). Tương tự, việc hai đơn vị có mục tiêu tương đồng không đủ chứng minh quan hệ kiểm soát nếu thiếu khả năng sử dụng quyền lực để điều hành hoạt động của đơn vị kia nhằm thúc đẩy mục tiêu liên quan (đoạn 36). Khi đánh giá, cần xem xét quyền thực chất, quyền bảo vệ, các thỏa thuận ràng buộc và trường hợp bên ra quyết định chỉ hành động với tư cách đại diện. Như vậy, IPSAS 35 định hình ranh giới hợp nhất theo bản chất quan hệ kiểm soát và yêu cầu đánh giá lại khi các dữ kiện làm thay đổi một trong ba yếu tố kiểm soát. Chuẩn mực cũng phân biệt báo cáo tài chính hợp nhất của một đơn vị kinh tế với báo cáo tài chính tổng hợp được lập cho một phạm vi khác theo yêu cầu riêng; trường hợp sau nằm ngoài phạm vi tuân thủ IPSAS 35, dù có thể tham khảo hướng dẫn của chuẩn mực (đoạn 10, 21). 3. Phạm vi hợp nhất theo Thông tư 108/2025/TT-BTC Điểm đáng chú ý của Thông tư 108 là việc xác định đơn vị kế toán cấp trên phải lập báo cáo tài chính hợp nhất căn cứ vào cơ cấu tổ chức bộ máy hiện tại, kể cả khi đơn vị trực thuộc là đơn vị dự toán cấp I, không phụ thuộc vào việc xác định đơn vị dự toán (Điều 1, khoản 3). Theo Điều 3, “đơn vị kinh tế” là đơn vị kế toán cấp trên cao nhất, trong cơ cấu tổ chức gồm các đơn vị kế toán cấp dưới là đơn vị kiểm soát và đơn vị chịu kiểm soát. “Đơn vị kiểm soát” được hiểu là đơn vị kế toán cấp trên được đơn vị kinh tế giao nhiệm vụ lập báo cáo tài chính hợp nhất với vai trò đơn vị kế toán trung gian. Những định nghĩa này phục vụ việc tổ chức trách nhiệm báo cáo, không nên mặc nhiên coi đồng nhất với thuật ngữ tương ứng trong IPSAS 35. Điều 5 quy định phạm vi lập báo cáo ở cấp trung ương, cấp tỉnh và những trường hợp cụ thể tại cấp xã. Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và cơ quan thuộc cấp tỉnh có đơn vị kế toán trực thuộc phải hợp nhất báo cáo của các đơn vị trực thuộc theo quy định. Đối với cấp xã, khi tổ chức kế toán tập trung cho các bộ phận được nêu tại Thông tư, đơn vị kế toán lập một bộ báo cáo tài chính, không phải lập báo cáo tài chính hợp nhất cho phần hoạt động kế toán tập trung đó; các trường hợp có đơn vị kế toán trực thuộc được xử lý theo quy định riêng. Cách quy định này tạo căn cứ xác định trách nhiệm báo cáo phù hợp mô hình tổ chức kế toán (Bộ Tài chính, 2025, Điều 5). Thông tư 108 còn yêu cầu đơn vị kinh tế lập và thông báo danh sách các đơn vị nằm trong phạm vi hợp nhất, thể hiện quan hệ cấp trên - cấp dưới và mã thanh toán nội bộ; danh sách được cập nhật khi có thay đổi. Đồng thời, phạm vi áp dụng của chế độ không bao gồm số liệu hoạt động của Quỹ Bảo hiểm xã hội, Quỹ Bảo hiểm y tế và Quỹ Bảo hiểm thất nghiệp trong báo cáo tài chính hợp nhất của bộ, ngành, địa phương theo Thông tư (Điều 1, khoản 1). Do đó, cần phân biệt rõ phạm vi báo cáo theo chế độ kế toán hành chính, sự nghiệp với phạm vi báo cáo tài chính nhà nước được điều chỉnh tại các văn bản khác (Điều 19, khoản 3). Đối chiếu với IPSAS 35 cho thấy hai văn bản cùng hướng tới trình bày thông tin thống nhất, song điểm xuất phát không hoàn toàn giống nhau. IPSAS 35 xác định ranh giới đơn vị kinh tế trên cơ sở quyền lực, lợi ích có thể thay đổi và khả năng tác động đến lợi ích; Thông tư 108 xác định trách nhiệm và phạm vi hợp nhất gắn với cơ cấu tổ chức của các đơn vị kế toán thuộc đối tượng điều chỉnh. Đây có thể xem là khác biệt về cơ sở xác định phạm vi. Một tình huống cần lưu ý là sự thay đổi cơ cấu tổ chức trong năm. Khoản 4 Điều 5 Thông tư 108 quy định khi chia tách, sáp nhập, hợp nhất hoặc điều chuyển đơn vị trực thuộc, báo cáo hợp nhất của năm có thay đổi được lập từ báo cáo của các đơn vị trực thuộc hiện có tại thời điểm lập báo cáo và phải thuyết minh biến động so với năm trước. Điều 20 có hướng dẫn riêng cho báo cáo năm 2025. Trong khi đó, IPSAS 35 quy định việc hợp nhất một đơn vị bắt đầu khi có quyền kiểm soát và chấm dứt khi quyền kiểm soát kết thúc (đoạn 39). Khác biệt này cần được nhận diện đúng khi phân tích tính so sánh của số liệu, tránh suy diễn trực tiếp từ quy định thời điểm tổ chức báo cáo sang nguyên tắc ghi nhận theo IPSAS. 4. Hàm ý đối với lập báo cáo và kiểm toán khu vực công Thứ nhất, đơn vị lập báo cáo cần quản lý phạm vi hợp nhất như một tập hợp dữ liệu có thể kiểm tra. Danh sách đơn vị trực thuộc phải được đối chiếu với quyết định thành lập, sáp nhập, điều chuyển, phân cấp nhiệm vụ và cấu trúc tổ chức hiện hành; đồng thời lưu vết thời điểm thay đổi và đơn vị chịu trách nhiệm cung cấp báo cáo. Đối với quan hệ tổ chức phức tạp, ba yếu tố kiểm soát của IPSAS 35 có thể sử dụng như khung phân tích bổ trợ, nhưng không thay thế căn cứ pháp lý của Thông tư 108. Thứ hai, cần coi việc xác định đúng phạm vi hợp nhất là điều kiện đầu vào để loại trừ giao dịch nội bộ. Điều 8 và Điều 9 Thông tư 108 đã quy định chính sách kế toán thống nhất, hợp cộng số liệu, đối chiếu và loại bỏ các khoản phải thu, phải trả, đầu tư, doanh thu, chi phí và các luồng tiền nội bộ theo phạm vi được xác định. Nếu bỏ sót một đơn vị thuộc phạm vi hợp nhất, cơ chế đối chiếu giữa các bên có thể không nhận diện đầy đủ giao dịch cần loại trừ. Vì vậy, kiểm soát chất lượng dữ liệu phải bắt đầu từ danh sách đơn vị và mã thanh toán nội bộ, sau đó mới đến đối chiếu chỉ tiêu và bút toán điều chỉnh. Thứ ba, cần nâng chất lượng thuyết minh về thay đổi phạm vi hợp nhất. Khi số lượng hoặc cấu trúc đơn vị báo cáo biến động, người sử dụng cần phân biệt biến động do hoạt động trong năm với biến động do sắp xếp tổ chức. Thuyết minh nên giải thích đơn vị được bổ sung, đơn vị không còn thuộc phạm vi và tác động trọng yếu đến khả năng so sánh; không đưa ra số liệu hoặc tác động định lượng nếu chưa có căn cứ xác nhận. Thứ tư, đối với kiểm toán báo cáo tài chính hợp nhất, phạm vi báo cáo cần được xem là một nội dung đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu. Kiểm toán viên nên đối chiếu danh sách hợp nhất với hồ sơ tổ chức và báo cáo của các đơn vị; kiểm tra tính đầy đủ của việc đưa đơn vị vào phạm vi; xem xét các trường hợp thay đổi trong năm và thử nghiệm đối chiếu giao dịch nội bộ, tính nhất quán chính sách kế toán cùng các điều chỉnh hợp nhất. Cần phân biệt rủi ro do xác định sai phạm vi với rủi ro do xử lý sai số liệu của những đơn vị đã nằm trong phạm vi. Thứ năm, cơ quan quản lý có thể tiếp tục chuẩn hóa mã định danh đơn vị, cấu trúc dữ liệu và quy trình đối chiếu điện tử để hỗ trợ việc lập, tổng hợp và kiểm toán báo cáo. Đây là khuyến nghị tăng cường thực thi Thông tư 108, không phải nhận định rằng Thông tư chưa có quy định về lập danh sách đơn vị, thống nhất chính sách kế toán hoặc loại trừ giao dịch nội bộ. 5. Kết luận Phạm vi hợp nhất là yếu tố quyết định tính đầy đủ và ý nghĩa của báo cáo tài chính hợp nhất khu vực công. IPSAS 35 cung cấp khuôn khổ đánh giá quan hệ kiểm soát dựa trên quyền lực, lợi ích có thể thay đổi và khả năng sử dụng quyền lực tác động đến lợi ích; trong khi Thông tư 108/2025/TT-BTC cụ thể hóa trách nhiệm và ranh giới báo cáo của đơn vị kế toán hành chính, sự nghiệp theo cơ cấu tổ chức. Việc nhận diện đúng sự khác biệt này, kết hợp kiểm soát danh sách đơn vị, giao dịch nội bộ và thuyết minh biến động, có thể góp phần nâng cao chất lượng thông tin và hiệu quả kiểm toán khu vực công. Tài liệu tham khảo 1. Bộ Tài chính (2025). Thông tư số 108/2025/TT-BTC ngày 14/11/2025 hướng dẫn lập báo cáo tài chính hợp nhất của đơn vị kế toán hành chính, sự nghiệp. https://chinhphu.vn/?classid=1&docid=216119&orggroupid=4&pageid=27160; 2. International Public Sector Accounting Standards Board – IPSASB (2025). IPSAS 35: Consolidated Financial Statements (văn bản cập nhật đến năm 2025; ban hành lần đầu năm 2015). https://ifacweb.blob.core.windows.net/publicfiles/2025-04/B08_IPSAS_35.pdf.

Dự thảo thông tư về tài sản cố định: những điểm mới và vấn đề đặt ra

Bài viết trao đổi một số nội dung đáng chú ý trong Dự thảo Thông tư của Bộ Tài chính về quản lý, sử dụng và kế toán tài sản cố định tại doanh nghiệp (bản ngày 05/10/2026). Trên cơ sở phân tích văn bản và đối chiếu với quy định hiện hành, bài viết tập trung vào ranh giới giữa ghi nhận kế toán và khấu hao tính thuế, yêu cầu đánh giá suy giảm giá trị và quy định chuyển tiếp. Các kiến nghị hướng đến việc làm rõ tiêu chí áp dụng, tăng khả năng kiểm chứng các ước tính và bảo đảm tính nhất quán khi chuyển đổi chính sách. Từ khóa: tài sản cố định; khấu hao; suy giảm giá trị; kế toán và thuế; dự thảo thông tư. 1. Đặt vấn đề Thông tư số 45/2013/TT-BTC đã tạo lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc quản lý, sử dụng và trích khấu hao tài sản cố định tại doanh nghiệp. Tuy nhiên, sự thay đổi của môi trường kinh doanh, sự đa dạng của các loại tài sản và yêu cầu nâng cao chất lượng thông tin tài chính đặt ra nhu cầu tiếp tục hoàn thiện các quy định hiện hành. Trong bối cảnh đó, Dự thảo Thông tư ngày 05/10/2026 của Bộ Tài chính không chỉ đề xuất điều chỉnh chế độ quản lý và khấu hao tài sản cố định mà còn mở rộng nội dung hướng dẫn về kế toán tài sản, phân loại tài sản nắm giữ để bán và tài sản hình thành từ các dự án đầu tư theo phương thức đối tác công tư. Đáng chú ý, dự thảo thể hiện xu hướng tăng cường quyền chủ động và trách nhiệm xét đoán của doanh nghiệp trong việc nhận diện, phân loại, xác định thời gian sử dụng hữu ích và đánh giá khả năng thu hồi giá trị tài sản, đồng thời phân định rõ hơn các yêu cầu kế toán với quy định phục vụ mục đích tính thuế. Những thay đổi này đặt ra yêu cầu bảo đảm tính nhất quán giữa các quy định, tính hợp lý của các ước tính kế toán và khả năng kiểm chứng thông tin trên báo cáo tài chính. Trên cơ sở phân tích nội dung dự thảo và đối chiếu với các nguyên tắc kế toán có liên quan, bài viết tập trung làm rõ ba vấn đề: sự phân định giữa tiêu chuẩn ghi nhận tài sản cố định cho mục đích kế toán và mục đích tính thuế; cơ sở xác định và ghi nhận suy giảm giá trị tài sản cố định; và tính rõ ràng, thống nhất của các quy định chuyển tiếp. Từ đó, bài viết đề xuất một số kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện dự thảo, bảo đảm tính khả thi trong áp dụng và nâng cao tính minh bạch, độ tin cậy của thông tin kế toán. 2. Một số điểm mới đáng chú ý Phân loại tài sản cố định và phân định mục đích kế toán – thuế Theo Điều 4 dự thảo, tư liệu lao động được coi là tài sản cố định hữu hình khi chắc chắn đem lại lợi ích kinh tế tương lai và có thời gian sử dụng trên một năm. Đối với tài sản đáp ứng hai tiêu chuẩn này, đơn vị được quyết định phân loại là tài sản cố định hoặc công cụ, dụng cụ tùy đặc điểm hoạt động, nhưng phải công bố danh mục hoặc nguyên tắc phân loại. Như vậy, dự thảo không tiếp tục đặt một ngưỡng tiền tệ thống nhất làm điều kiện bắt buộc để ghi nhận tài sản cố định hữu hình trên sổ kế toán. Ngược lại, Điều 26 dự thảo quy định ngưỡng nguyên giá từ 100 triệu đồng đối với tài sản cố định được khấu hao cho mục đích tính thuế thu nhập doanh nghiệp; tài sản dưới ngưỡng này được tính vào chi phí hoặc phân bổ theo pháp luật thuế. Hai quy định phục vụ hai mục đích khác nhau: một bên là phản ánh tài sản và chi phí trên báo cáo tài chính, một bên là xác định chi phí tính thuế. Vì thế không thể suy luận rằng mọi tài sản dưới 100 triệu đồng đều phải ghi nhận là công cụ, dụng cụ trong kế toán. Điều 6 dự thảo đã yêu cầu theo dõi riêng các chênh lệch giữa khấu hao kế toán và khấu hao phục vụ tính thuế, đồng thời đề cập kế toán thuế thu nhập doanh nghiệp hoãn lại đối với chênh lệch tạm thời theo pháp luật kế toán. Đây là bước phù hợp để tách mục tiêu lập báo cáo tài chính khỏi mục tiêu tính thuế. Tuy nhiên, việc vận dụng đòi hỏi doanh nghiệp có dữ liệu theo dõi song song về nguyên giá, căn cứ khấu hao, thời gian sử dụng và khoản chênh lệch phát sinh. Khấu hao và đánh giá suy giảm giá trị Điều 10-12 dự thảo gắn khấu hao với giá trị phải khấu hao, giá trị thanh lý ước tính và thời gian sử dụng hữu ích của tài sản cố định. Doanh nghiệp được lựa chọn phương pháp phù hợp với cách thức thu hồi lợi ích kinh tế; việc thay đổi phương pháp hoặc thời gian sử dụng cần có căn cứ và thuyết minh. Khác biệt với cách áp dụng máy móc một khung thời gian chung, hướng tiếp cận này chú trọng đặc điểm sử dụng thực tế, nhưng làm tăng vai trò của các ước tính kế toán. Điều 13-14 đề cập dấu hiệu suy giảm giá trị từ môi trường kinh doanh và tình trạng hoạt động của tài sản. Giá trị có thể thu hồi được xác định theo giá cao hơn giữa giá trị hợp lý trừ chi phí bán và giá trị sử dụng; đối với tài sản không tạo dòng tiền độc lập, cần xem xét ở cấp đơn vị tạo tiền. Yêu cầu này bổ sung góc nhìn giá trị kinh tế mà chỉ tiêu khấu hao lũy kế không phản ánh đầy đủ. Đồng thời, nó đòi hỏi chứng cứ về dự báo dòng tiền, giả định tăng trưởng, tỷ lệ chiết khấu và phạm vi nhóm tài sản được thử nghiệm. 3. Một số vấn đề cần làm rõ trong dự thảo Căn cứ để doanh nghiệp tự xác định ngưỡng ghi nhận Việc giao doanh nghiệp quyết định tiêu chí phân loại tài sản cố định có ưu điểm là linh hoạt, nhưng nếu thiếu nguyên tắc bổ trợ có thể làm giảm tính so sánh giữa các doanh nghiệp tương đồng. Ví dụ, hai doanh nghiệp cùng sử dụng một nhóm thiết bị trong nhiều năm có thể ghi nhận khác nhau do lựa chọn ngưỡng nội bộ khác nhau. Dự thảo đã yêu cầu công bố nguyên tắc phân loại tại Điều 4; song chưa làm rõ mức độ ổn định của chính sách và điều kiện được thay đổi ngưỡng phân loại trong các kỳ tiếp theo. Theo đó, nên bổ sung yêu cầu lựa chọn tiêu chí dựa trên tính trọng yếu, đặc điểm sử dụng và tính nhất quán qua các kỳ; mọi thay đổi chính sách cần được lập hồ sơ, giải thích lý do và đánh giá ảnh hưởng theo pháp luật kế toán. Đây không phải đề xuất khôi phục một ngưỡng cứng cho toàn bộ doanh nghiệp, mà là cơ chế bảo đảm quyền tự chủ đi kèm trách nhiệm giải trình. Khi đối chiếu cho mục đích thuế, hệ thống sổ chi tiết cũng cần nhận diện rõ những tài sản được ghi nhận là tài sản cố định kế toán nhưng không thuộc nhóm tài sản cố định khấu hao cho mục đích thuế theo Điều 26. Làm rõ khái niệm và điều kiện ghi nhận suy giảm giá trị Khoản 1 Điều 14 hiện diễn đạt suy giảm giá trị xảy ra khi “giá trị còn lại của tài sản cố định thấp hơn giá trị có thể thu hồi”. Cách viết này đảo ngược chiều so sánh: khi giá trị có thể thu hồi cao hơn giá trị ghi sổ, về nguyên tắc chưa phát sinh khoản lỗ suy giảm giá trị. Đáng chú ý, khoản 3 của chính Điều 14 lại quy định ghi giảm khi giá trị có thể thu hồi thấp hơn giá trị còn lại. Sự không thống nhất nội tại cần được sửa dứt điểm trước khi ban hành, vì liên quan trực tiếp tới thời điểm ghi nhận chi phí và giá trị tài sản trên báo cáo tài chính. Ngoài việc sửa chiều so sánh, cần phân biệt rõ hao mòn hữu hình, khấu hao có hệ thống và lỗ suy giảm giá trị. Cách đặt tên mục “suy giảm giá trị tài sản cố định do hao mòn vô hình” có thể khiến người đọc hiểu rằng chỉ những tổn thất phát sinh do lạc hậu công nghệ mới thuộc phạm vi đánh giá. Trong khi đó, các dấu hiệu tại Điều 13 bao gồm cả thay đổi thị trường, lãi suất, tái cấu trúc hoạt động và kết quả dòng tiền kém dự kiến. Do đó, nên sử dụng thuật ngữ “suy giảm giá trị tài sản cố định” nhất quán, đồng thời mô tả nguyên tắc xác định giá trị có thể thu hồi và đơn vị tạo tiền một cách tách bạch. Về thực thi, khi xác định giá trị sử dụng bằng dòng tiền chiết khấu, cần yêu cầu thuyết minh tối thiểu phương pháp, nguồn dữ liệu, giả định trọng yếu và cơ sở xác định tỷ lệ chiết khấu. Các yêu cầu này giúp tăng khả năng kiểm tra, kiểm toán, hạn chế tình trạng thay đổi ước tính thiếu căn cứ để điều chỉnh lợi nhuận. Đối với doanh nghiệp chưa có khả năng xây dựng mô hình dòng tiền đáng tin cậy, dự thảo nên chỉ rõ cách xử lý và phạm vi sử dụng bằng chứng thay thế phù hợp pháp luật kế toán, thay vì cho phép áp dụng tùy nghi. Tính rõ ràng của quy định chuyển tiếp và hiệu lực Điều 29 dự thảo cho phép tiếp tục quản lý và trích khấu hao các tài sản cố định hiện có, đồng thời quy định một số trường hợp tái phân loại, trong đó có công trình BOT đang ghi nhận là tài sản cố định hữu hình. Điều 30 dự kiến áp dụng từ năm tài chính 2027, bãi bỏ Thông tư 45/2013/TT-BTC và các thông tư sửa đổi năm 2016, 2017, nhưng lại nêu Thông tư 30/2025/TT-BTC tiếp tục có hiệu lực. Thông tư 30/2025 là văn bản bổ sung quy định đặc thù về giãn hoặc tạm hoãn khấu hao đối với một số tài sản nhất định. Vì vậy, vấn đề cần phân tích không chỉ là tên văn bản còn hiệu lực, mà là nội dung quy phạm được kế thừa sẽ được thực hiện trên căn cứ nào sau khi Thông tư 45/2013/TT-BTC bị bãi bỏ. Để tránh cách hiểu khác nhau, đề nghị cơ quan soạn thảo làm rõ phạm vi tiếp tục áp dụng quy định đặc thù của Thông tư 30/2025/TT-BTC, đối tượng được hưởng và mối quan hệ với nguyên tắc khấu hao của thông tư mới. Nếu có chủ trương kế thừa nội dung này, có thể thiết kế điều khoản độc lập hoặc dẫn chiếu minh bạch đến quy định tương ứng, bảo đảm người thực hiện xác định được căn cứ pháp lý trực tiếp. Bên cạnh đó, cần làm rõ yêu cầu xử lý số liệu đầu kỳ, hồ sơ tái phân loại và trường hợp phải trình bày lại số liệu so sánh để doanh nghiệp có thể chuẩn bị trước thời điểm dự kiến áp dụng. 4. Kiến nghị triển khai và kết luận Đối với cơ quan soạn thảo, ba nội dung cần ưu tiên là: (i) quy định rõ điều kiện thay đổi tiêu chí phân loại tài sản cố định do doanh nghiệp lựa chọn; (ii) sửa chiều so sánh tại khoản 1 Điều 14, thống nhất thuật ngữ suy giảm giá trị và yêu cầu chứng cứ định giá; (iii) thiết kế điều khoản chuyển tiếp dễ tra cứu, xác định rõ phần quy định được kế thừa. Với các nội dung có nhiều xét đoán, hướng dẫn kèm ví dụ ngắn về hồ sơ và thuyết minh sẽ hữu ích hơn việc mở rộng danh mục tình huống mà không xác định nguyên tắc áp dụng. Đối với doanh nghiệp, nên chủ động rà soát danh mục tài sản cố định, xây dựng quy chế phân loại và lưu hồ sơ phê duyệt; thiết lập thông tin theo dõi riêng cho mục đích kế toán và thuế; đồng thời chuẩn bị dữ liệu phục vụ ước tính thời gian sử dụng, giá trị thanh lý và khả năng thu hồi. Bộ phận kiểm toán nội bộ hoặc kiểm soát nội bộ cần tập trung vào căn cứ của các ước tính thay vì chỉ kiểm tra phép tính khấu hao. Chỉ khi quyền xét đoán đi kèm cơ chế chứng minh và kiểm tra phù hợp, những thay đổi được đề xuất mới có thể nâng cao chất lượng thông tin tài chính. Tài liệu tham khảo 1. Bộ Tài chính (2013), Thông tư số 45/2013/TT-BTC ngày 25/4/2013 hướng dẫn chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao tài sản cố định. 2. Bộ Tài chính (2025), Thông tư số 30/2025/TT-BTC ngày 30/5/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều tại Thông tư số 45/2013/TT-BTC. 3. Bộ Tài chính (2026), Dự thảo Thông tư hướng dẫn chế độ quản lý, sử dụng đối với tài sản cố định và tài sản đầu tư theo phương thức đối tác công tư tại doanh nghiệp, bản ngày 05/10/2026 (tài liệu dự thảo).

Khơi thông nguồn lực hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số

Mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số đặt ra yêu cầu không chỉ mở rộng quy mô nền kinh tế mà còn phải nâng cao hiệu quả huy động, phân bổ và sử dụng các nguồn lực, đặc biệt là nguồn lực công. Trên nền tảng đó, Kiểm toán nhà nước thông qua kết quả kiểm toán góp phần thúc đẩy các mục tiêu tăng trưởng hiệu quả, bền vững. Tăng trưởng cao đặt ra yêu cầu nâng cao hiệu quả nguồn lực Năm 2025, kinh tế Việt Nam đạt mức tăng trưởng GDP 8,02%, trong đó tốc độ tăng GDP được cải thiện qua từng quý, từ 7,05% trong quý I lên 8,46% trong quý IV. Khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 8,95%, khu vực dịch vụ tăng 8,62%, tiếp tục là những động lực quan trọng của tăng trưởng. Quy mô GDP theo giá hiện hành đạt khoảng 12.847,6 nghìn tỷ đồng, tương đương 514 tỷ USD. Bước sang năm 2026, yêu cầu tăng trưởng được đặt ở mức cao hơn. Chính phủ xác định mục tiêu phấn đấu tăng trưởng GDP từ 10% trở lên; đây đồng thời là định hướng quan trọng cho giai đoạn 2026-2030 với yêu cầu duy trì tốc độ tăng trưởng cao gắn với ổn định kinh tế vĩ mô và nâng cao chất lượng tăng trưởng. Kết quả 6 tháng đầu năm 2026 cho thấy GDP tăng 8,18% so với cùng kỳ năm trước; trong đó công nghiệp và xây dựng tăng 9,81%, dịch vụ tăng 8,09%. Đáng chú ý, vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội đạt khoảng 1.807,8 nghìn tỷ đồng, tăng 12,9% so với cùng kỳ năm 2025. Trong tổng vốn đầu tư này, khu vực Nhà nước đạt 508,3 nghìn tỷ đồng, chiếm 28,1% và tăng 12,5%; khu vực ngoài Nhà nước đạt 973,4 nghìn tỷ đồng, chiếm 53,8%; khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 326,1 nghìn tỷ đồng, chiếm 18,1%. Những con số trên cho thấy để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số, yêu cầu đặt ra không chỉ là huy động thêm vốn mà quan trọng hơn là nâng cao khả năng chuyển hóa nguồn lực thành kết quả phát triển. Nếu nguồn lực được huy động lớn nhưng phân bổ chưa hợp lý, dự án chậm tiến độ, vốn bị phân tán, tài sản sau đầu tư khai thác chưa hiệu quả thì đóng góp thực tế cho tăng trưởng sẽ không tương xứng với nguồn lực đã bỏ ra. Trong các động lực tăng trưởng, đầu tư công có vai trò đặc biệt bởi không chỉ trực tiếp tạo ra các công trình kết cấu hạ tầng mà còn có khả năng dẫn dắt, kích hoạt và thu hút nguồn lực từ khu vực tư nhân. Năm 2025, giải ngân vốn đầu tư công đạt khoảng 755.141,6 tỷ đồng, bằng 83,7% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao, tăng 206.564,1 tỷ đồng về số tuyệt đối so với năm 2024. Trong đó, vốn ngân sách trung ương giải ngân 279.713,9 tỷ đồng, đạt 65,6%; vốn ngân sách địa phương giải ngân 475.427,7 tỷ đồng, đạt 99,9%. Tỷ lệ giải ngân 83,7% cho thấy quy mô nguồn lực được đưa vào nền kinh tế là rất lớn, đồng thời cũng cho thấy còn dư địa đáng kể để nâng cao hiệu quả thực hiện kế hoạch đầu tư công. Đối với mục tiêu tăng trưởng cao, vấn đề không chỉ là “giải ngân nhanh” mà phải là giải ngân đúng, giải ngân có hiệu quả và tạo ra năng lực sản xuất mới. Từ kiến nghị kiểm toán đến việc giải phóng nguồn lực cho tăng trưởng Báo cáo tổng hợp kết quả kiểm toán năm 2025 của Kiểm toán nhà nước cho thấy, thông qua 231 Báo cáo kiểm toán của 126 nhiệm vụ kiểm toán, Kiểm toán nhà nước đã cung cấp một lượng thông tin lớn phục vụ đánh giá việc quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước và các nguồn lực công. Đối với niên độ ngân sách nhà nước năm 2024, kết quả kiểm toán đã kiến nghị tăng thu, giảm chi ngân sách nhà nước 21.798,7 tỷ đồng và 1.728.752,09 USD; các kiến nghị khác về xử lý tài chính là 19.450 tỷ đồng và 127.513.717,8 USD. Bên cạnh kiến nghị xử lý tài chính, Kiểm toán nhà nước còn kiến nghị hủy bỏ, thay thế, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới 166 văn bản, trong đó có 1 luật, 11 nghị định, 2 quyết định của Thủ tướng Chính phủ, 18 thông tư và 134 văn bản khác. Như vậy, giá trị của hoạt động kiểm toán không chỉ thể hiện ở số tiền kiến nghị xử lý mà còn nằm ở việc phát hiện những bất cập của cơ chế, chính sách và phương thức quản lý nguồn lực. Nếu một kiến nghị sửa đổi chính sách được thực hiện, tác động của nó có thể vượt ra ngoài phạm vi của một đơn vị được kiểm toán và ảnh hưởng đến việc quản lý, sử dụng nguồn lực trên phạm vi rộng hơn. Một trong những vấn đề cần được quan tâm trong quá trình thúc đẩy tăng trưởng cao là mức độ thực hiện các kiến nghị kiểm toán. Đối với niên độ ngân sách năm 2023, đến thời điểm tổng hợp, số kiến nghị đã thực hiện đạt 27.507,34 tỷ đồng trên tổng số 31.093,33 tỷ đồng, tương ứng 88,47%. Trong đó, tỷ lệ thực hiện kiến nghị tăng thu, giảm chi đạt 93,88%; các kiến nghị khác đạt 82,67%. Tuy nhiên, đến cuối năm 2025, tổng số kiến nghị tài chính và kiến nghị khác còn tồn đọng chưa thực hiện đối với các niên độ từ năm 2023 trở về trước vẫn ở mức 54.860,90 tỷ đồng. Theo báo cáo, nguyên nhân chủ yếu thuộc về các đơn vị được kiểm toán, bên cạnh những nguyên nhân liên quan đến bên thứ ba, cơ chế chính sách, thủ tục phê duyệt và khả năng cân đối nguồn lực. Từ góc độ tăng trưởng, đây không đơn thuần là vấn đề thực hiện một kết luận hoặc kiến nghị kiểm toán. Những khoản kiến nghị chưa được thực hiện đầy đủ có thể được nhìn nhận như một phần nguồn lực chưa được giải phóng và đưa trở lại phục vụ các mục tiêu phát triển. Do đó, nâng cao tỷ lệ thực hiện kiến nghị kiểm toán cần được xem là một nội dung góp phần tăng cường hiệu quả quản trị tài chính công. Điều này cũng đặt ra yêu cầu đối với Kiểm toán nhà nước phải quan tâm nhiều hơn đến nguyên nhân gốc rễ của các tồn tại. Kiểm toán cần làm rõ vì sao nguồn lực chưa được sử dụng hiệu quả, vướng mắc nằm ở khâu nào, thuộc trách nhiệm của chủ thể nào và cần thay đổi cơ chế, quy trình hay phương thức tổ chức thực hiện ra sao. Khi kiến nghị kiểm toán gắn với giải pháp xử lý nguyên nhân, giá trị của kiểm toán sẽ được chuyển hóa từ phát hiện vấn đề sang thúc đẩy thay đổi và giải phóng nguồn lực. Đổi mới hoạt động kiểm toán hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số Mục tiêu tăng trưởng hai con số đòi hỏi hoạt động kiểm toán tiếp tục chuyển mạnh từ việc kiểm tra tính đúng đắn, hợp pháp của các khoản thu, chi sang đánh giá sâu hơn về tính kinh tế, hiệu lực và hiệu quả của việc sử dụng nguồn lực. Theo đó, cần tăng cường kiểm toán hoạt động, kiểm toán chuyên đề, kiểm toán các chương trình, dự án lớn và những chính sách có tác động trực tiếp đến tăng trưởng. Trọng tâm kiểm toán có thể hướng vào các lĩnh vực sử dụng nguồn lực lớn và có sức lan tỏa như đầu tư công, kết cấu hạ tầng chiến lược, đất đai, tài sản công, doanh nghiệp nhà nước, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Đặc biệt, trong bối cảnh vốn đầu tư toàn xã hội 6 tháng đầu năm 2026 tăng 12,9%, việc đánh giá hiệu quả đầu tư cần được đặt ngang với yêu cầu về tiến độ giải ngân. Kiểm toán cần trả lời không chỉ câu hỏi “vốn đã được giải ngân đúng quy định chưa?” mà còn phải làm rõ “vốn đã tạo ra kết quả và năng lực phát triển tương xứng chưa?”. Cùng với đó, việc ứng dụng dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo và các công cụ phân tích dữ liệu trong hoạt động kiểm toán sẽ giúp nâng cao khả năng nhận diện rủi ro, phân tích xu hướng và lựa chọn trọng tâm kiểm toán. Đây là hướng đi cần thiết để Kiểm toán nhà nước có thể theo dõi tốt hơn những dòng nguồn lực lớn, các dự án có tác động lan tỏa và những chính sách có ảnh hưởng đến tăng trưởng. Kết luận Tăng trưởng kinh tế hai con số đặt ra yêu cầu cao đối với khả năng huy động và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực của nền kinh tế. Kết quả GDP tăng 8,02% năm 2025 và 8,18% trong 6 tháng đầu năm 2026, cùng với mức tăng 12,9% của vốn đầu tư toàn xã hội, cho thấy nền kinh tế đang huy động lượng nguồn lực lớn để tạo động lực phát triển. Tuy nhiên, để chuyển từ mức tăng trưởng cao sang tăng trưởng hai con số một cách bền vững, vấn đề cốt lõi là nâng cao hiệu quả sử dụng từng đồng vốn, từng tài sản và từng nguồn lực. Trong quá trình đó, Kiểm toán nhà nước có vai trò quan trọng thông qua kiểm toán việc quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công; kiến nghị xử lý tài chính; kiến nghị hoàn thiện cơ chế, chính sách; đồng thời nhận diện những điểm nghẽn làm hạn chế hiệu quả sử dụng nguồn lực. Vì vậy, đóng góp của Kiểm toán nhà nước đối với tăng trưởng không nên chỉ được nhìn nhận qua số tiền kiến nghị xử lý, mà cần được nhìn nhận rộng hơn ở khả năng nâng cao kỷ luật, kỷ cương tài chính; giải phóng nguồn lực; cải thiện chất lượng đầu tư công; hoàn thiện thể chế và nâng cao hiệu quả quản trị quốc gia. Đây chính là hướng phát triển để hoạt động kiểm toán ngày càng gắn chặt hơn với yêu cầu tăng trưởng nhanh, bền vững và nâng cao chất lượng phát triển của nền kinh tế.

Minh bạch thông tin tài chính sau nâng hạng thị trường chứng khoán: Những vấn đề đặt ra đối với chất lượng kiểm toán tại Việt Nam

Việc thị trường chứng khoán Việt Nam chính thức được FTSE Russell nâng hạng từ thị trường cận biên lên thị trường mới nổi thứ cấp từ ngày 21/9/2026, mở ra cơ hội thu hút dòng vốn quốc tế và nâng cao vai trò của thị trường vốn trong nền kinh tế. Tuy nhiên, nâng hạng cũng đồng nghĩa với “nâng hạng về kỳ vọng”: nhà đầu tư quốc tế đòi hỏi chất lượng công bố thông tin, quản trị doanh nghiệp và độ tin cậy của báo cáo tài chính ở mức cao hơn. Trong bối cảnh đó, chất lượng kiểm toán độc lập không còn đơn thuần là vấn đề tuân thủ mà trở thành một cấu phần quan trọng của hạ tầng niềm tin thị trường. Bài viết phân tích những sức ép mới đối với hoạt động kiểm toán tại Việt Nam và đề xuất một số định hướng chính sách nhằm nâng chất lượng kiểm toán tương xứng với vị thế mới của thị trường chứng khoán. Từ khóa: thị trường chứng khoán, nâng hạng, minh bạch tài chính, kiểm toán độc lập, chất lượng kiểm toán, nhà đầu tư. Từ nâng hạng thị trường đến nâng chuẩn minh bạch Ngày 21/9/2026 đánh dấu một bước chuyển quan trọng khi Việt Nam chính thức được FTSE Russell chuyển từ thị trường cận biên sang thị trường mới nổi thứ cấp và bắt đầu tham gia FTSE Global Equity Index Series. Theo kế hoạch của FTSE Russell, quá trình đưa cổ phiếu Việt Nam vào các chỉ số toàn cầu được triển khai theo bốn đợt: 10% trọng số có thể đầu tư trong tháng 9/2026, thêm 20% vào tháng 3/2027, 35% vào tháng 6/2027 và 35% còn lại vào tháng 9/2027. Ý nghĩa của sự kiện này không chỉ nằm ở khả năng thu hút thêm dòng vốn. FTSE Russell hiện cung cấp các chỉ số được sử dụng làm chuẩn tham chiếu cho hơn 22 nghìn tỷ USD tài sản trên toàn cầu. Khi chứng khoán Việt Nam đi sâu hơn vào hệ thống các chỉ số quốc tế, doanh nghiệp niêm yết cũng đồng thời bước vào “tầm ngắm” thường xuyên hơn của các quỹ đầu tư tổ chức, công ty quản lý tài sản, ngân hàng lưu ký và các nhà phân tích chuyên nghiệp. Quy mô thị trường càng lớn thì hệ quả của thông tin sai lệch càng lớn. Cuối năm 2025, vốn hóa thị trường cổ phiếu trên HOSE, HNX và UPCoM đạt khoảng 9.975 nghìn tỷ đồng, tăng 39,1% so với cuối năm 2024 và tương đương khoảng 77,6% GDP ước tính năm 2025. Đến ngày 30/6/2026, vốn hóa tiếp tục đạt khoảng 10,6 triệu tỷ đồng. Do đó, sau nâng hạng, vấn đề cốt lõi không còn chỉ là thị trường “lớn đến đâu”, mà là thông tin định giá hàng chục triệu tỷ đồng tài sản tài chính đáng tin cậy đến mức nào. Cần đặc biệt lưu ý rằng việc FTSE Russell nâng hạng chủ yếu phản ánh những tiến bộ về khả năng tiếp cận thị trường, cơ chế giao dịch, thanh toán, mô hình nhà môi giới toàn cầu và việc tháo gỡ yêu cầu ký quỹ trước đối với nhà đầu tư tổ chức nước ngoài. Nâng hạng không có nghĩa FTSE Russell đã “chứng nhận” toàn bộ chất lượng báo cáo tài chính hoặc chất lượng kiểm toán của doanh nghiệp Việt Nam. Chính vì vậy, sau khi nút thắt về khả năng tiếp cận thị trường từng bước được tháo gỡ, chất lượng thông tin doanh nghiệp có thể trở thành một trong những nút thắt tiếp theo quyết định chất lượng thực chất của thị trường mới nổi Việt Nam. Minh bạch không chỉ là công bố nhiều thông tin hơn Việt Nam đã có bước tiến quan trọng về công bố thông tin. Theo Thông tư số 68/2024/TT-BTC, từ ngày 01/01/2025, tổ chức niêm yết và công ty đại chúng quy mô lớn phải công bố thông tin định kỳ đồng thời bằng tiếng Anh. Từ ngày 01/01/2026, yêu cầu này được mở rộng sang thông tin bất thường, thông tin theo yêu cầu và các hoạt động khác. Lộ trình tiếp tục mở rộng tới các công ty đại chúng còn lại vào năm 2027 và 2028. Đây là thay đổi cần thiết để giảm bất cân xứng thông tin giữa nhà đầu tư trong nước và nước ngoài. Nhưng cần phân biệt công bố thông tin với minh bạch thông tin. Một doanh nghiệp có thể công bố đúng hạn hàng trăm trang tài liệu nhưng nhà đầu tư vẫn khó đánh giá nếu các giả định kế toán thiếu căn cứ, giao dịch với bên liên quan chưa được phản ánh đầy đủ, dòng tiền không tương xứng với lợi nhuận, tài sản được định giá dựa trên những giả định khó kiểm chứng hoặc báo cáo tiếng Anh không hoàn toàn thống nhất về nội dung với bản tiếng Việt. Thực tế cho thấy khoảng cách này vẫn tồn tại. Tại Hội nghị Doanh nghiệp thường niên năm 2025, HNX cho biết tỷ lệ vi phạm công bố thông tin định kỳ trên thị trường niêm yết dao động khoảng 4,3%-5% tổng số tin định kỳ, trong khi trên UPCoM lên tới 14%-15%. Một số cổ phiếu bị đưa vào diện theo dõi do chậm công bố báo cáo tài chính, báo cáo tài chính bị kiểm toán từ chối đưa ra ý kiến, có ý kiến trái ngược hoặc ý kiến ngoại trừ. Những con số đó cho thấy yêu cầu sau nâng hạng phải chuyển từ tư duy “có công bố hay không” sang “thông tin được công bố có đủ tin cậy để nhà đầu tư ra quyết định hay không”. Và đây chính là điểm chất lượng kiểm toán trở nên đặc biệt quan trọng. Chất lượng kiểm toán phải trở thành một bộ phận của hạ tầng thị trường vốn Trong một thị trường mới nổi có mức độ hội nhập cao hơn, báo cáo kiểm toán không thể chỉ được nhìn như thủ tục cuối cùng trước khi doanh nghiệp hoàn thành nghĩa vụ công bố báo cáo tài chính. Chức năng kinh tế quan trọng nhất của kiểm toán là làm giảm rủi ro thông tin giữa doanh nghiệp huy động vốn và người cung cấp vốn. Nếu thị trường không tin vào chất lượng số liệu, nhà đầu tư sẽ yêu cầu một “phần bù rủi ro thông tin” cao hơn. Chi phí vốn của doanh nghiệp vì vậy có thể tăng, định giá bị chiết khấu và lợi ích của nâng hạng bị giảm bớt. Ngược lại, báo cáo tài chính có độ tin cậy cao giúp thị trường định giá tài sản tốt hơn, dòng vốn được phân bổ hiệu quả hơn và những doanh nghiệp quản trị tốt có cơ hội tiếp cận vốn với chi phí hợp lý hơn. Trong giai đoạn mới, ít nhất bốn nhóm vấn đề đặt ra trực tiếp đối với chất lượng kiểm toán Việt Nam. Trước hết là chất lượng đánh giá những khoản mục chứa nhiều xét đoán và ước tính kế toán. Khi doanh nghiệp ngày càng mở rộng sang bất động sản, ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm, năng lượng, công nghệ và các công cụ tài chính phức tạp, kiểm toán viên phải đối diện nhiều hơn với giá trị hợp lý, dự phòng tổn thất, suy giảm giá trị tài sản, ghi nhận doanh thu, vốn hóa chi phí, định giá tài sản tài chính và giả định hoạt động liên tục. Đây là những khu vực mà sai lệch đôi khi không xuất hiện dưới hình thức một con số “sai” rõ ràng, mà nằm trong việc lựa chọn giả định quá lạc quan. Thứ hai là giao dịch với bên liên quan và cấu trúc sở hữu phức tạp. Đối với nhà đầu tư quốc tế, lợi ích của cổ đông thiểu số, giao dịch nội bộ, chuyển giao tài sản, cho vay và bảo lãnh giữa các bên có liên quan là những vấn đề được xem xét rất kỹ. Kiểm toán vì vậy phải đi xa hơn kiểm tra chứng từ đơn lẻ, hướng tới nhận diện bản chất kinh tế của giao dịch, chủ thể hưởng lợi cuối cùng và những giao dịch có khả năng làm sai lệch bức tranh tài chính. Thứ ba là rủi ro gian lận và khả năng duy trì tính độc lập nghề nghiệp. Chất lượng kiểm toán sẽ khó được bảo đảm nếu thời gian kiểm toán quá ngắn, phí kiểm toán không tương xứng với mức độ phức tạp, doanh nghiệp kiểm toán phụ thuộc kinh tế quá lớn vào một khách hàng hoặc quan hệ cung cấp dịch vụ phi kiểm toán làm suy giảm tính độc lập. Đây không chỉ là vấn đề đạo đức nghề nghiệp mà còn là bài toán thiết kế thị trường dịch vụ kiểm toán. Thứ tư là năng lực kiểm toán trong môi trường số. Khi hệ thống KRX (hệ thống công nghệ thông tin mới phục vụ giao dịch, thanh toán, bù trừ và quản lý thị trường chứng khoán)đã đi vào vận hành, giao dịch chứng khoán và quản trị doanh nghiệp ngày càng dựa trên hệ thống ERP (hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp) dữ liệu lớn, nền tảng số và xử lý tự động, kiểm toán dựa quá nhiều vào chọn mẫu chứng từ truyền thống sẽ ngày càng bộc lộ hạn chế. Kiểm toán viên phải có khả năng đánh giá kiểm soát công nghệ thông tin, phân tích dữ liệu toàn bộ quần thể giao dịch, phát hiện giao dịch bất thường và kiểm tra tính toàn vẹn của dữ liệu. Áp lực nguồn lực cũng đáng lưu ý. Trong quá trình xây dựng quy định mới năm 2026, Bộ Tài chính cho biết có khoảng 230 doanh nghiệp kiểm toán được lấy ý kiến đối với dự án sửa đổi Luật Kế toán và Luật Kiểm toán độc lập; trong một hồ sơ chính sách khác, Bộ Tài chính xác định 35 doanh nghiệp kiểm toán đang được chấp thuận thực hiện kiểm toán cho đơn vị có lợi ích công chúng. Điều đó cho thấy kiểm toán các đơn vị có lợi ích công chúng là một phân khúc đòi hỏi điều kiện và năng lực cao hơn đáng kể so với thị trường kiểm toán nói chung. Cần chuyển từ “kiểm soát tuân thủ” sang “giám sát chất lượng kiểm toán dựa trên rủi ro” Trong giai đoạn sau nâng hạng, chính sách đối với kiểm toán cần được nhìn như một phần của chính sách phát triển thị trường vốn. Trước hết, cần đẩy nhanh việc cập nhật hệ thống chuẩn mực kiểm toán và chuẩn mực quản lý chất lượng theo thông lệ quốc tế. Bộ Tài chính đã xây dựng Dự thảo 31 chuẩn mực kiểm toán Việt Nam mới và 2 chuẩn mực quản lý chất lượng, với định hướng áp dụng từ năm 2027. Đây là bước đi rất quan trọng bởi mô hình quản lý chất lượng hiện đại không chỉ yêu cầu doanh nghiệp kiểm toán kiểm tra hồ sơ sau khi hoàn thành mà phải chủ động xác định, đánh giá và xử lý rủi ro chất lượng ngay từ cấp độ doanh nghiệp kiểm toán. Thứ hai, cần tăng cường giám sát dựa trên rủi ro đối với kiểm toán doanh nghiệp niêm yết và đơn vị có lợi ích công chúng. Thay vì phân bổ nguồn lực kiểm tra tương đối đồng đều, cơ quan quản lý có thể tập trung vào các doanh nghiệp có tốc độ tăng trưởng bất thường, giao dịch bên liên quan lớn, thay đổi kiểm toán viên thường xuyên, chênh lệch lớn giữa lợi nhuận và dòng tiền, ý kiến kiểm toán biến động qua các năm hoặc hoạt động trong ngành có mức độ ước tính kế toán cao. Kết quả kiểm tra chất lượng cũng nên được công khai ở mức phù hợp theo hướng cung cấp cho thị trường những chỉ báo tổng hợp về loại sai sót phổ biến, mức độ khắc phục và xu hướng chất lượng của ngành kiểm toán. Minh bạch về chất lượng kiểm toán sẽ tạo áp lực thị trường để doanh nghiệp niêm yết lựa chọn kiểm toán viên dựa trên năng lực thay vì chủ yếu dựa vào mức phí. Thứ ba, cần nâng vai trò của Ủy ban kiểm toán và hội đồng quản trị độc lập trong việc lựa chọn, giám sát và đánh giá kiểm toán độc lập. Quan hệ giữa kiểm toán viên với doanh nghiệp không nên chỉ là quan hệ giữa bên cung cấp và bên mua dịch vụ. Người sử dụng thực sự của báo cáo kiểm toán là cổ đông và thị trường. Vì vậy, cơ chế lựa chọn kiểm toán viên phải giảm khả năng ban điều hành gây ảnh hưởng đến người có trách nhiệm kiểm tra chính báo cáo do ban điều hành lập ra. Thứ tư, phải gắn cải cách kiểm toán với lộ trình hội nhập chuẩn mực kế toán quốc tế. Năm 2026, Bộ Tài chính tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý về áp dụng chuẩn mực quốc tế về kế toán tại Việt Nam. Khi doanh nghiệp từng bước tiếp cận IFRS, kiểm toán viên cũng phải đủ năng lực xử lý các mô hình định giá, công cụ tài chính, hợp nhất kinh doanh, suy giảm giá trị và công bố thông tin theo thông lệ quốc tế. Thứ năm, cần đặt ra chuẩn cao hơn đối với tính nhất quán giữa thông tin tài chính tiếng Việt và tiếng Anh. Công bố bằng tiếng Anh không đơn thuần là dịch thuật. Những khái niệm kế toán, giải trình ý kiến kiểm toán, vấn đề kiểm toán trọng yếu và thuyết minh rủi ro nếu được chuyển ngữ không chính xác có thể dẫn nhà đầu tư nước ngoài tới cách hiểu khác. Đây là một khía cạnh mới của rủi ro thông tin cần được doanh nghiệp, kiểm toán viên và cơ quan quản lý quan tâm. Đồng thời, đối với các doanh nghiệp nhà nước đã niêm yết hoặc doanh nghiệp có vốn nhà nước lớn, cần tăng hiệu quả phối hợp và chia sẻ tín hiệu rủi ro giữa cơ quan quản lý chứng khoán, cơ quan quản lý kế toán - kiểm toán, Kiểm toán nhà nước và kiểm toán độc lập, trên nguyên tắc rõ chức năng và không làm phát sinh kiểm tra chồng chéo. Nâng hạng bền vững phải bắt đầu từ nâng chất lượng niềm tin Chiến lược phát triển thị trường chứng khoán đến năm 2030 đặt mục tiêu quy mô vốn hóa thị trường cổ phiếu đạt 120% GDP vào năm 2030. Nhưng một thị trường vốn phát triển không thể chỉ được đo bằng vốn hóa, số tài khoản hay thanh khoản. Giá trị sâu xa của thị trường nằm ở khả năng chuyển tiết kiệm thành đầu tư dựa trên thông tin đáng tin cậy. Vì vậy, sau ngày 21/9/2026, câu hỏi cần đặt ra không nên chỉ là “nâng hạng sẽ mang thêm bao nhiêu vốn vào Việt Nam?”, mà phải là “Việt Nam sẽ làm gì để giữ được niềm tin của dòng vốn đó?” Câu trả lời nằm một phần rất quan trọng ở chất lượng kiểm toán. Nếu nâng hạng thị trường giúp Việt Nam mở rộng cánh cửa với dòng vốn quốc tế, thì minh bạch tài chính và kiểm toán chất lượng cao chính là nền móng để cánh cửa ấy duy trì mở trong dài hạn. Một thị trường mới nổi thực sự không chỉ cần hệ thống giao dịch hiện đại, cơ chế thanh toán thuận lợi hay khả năng tiếp cận tốt hơn đối với nhà đầu tư nước ngoài, mà còn cần một hạ tầng niềm tin đủ mạnh. Trong hạ tầng đó, doanh nghiệp chịu trách nhiệm về tính trung thực của báo cáo tài chính; hội đồng quản trị và ủy ban kiểm toán chịu trách nhiệm giám sát; kiểm toán độc lập cung cấp sự bảo đảm nghề nghiệp; cơ quan quản lý giám sát chất lượng và xử lý vi phạm; còn thị trường thực hiện chức năng định giá. Khi từng mắt xích vận hành đúng vai trò, nâng hạng mới có thể chuyển hóa từ một danh xưng quốc tế thành năng lực thực sự của thị trường vốn Việt Nam. Và xét ở góc độ đó, nâng cao chất lượng kiểm toán sau nâng hạng không phải là yêu cầu riêng của ngành kiểm toán, mà là điều kiện để bảo vệ nhà đầu tư, giảm chi phí vốn, nâng hiệu quả phân bổ nguồn lực và củng cố sự phát triển bền vững của thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn mới. Tài liệu tham khảo 1. FTSE Russell. (2026). Reclassification of Vietnam from Frontier to Secondary Emerging Market Status - FAQ. LSEG,  tháng 4 năm 2026; 2.  Bộ Tài chính. (2024). Thông tư số 68/2024/TT-BTC sửa đổi, bổ sung một số điều của các Thông tư quy định về giao dịch chứng khoán trên hệ thống giao dịch chứng khoán; bù trừ và thanh toán giao dịch chứng khoán; hoạt động của công ty chứng khoán và công bố thông tin trên thị trường chứng khoán, ngày 18 tháng 9 năm 2024; 3. Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội. (2025). Hội nghị Doanh nghiệp thường niên năm 2025; 4. Bộ Tài chính - Cục Quản lý, giám sát kế toán, kiểm toán. (2025-2026). Dự thảo Thông tư ban hành 31 Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam và Dự thảo Thông tư ban hành 02 Chuẩn mực quản lý chất lượng Việt Nam.; 5.  Thủ tướng Chính phủ. (2023). Quyết định số 1726/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển thị trường chứng khoán đến năm 2030,  ngày 29 tháng 12 năm 2023.

Kiểm soát rủi ro trong giải ngân đầu tư công quy mô lớn: yêu cầu đổi mới hoạt động kiểm toán giai đoạn 2026-2030

         Giai đoạn 2026–2030, đầu tư công tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong phát triển kết cấu hạ tầng, tạo động lực tăng trưởng và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Với quy mô vốn đầu tư công rất lớn, cùng yêu cầu đẩy nhanh tiến độ thực hiện và giải ngân, rủi ro không chỉ nằm ở tình trạng chậm giải ngân mà còn ở nguy cơ chạy theo tiến độ, làm phát sinh thất thoát, lãng phí, tăng tổng mức đầu tư, giảm chất lượng công trình và hiệu quả sử dụng vốn. Bài viết phân tích các nhóm rủi ro chủ yếu trong toàn bộ chu trình đầu tư công, từ quyết định đầu tư, đấu thầu, thực hiện dự án đến thanh toán, quyết toán và khai thác công trình; đồng thời đề xuất đổi mới hoạt động kiểm toán theo hướng dựa trên rủi ro, tăng cường kiểm toán hoạt động, ứng dụng dữ liệu số và thiết lập cơ chế cảnh báo sớm. Trọng tâm là chuyển từ kiểm toán chủ yếu phát hiện sai phạm sau khi xảy ra sang góp phần phòng ngừa rủi ro, nâng cao trách nhiệm giải trình và giá trị đồng tiền của nguồn lực công.           Từ khóa: Đầu tư công; giải ngân; kiểm toán; kiểm soát rủi ro; kiểm toán hoạt động; hiệu quả đầu tư.           Áp lực giải ngân lớn và yêu cầu kiểm soát rủi ro mới           Giai đoạn 2026–2030 mở ra một chu kỳ đầu tư công có quy mô lớn. Quốc hội đã quyết định tổng mức vốn kế hoạch đầu tư công trung hạn nguồn ngân sách nhà nước giai đoạn 2026–2030 là 8,22 triệu tỷ đồng, trong đó ngân sách trung ương 3,8 triệu tỷ đồng và ngân sách địa phương 4,42 triệu tỷ đồng. Mục tiêu đặt ra là đưa tỷ trọng vốn đầu tư công lên khoảng 20–22% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, đồng thời phấn đấu tỷ lệ giải ngân hằng năm trên 95%. Riêng năm 2026, tổng kế hoạch vốn đầu tư công được giao đã vượt 1 triệu tỷ đồng. Đến hết tháng 8/2026, tỷ lệ giải ngân mới đạt xấp xỉ một nửa kế hoạch. Điều này đồng nghĩa với việc một khối lượng vốn rất lớn tiếp tục phải được đưa vào nền kinh tế trong những tháng còn lại. Trong bối cảnh đó, yêu cầu đẩy nhanh giải ngân là cần thiết. Đầu tư công chậm làm giảm hiệu quả sử dụng ngân sách, kéo dài thời gian thi công, gia tăng chi phí cơ hội và hạn chế khả năng dẫn dắt đầu tư xã hội. Tuy nhiên, nhìn từ góc độ kiểm toán, vấn đề không chỉ là giải ngân chậm. Khi chỉ tiêu giải ngân trở thành áp lực quá lớn, nguy cơ xuất hiện tâm lý “giải ngân bằng mọi giá” cũng cần được nhận diện. Áp lực hoàn thành kế hoạch có thể dẫn đến việc đẩy nhanh nghiệm thu, thanh toán khi hồ sơ chưa thật sự đầy đủ; điều chỉnh khối lượng, đơn giá hoặc hợp đồng chưa chặt chẽ; lựa chọn nhà thầu chưa đáp ứng đầy đủ năng lực; hay ưu tiên tiến độ trước mắt hơn chất lượng và hiệu quả dài hạn của công trình. Do đó, bài toán của giai đoạn 2026–2030 phải được đặt đầy đủ hơn: không chỉ giải ngân nhanh, mà phải giải ngân đúng, an toàn, tiết kiệm và tạo ra hiệu quả kinh tế - xã hội tương xứng với nguồn lực đã bỏ ra. Đây chính là điểm đặt ra yêu cầu phải đổi mới hoạt động kiểm toán nhà nước.           Rủi ro hình thành từ toàn bộ vòng đời dự án           Một hạn chế thường gặp trong quản lý đầu tư công là tập trung kiểm soát quá nhiều ở khâu thanh toán, quyết toán, trong khi nhiều nguyên nhân gây thất thoát và lãng phí đã hình thành từ trước đó.           Trước hết là rủi ro trong quyết định đầu tư. Nếu việc xác định nhu cầu đầu tư chưa chính xác, phương án kỹ thuật chưa tối ưu, dự báo lưu lượng hoặc nhu cầu sử dụng chưa sát thực tế, tổng mức đầu tư tính toán thiếu căn cứ thì rủi ro đã xuất hiện ngay từ giai đoạn chuẩn bị dự án.Một dự án được lựa chọn không đúng ưu tiên có thể vẫn giải ngân đầy đủ và đúng quy trình nhưng hiệu quả xã hội thấp. Ngược lại, một dự án thật sự cấp thiết nhưng chuẩn bị đầu tư không tốt có thể liên tục điều chỉnh, kéo dài tiến độ và đội vốn. Vì vậy, kiểm toán đầu tư công cần quan tâm nhiều hơn tới câu hỏi: Dự án có thực sự cần thiết hay không? Quy mô đầu tư có hợp lý không? Lợi ích dự kiến có tương xứng với chi phí ngân sách bỏ ra hay không? Nhóm rủi ro thứ hai nằm ở đấu thầu và quản lý hợp đồng. Khi hàng loạt dự án lớn được triển khai cùng thời điểm, năng lực nhà thầu, nguồn cung nhân công, thiết bị và vật liệu đều chịu áp lực. Rủi ro không chỉ là thông thầu, gian lận hoặc vi phạm quy trình đấu thầu, mà còn có thể xuất hiện ở việc chọn nhà thầu chào giá thấp nhưng năng lực thực hiện hạn chế, dẫn đến chậm tiến độ và phát sinh điều chỉnh sau đó. Đặc biệt cần chú ý đến tình trạng tăng khối lượng, điều chỉnh hợp đồng, bổ sung hạng mục hoặc thay đổi thiết kế sau đấu thầu. Đây là những khu vực có mức độ rủi ro cao đối với chi phí đầu tư.           Nhóm rủi ro thứ ba liên quan đến giải phóng mặt bằng, vật liệu và điều kiện thi công. Nhiều dự án giao thông lớn phụ thuộc mạnh vào tiến độ bàn giao mặt bằng, nguồn cát, đá, đất đắp và sự phối hợp giữa nhiều địa phương. Chậm ở một khâu có thể làm chậm cả dự án. Khi phải bù tiến độ trong thời gian ngắn, nguy cơ chi phí tăng, quản lý chất lượng không chặt hoặc thay đổi phương án thi công cũng tăng theo.           Nhóm rủi ro thứ tư là dồn giải ngân vào cuối năm. Nếu phần lớn vốn được giải ngân trong thời gian ngắn, cơ quan quản lý dễ tập trung vào tỷ lệ hoàn thành kế hoạch vốn mà xem nhẹ chất lượng của khối lượng đã nghiệm thu.           Ở đây cần phân biệt rõ: giải ngân là đầu vào tài chính, không phải kết quả cuối cùng của đầu tư công. Một dự án có thể giải ngân hết vốn nhưng nếu chậm khai thác, công suất sử dụng thấp, chi phí duy tu cao hoặc không tạo ra lợi ích kinh tế - xã hội như dự kiến thì chưa thể coi là thành công.           Kiểm toán cần chuyển mạnh sang phương pháp dựa trên rủi ro           Trước quy mô đầu tư công ngày càng lớn, hoạt động kiểm toán không thể dàn đều nguồn lực cho mọi chương trình, dự án. Kế hoạch kiểm toán năm 2026 của Kiểm toán nhà nước đã tập trung hơn vào các chuyên đề, dự án quan trọng quốc gia và những lĩnh vực có rủi ro cao. Đồng thời, việc xây dựng kế hoạch kiểm toán trung hạn giai đoạn 2026–2028 tạo điều kiện để tăng tính chủ động trong lựa chọn đối tượng kiểm toán.           Tuy nhiên, trong giai đoạn tới cần tiến thêm một bước: chuyển từ lựa chọn đối tượng kiểm toán theo kinh nghiệm và chu kỳ sang quản trị danh mục kiểm toán dựa trên mức độ rủi ro. Theo đó, cần xây dựng hệ thống chỉ báo nhận diện dự án có nguy cơ cao, chẳng hạn: Quy mô vốn lớn; tổng mức đầu tư tăng nhiều lần; tiến độ kéo dài; tỷ lệ giải ngân bất thường; tạm ứng cao; thay đổi thiết kế nhiều; giá trúng thầu sát giá gói thầu; tập trung nhiều hợp đồng vào một nhóm nhà thầu; phát sinh khối lượng lớn; hoặc đơn vị có nhiều kiến nghị kiểm toán chưa được thực hiện. Thông qua chấm điểm rủi ro, Kiểm toán nhà nước có thể tập trung nhân lực vào những nơi khả năng xảy ra sai phạm hoặc thất thoát lớn nhất. Cách tiếp cận này vừa nâng cao hiệu quả kiểm toán, vừa phù hợp với thực tế nguồn lực kiểm toán luôn có giới hạn trong khi phạm vi đầu tư công rất rộng.           Hướng tới kiểm toán toàn bộ vòng đời dự án           Để nâng cao hiệu quả kiểm soát, có thể tiếp cận hoạt động kiểm toán đầu tư công theo 5 tầng liên tục. Tầng thứ nhất là kiểm toán quyết định đầu tư và phân bổ vốn. Trọng tâm là xem xét cơ sở lựa chọn dự án, tính cần thiết, dự báo nhu cầu, khả năng cân đối vốn, phương án kỹ thuật và hiệu quả kinh tế - xã hội. Tầng thứ hai là kiểm toán công tác chuẩn bị đầu tư và đấu thầu. Cần tập trung vào chất lượng khảo sát, lập thiết kế, dự toán, hồ sơ mời thầu, lựa chọn nhà thầu và các điều khoản hợp đồng có nguy cơ làm tăng chi phí về sau. Tầng thứ ba là kiểm toán quá trình thực hiện và giải ngân. Đây là khu vực kiểm toán truyền thống, nhưng cần ứng dụng mạnh dữ liệu số để phát hiện bất thường về khối lượng, đơn giá, nghiệm thu, tạm ứng, điều chỉnh hợp đồng và thanh toán. Tầng thứ tư là kiểm toán kết quả và hiệu quả khai thác. Đây là nội dung cần được tăng cường trong giai đoạn tới. Kiểm toán không chỉ hỏi công trình đã hoàn thành hay chưa, mà phải đánh giá tài sản công hình thành có phát huy công suất không, có giải quyết được điểm nghẽn phát triển không và hiệu quả thực tế có tương xứng với vốn đầu tư không. Tầng thứ năm là kiểm toán chính sách. Từ kết quả nhiều cuộc kiểm toán, cần nhận diện những hạn chế có tính hệ thống về định mức, đấu thầu, định giá, hợp đồng, phân cấp hoặc bố trí vốn để kiến nghị sửa đổi chính sách. Như vậy, giá trị của kiểm toán không chỉ nằm ở phát hiện từng sai phạm cụ thể mà còn ở khả năng ngăn ngừa những sai lệch mang tính hệ thống.           Đẩy mạnh kiểm toán hoạt động và đánh giá “giá trị đồng tiền”           Một thay đổi quan trọng trong giai đoạn 2026–2030 là cần tăng tỷ trọng kiểm toán hoạt động. Nếu kiểm toán tuân thủ chủ yếu trả lời câu hỏi “có làm đúng quy định không?”, thì kiểm toán hoạt động phải trả lời thêm hai câu hỏi quan trọng hơn: “có làm hiệu quả không?” và “nguồn lực công có tạo ra giá trị tương xứng không?” Theo thông lệ kiểm toán công quốc tế, kiểm toán hoạt động tập trung vào ba khía cạnh: tính kinh tế, tính hiệu quả và tính hiệu lực. Áp dụng vào đầu tư công, một dự án giao thông chẳng hạn không nên chỉ được đánh giá bằng tỷ lệ giải ngân hoặc mức độ tuân thủ hồ sơ. Cần xem xét cả chi phí trên một đơn vị chiều dài, thời gian di chuyển giảm bao nhiêu, năng lực vận tải tăng thế nào, chi phí logistics thay đổi ra sao, lưu lượng thực tế so với dự báo và khả năng kết nối các vùng kinh tế. Điều này đặc biệt quan trọng vì trong giai đoạn đầu tư công quy mô lớn, rủi ro lớn nhất không chỉ là tiền bị chi sai mà còn là tiền được chi đúng thủ tục nhưng tạo ra hiệu quả thấp.           Dữ liệu số phải trở thành công cụ cảnh báo sớm           Một khối lượng đầu tư hàng triệu tỷ đồng không thể được kiểm toán hiệu quả nếu phương thức chủ yếu vẫn là kiểm tra thủ công sau khi các nghiệp vụ đã kết thúc. Kiểm toán nhà nước cần từng bước xây dựng hệ thống dữ liệu kết nối với cơ sở dữ liệu đầu tư công, Kho bạc Nhà nước, đấu thầu, thuế, đất đai, giá vật liệu và quản lý dự án. Mỗi dự án cần có mã định danh thống nhất để theo dõi từ khi phê duyệt chủ trương đầu tư, bố trí vốn, đấu thầu, thi công, giải ngân đến quyết toán. Trên cơ sở đó, có thể thiết lập các chỉ báo cảnh báo tự động, chẳng hạn giải ngân tăng đột biến vào cuối kỳ; dự án điều chỉnh tổng mức đầu tư nhiều lần; nhà thầu cùng lúc trúng quá nhiều gói; tỷ lệ tiết kiệm đấu thầu rất thấp; hoặc tạm ứng kéo dài bất thường. Cách tiếp cận này cho phép kiểm toán chuyển dần từ “kiểm tra toàn bộ hồ sơ” sang phân tích dữ liệu để tìm ngoại lệ và điểm bất thường. Đây cũng là nền tảng để hình thành mô hình kiểm toán liên tục và cảnh báo sớm.           Kiểm toán từ sớm nhưng không làm thay cơ quan quản lý           Phòng ngừa một quyết định đầu tư sai thường hiệu quả hơn nhiều so với phát hiện sai phạm sau khi dự án đã hoàn thành. Vì vậy, tăng cường kiểm toán đối với dự án ngay từ giai đoạn đầu là cần thiết. Tuy nhiên, phải bảo đảm ranh giới giữa kiểm toán và quản lý. Kiểm toán nhà nước không nên trở thành cơ quan thẩm định hoặc “phê duyệt trước” cho chủ đầu tư. Nếu tham gia trực tiếp vào việc lựa chọn phương án và ra quyết định, tính độc lập của kiểm toán có thể bị ảnh hưởng. Do đó, “kiểm toán từ sớm” nên được hiểu là nhận diện rủi ro từ sớm, đánh giá hệ thống kiểm soát từ sớm và cảnh báo từ sớm, chứ không làm thay trách nhiệm của cơ quan quản lý.           Đổi thước đo từ giải ngân sang hiệu quả đầu tư           Tỷ lệ giải ngân là chỉ tiêu cần thiết nhưng không nên trở thành thước đo duy nhất.Trong giai đoạn 2026–2030, cần từng bước chuyển sang hệ chỉ tiêu cân bằng hơn giữa tiến độ, chi phí, chất lượng, hiệu quả và tác động xã hội. Đối với Kiểm toán nhà nước cũng vậy, hiệu quả hoạt động không nên chỉ được nhìn qua số tiền kiến nghị xử lý tài chính. Một kiến nghị kiểm toán giúp sửa đổi một cơ chế gây lãng phí hàng nghìn tỷ đồng trong tương lai có thể tạo giá trị lớn hơn nhiều so với việc phát hiện một khoản sai phạm đã xảy ra. Vì vậy, ngoài số tiền tăng thu, giảm chi, cần quan tâm thêm các chỉ tiêu như giá trị thất thoát được ngăn ngừa, số bất cập chính sách được sửa đổi, tỷ lệ thực hiện kiến nghị kiểm toán và mức độ cải thiện hiệu quả quản trị của đơn vị được kiểm toán.           Một số kiến nghị           Để kiểm soát tốt rủi ro đầu tư công trong giai đoạn 2026–2030, cần tập trung vào một số định hướng. Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện lập kế hoạch kiểm toán dựa trên rủi ro, ưu tiên những dự án lớn, phức tạp, có nhiều lần điều chỉnh hoặc dấu hiệu bất thường. Thứ hai, tăng cường kiểm toán hoạt động, đặc biệt đối với các chương trình và dự án đã hoàn thành để đánh giá đầy đủ hiệu quả kinh tế - xã hội.Thứ ba, xây dựng hệ thống dữ liệu và bản đồ rủi ro đầu tư công, hỗ trợ kiểm toán viên phát hiện sớm các giao dịch và dự án bất thường. Thứ tư, hoàn thiện quy định về sử dụng dữ liệu điện tử, BIM, dữ liệu địa không gian, hình ảnh viễn thám và kết quả của chuyên gia độc lập làm bằng chứng kiểm toán. Thứ năm, phát triển đội ngũ kiểm toán viên theo hướng đa ngành. Kiểm toán các dự án cao tốc, sân bay, đường sắt, năng lượng hay hạ tầng số đòi hỏi không chỉ kiến thức tài chính - kế toán mà cả kỹ thuật, công nghệ, hợp đồng và phân tích dự án. Cuối cùng, cần tăng cường theo dõi thực hiện kiến nghị kiểm toán. Kiến nghị chỉ thực sự có giá trị khi được chuyển hóa thành thay đổi trong quản lý và ngăn ngừa sai phạm tái diễn.           Kết luận           Giai đoạn 2026–2030 là giai đoạn Việt Nam sử dụng một lượng nguồn lực công rất lớn cho phát triển kết cấu hạ tầng và tạo động lực tăng trưởng mới. Quy mô đầu tư càng lớn thì yêu cầu kiểm soát thất thoát, lãng phí và hiệu quả sử dụng vốn càng cao. Bài toán đặt ra không phải lựa chọn giữa giải ngân nhanh và kiểm soát chặt, mà phải thực hiện đồng thời cả hai. Trong bối cảnh đó, Kiểm toán nhà nước cần chuyển mạnh từ phương thức chủ yếu phát hiện sai phạm sau khi xảy ra sang kiểm toán dựa trên rủi ro, tăng kiểm toán hoạt động, ứng dụng dữ liệu lớn và thiết lập cơ chế cảnh báo sớm. Nếu nguồn vốn đầu tư công giai đoạn 2026–2030 được coi là một nguồn lực quan trọng để kiến tạo năng lực phát triển mới, thì yêu cầu đối với hoạt động kiểm toán cũng cần được nâng lên một cấp độ mới. Không chỉ kiểm toán xem “đồng tiền đã được chi đúng hay chưa”, mà phải ngày càng trả lời rõ hơn câu hỏi: “đồng tiền công đã tạo ra giá trị gì, với chi phí nào và đem lại lợi ích thực chất gì cho nền kinh tế và người dân?”Đó cũng là nội dung cốt lõi của đổi mới hoạt động kiểm toán đầu tư công trong giai đoạn 2026–2030.           Tài liệu tham khảo 1.     Quốc hội (2026), Nghị quyết về Kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026–2030. 2.     Chính phủ, Bộ Tài chính (2026), Các báo cáo về tình hình phân bổ và giải ngân vốn đầu tư công năm 2026. 3.     Kiểm toán nhà nước (2020), Chiến lược phát triển Kiểm toán nhà nước đến năm 2030. 4.     Kiểm toán nhà nước (2026), Kế hoạch kiểm toán năm 2026 và Kế hoạch kiểm toán trung hạn giai đoạn 2026–2028. 5.     INTOSAI, ISSAI 300 – Performance Audit Principles.

Từ tăng trưởng dựa vào nguồn lực sang phát triển dựa trên năng suất, tri thức, công nghệ và con người

Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV nhấn mạnh yêu cầu tạo ra bốn bước chuyển chiến lược, trong đó bước chuyển thứ ba là “xác lập mô hình phát triển dựa vào năng suất, tri thức, công nghệ và con người”. Đây là sự thay đổi căn bản về tư duy phát triển: chuyển từ tăng trưởng dựa nhiều vào mở rộng vốn, đất đai, lao động và khai thác tài nguyên sang nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực, đổi mới sáng tạo và giá trị gia tăng. Bài viết phân tích nội hàm của bốn trụ cột năng suất - tri thức - công nghệ - con người, đồng thời đề xuất một số định hướng nhằm biến khoa học, công nghệ và nguồn nhân lực thành năng suất, năng lực cạnh tranh và thu nhập cao hơn. Từ khóa: mô hình tăng trưởng; năng suất; tri thức; công nghệ; đổi mới sáng tạo; nguồn nhân lực. Chuyển từ mở rộng nguồn lực sang nâng cao hiệu quả Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV đặt ra yêu cầu các quyết sách phải tạo nên bốn bước chuyển chiến lược. Trong đó, bước chuyển thứ ba là “xác lập mô hình phát triển dựa vào năng suất, tri thức, công nghệ và con người”. Đây không đơn thuần là một định hướng về khoa học - công nghệ mà là sự thay đổi căn bản về mô hình tăng trưởng. Trong nhiều năm, tăng trưởng của Việt Nam được hỗ trợ mạnh bởi mở rộng đầu tư, khai thác đất đai và tài nguyên, gia tăng lao động, thu hút FDI và chuyển dịch lao động từ khu vực có năng suất thấp sang khu vực có năng suất cao hơn. Những động lực này vẫn cần thiết nhưng dư địa ngày càng thu hẹp. Một nền kinh tế không thể tăng trưởng cao trong thời gian dài chỉ bằng cách liên tục tăng vốn, tăng lao động và sử dụng thêm tài nguyên. Khi quy mô nền kinh tế lớn lên, vấn đề quan trọng hơn là: với cùng một lượng vốn, lao động, đất đai và năng lượng, có thể tạo ra nhiều giá trị hơn hay không? Nói ngắn gọn, Việt Nam phải chuyển từ tư duy “bỏ thêm nguồn lực để có thêm tăng trưởng” sang “sử dụng nguồn lực thông minh và hiệu quả hơn để tạo ra giá trị cao hơn”. Điều đó không có nghĩa vốn, đất đai hay lao động mất vai trò. Vấn đề là hiệu quả sử dụng chúng phải trở thành tiêu chí trung tâm. Một dự án không chỉ được đánh giá bởi tổng vốn đầu tư hoặc diện tích đất sử dụng, mà phải xem xét năng suất, giá trị gia tăng, hàm lượng công nghệ, chất lượng việc làm và khả năng lan tỏa đối với nền kinh tế. Năng suất phải trở thành thước đo trung tâm Trụ cột thứ nhất là năng suất. Năng suất phản ánh khả năng tạo ra nhiều giá trị hơn từ cùng một lượng đầu vào. Nếu trước đây một doanh nghiệp muốn tăng sản lượng có thể tuyển thêm 1.000 lao động thì trong mô hình mới, doanh nghiệp cần đặt câu hỏi: thông qua tự động hóa, AI, đổi mới quy trình và đào tạo kỹ năng, liệu 500 lao động có thể tạo ra giá trị bằng hoặc cao hơn 1.000 lao động trước đây hay không? Nếu làm được, đó chính là tăng trưởng dựa vào năng suất. Năm 2025, năng suất lao động của Việt Nam theo giá hiện hành ước đạt khoảng 245 triệu đồng/lao động, tương đương 9.809 USD/lao động; theo giá so sánh tăng 6,83% so với năm trước. Đây là tín hiệu tích cực, song thách thức lớn là phải duy trì được xu hướng tăng năng suất cao và bền vững trong nhiều năm. Nghị quyết số 57-NQ/TW đặt mục tiêu đến năm 2030, đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế đạt trên 55%. Đây là chỉ tiêu rất quan trọng vì TFP phản ánh phần tăng trưởng đến từ đổi mới công nghệ, kỹ năng lao động, cải tiến quản trị và tổ chức sản xuất, thay vì chủ yếu dựa vào tăng thêm vốn và lao động. Vì vậy, cần chuyển dần cách đánh giá từ “đầu tư bao nhiêu” sang “đầu tư tạo thêm bao nhiêu năng suất và giá trị”; từ chạy theo số lượng dự án sang coi trọng chất lượng, hiệu quả và mức độ lan tỏa. Tri thức phải trở thành nguồn vốn của nền kinh tế Trụ cột thứ hai là tri thức. Trong nền kinh tế hiện đại, giá trị của sản phẩm ngày càng phụ thuộc vào thiết kế, công nghệ, thuật toán, dữ liệu, sáng chế, kỹ năng và thương hiệu hơn là lượng nguyên liệu vật chất cấu thành nên sản phẩm. Điều đó có nghĩa tri thức phải được coi là một dạng vốn đặc biệt của nền kinh tế. Vấn đề của Việt Nam hiện nay không chỉ là tạo ra nhiều nghiên cứu, sáng kiến hay bằng sáng chế, mà quan trọng hơn là khả năng chuyển chúng thành sản phẩm, công nghệ và giá trị thương mại. Quá trình này có thể được khái quát thành chuỗi: Nghiên cứu → tri thức → công nghệ → sản phẩm → doanh nghiệp → thị trường → năng suất. Một trường đại học có nhiều công trình nghiên cứu chưa chắc đã tạo ra nhiều sản phẩm thương mại. Nhiều bằng sáng chế cũng chưa đồng nghĩa với nhiều công nghệ được doanh nghiệp sử dụng. Khoảng cách lớn cần vượt qua chính là khoảng cách từ nghiên cứu đến thị trường. WIPO xếp Việt Nam thứ 44/139 nền kinh tế trong Chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu năm 2025. Tuy nhiên, trụ cột vốn con người và nghiên cứu của Việt Nam vẫn chỉ đứng khoảng thứ 70. Điều đó cho thấy tiềm năng đổi mới sáng tạo đã hình thành nhưng năng lực tri thức nội sinh vẫn cần tiếp tục được củng cố. Đặc biệt, xuất khẩu nhiều sản phẩm công nghệ cao chưa đồng nghĩa nền kinh tế đã làm chủ công nghệ cao. Điều quan trọng là doanh nghiệp Việt Nam tham gia được bao nhiêu vào các khâu có giá trị gia tăng lớn như nghiên cứu, thiết kế, phần mềm, linh kiện lõi, sở hữu trí tuệ, thương hiệu và phân phối. Vì vậy, chính sách khoa học và công nghệ phải chuyển mạnh từ quản lý đầu vào sang đánh giá kết quả và khả năng thương mại hóa. Công nghệ phải chuyển hóa thành năng suất Trụ cột thứ ba là công nghệ. Nghị quyết số 57-NQ/TW xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính phát triển lực lượng sản xuất hiện đại. Tuy nhiên, cần đặc biệt nhấn mạnh rằng công nghệ không phải mục tiêu tự thân. Một doanh nghiệp mua hệ thống máy móc hiện đại nhưng năng suất không tăng thì đầu tư công nghệ chưa đạt mục tiêu. Một cơ quan triển khai phần mềm nhưng thủ tục vẫn phức tạp thì chưa thể coi là chuyển đổi số thực chất. Một trung tâm đổi mới sáng tạo được đầu tư lớn nhưng không tạo được sản phẩm hoặc doanh nghiệp công nghệ thì hiệu quả kinh tế vẫn hạn chế. AI cũng vậy. Ý nghĩa của AI không nằm ở số lượng ứng dụng được cài đặt mà nằm ở việc giúp tiết kiệm bao nhiêu thời gian lao động, giảm bao nhiêu chi phí, cải thiện chất lượng quyết định ra sao và tạo ra thêm bao nhiêu giá trị. Do đó, cần thay đổi cách đánh giá đầu tư công nghệ. Bên cạnh câu hỏi “đã đầu tư bao nhiêu?”, phải trả lời được các câu hỏi: Năng suất tăng bao nhiêu; chi phí giảm bao nhiêu; thời gian sản xuất rút ngắn thế nào; chất lượng sản phẩm tăng ra sao; giá trị gia tăng được cải thiện đến mức nào? Đồng thời, cần chú trọng khả năng hấp thụ công nghệ của doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa. Không phải tất cả doanh nghiệp đều phải tự nghiên cứu ra công nghệ mới. Hàng triệu doanh nghiệp có thể nâng cao năng suất trước hết bằng việc tiếp nhận, ứng dụng và cải tiến công nghệ phù hợp. Bên cạnh phát triển các lĩnh vực chiến lược như AI, bán dẫn, dữ liệu lớn, công nghệ sinh học và công nghệ xanh, cần có chính sách phổ biến công nghệ đến toàn bộ khu vực doanh nghiệp. Con người là yếu tố quyết định Trụ cột thứ tư là con người và đây chính là chủ thể kết nối ba trụ cột còn lại. Không có lao động có kỹ năng thì máy móc hiện đại khó phát huy hiệu quả. Không có nhà khoa học và kỹ sư giỏi thì khó tạo ra công nghệ. Không có doanh nhân và nhà quản trị có năng lực thì công nghệ và tri thức khó trở thành sản phẩm thương mại. Năm 2025, tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ của Việt Nam khoảng 29,2%. Điều đó cho thấy dư địa nâng cao chất lượng nguồn nhân lực còn rất lớn. Ngân hàng Thế giới cho rằng mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045 đòi hỏi Việt Nam phải xây dựng đội ngũ nhân lực công nghệ cao có khả năng nghiên cứu, làm chủ phòng thí nghiệm và biến ý tưởng thành sản phẩm thương mại; đồng thời tăng liên kết giữa đại học, doanh nghiệp và Nhà nước. Chính sách nguồn nhân lực vì vậy không thể chỉ chạy theo số lượng bằng cấp mà phải chuyển sang năng lực thực hành, kỹ năng số, ngoại ngữ, tư duy phản biện, khả năng sáng tạo và giải quyết vấn đề. Doanh nghiệp phải tham gia sâu hơn vào thiết kế chương trình đào tạo. Trường đại học phải gắn nghiên cứu với nhu cầu của thị trường. Người lao động cần có cơ hội học tập và nâng cấp kỹ năng trong suốt quá trình làm việc. Đặc biệt, trong bối cảnh AI phát triển nhanh, đào tạo lại và nâng cao kỹ năng phải trở thành một bộ phận thường xuyên của chính sách lao động. Mục tiêu không phải là ngăn công nghệ thay thế những công việc cũ mà giúp người lao động chuyển sang những công việc có năng suất và giá trị cao hơn. Xây dựng hệ sinh thái năng suất của nền kinh tế Năng suất, tri thức, công nghệ và con người không phải bốn chính sách tách rời mà tạo thành một hệ thống liên kết: Con người tạo ra tri thức → tri thức tạo ra công nghệ → công nghệ được doanh nghiệp ứng dụng → năng suất tăng → giá trị gia tăng và thu nhập được nâng cao. Để hiện thực hóa bước chuyển thứ ba, cần tập trung vào một số định hướng. Thứ nhất, lấy năng suất làm tiêu chí trung tâm của chính sách phát triển. Bên cạnh GDP, cần coi trọng tăng năng suất lao động, TFP, hiệu quả sử dụng vốn, giá trị gia tăng và thu nhập thực. Thứ hai, đặt doanh nghiệp ở trung tâm hệ thống đổi mới sáng tạo. Nghiên cứu phải gắn chặt hơn với nhu cầu của sản xuất và thị trường; thúc đẩy liên kết thực chất giữa viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp. Thứ ba, nâng cao năng lực làm chủ công nghệ. Nhập khẩu máy móc cần thiết nhưng chưa đủ. Doanh nghiệp Việt Nam phải từng bước có khả năng cải tiến, thiết kế và sở hữu công nghệ. Thứ tư, cải cách giáo dục và đào tạo nhân lực. Trọng tâm phải chuyển từ bằng cấp sang năng lực, kỹ năng số, sáng tạo, ngoại ngữ, quản trị và khả năng làm việc với AI. Thứ năm, đổi mới cơ chế đầu tư cho khoa học – công nghệ. Phân bổ nguồn lực cần gắn chặt hơn với kết quả, sản phẩm và tác động kinh tế – xã hội; đồng thời tạo động lực mạnh hơn cho doanh nghiệp đầu tư R&D. Thứ sáu, bảo đảm thành quả tăng năng suất được chuyển hóa thành nâng cao đời sống người dân. Mục tiêu cuối cùng của khoa học, công nghệ và tăng trưởng phải là việc làm tốt hơn, thu nhập cao hơn, dịch vụ công hiệu quả hơn và cơ hội phát triển rộng mở hơn. Kết luận Chuyển từ tăng trưởng dựa nhiều vào vốn, đất đai, lao động và tài nguyên sang phát triển dựa trên năng suất, tri thức, công nghệ và con người là bước chuyển căn bản của mô hình phát triển Việt Nam. Trong đó, năng suất là thước đo, tri thức là nguồn lực, công nghệ là công cụ và con người là chủ thể quyết định.Thước đo thành công không nằm ở số lượng đề tài khoa học, trung tâm đổi mới sáng tạo hay ứng dụng AI, mà ở giá trị gia tăng, năng suất, sức cạnh tranh của doanh nghiệp và thu nhập của người dân. Nếu mô hình cũ đặt câu hỏi “cần thêm bao nhiêu nguồn lực?”, thì mô hình mới phải trả lời “làm thế nào tạo ra nhiều giá trị hơn từ nguồn lực hiện có?”. Giải được bài toán đó bằng cải cách thể chế, đổi mới công nghệ và phát triển con người chính là nền tảng để Việt Nam tăng trưởng nhanh, bền vững và tiến tới quốc gia phát triển, thu nhập cao. Tài liệu tham khảo 1- Tô Lâm (2026), Phát biểu khai mạc Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, Cổng Thông tin điện tử Chính phủ; 2- Bộ Chính trị (2024), Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; 3- Cục Thống kê (2026), Báo cáo tình hình kinh tế – xã hội quý IV và năm 2025, Hà Nội; 4- World Intellectual Property Organization – WIPO (2025), Global Innovation Index 2025 – Viet Nam’ 5- World Bank (2025), Taking Stock: Viet Nam Economic Update – Nurturing Viet Nam’s High-Tech Talents, Washington, D.C.

Minh bạch thông tin tài chính - công cụ quan trọng bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong bối cảnh chuyển đổi số

Toàn cầu hóa và chuyển đổi số đang diễn ra sâu rộng, không gian mạng chính là một “mặt trận mới” trong đời sống chính trị - xã hội. Đây không chỉ là nơi lan tỏa tri thức, thúc đẩy đổi mới sáng tạo mà còn là môi trường mà các thế lực thù địch thường xuyên xuyên tạc và phát tán thông tin sai lệch, xuyên tạc, nhằm tác động tiêu cực đến nhận thức và niềm tin của xã hội. Đặc biệt, các vấn đề kinh tế - tài chính, với tính chất phức tạp và độ nhạy cảm cao, thường bị khai thác như một “điểm nóng” để bóp méo thông tin, gây hoài nghi trong dư luận. Trước tình hình đó, Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị đã tái khẳng định nhiệm vụ: “tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”. Điều này cho thấy, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng không chỉ là nhiệm vụ lý luận mà còn gắn chặt với thực tiễn quản trị quốc gia, trong đó minh bạch thông tin - đặc biệt là thông tin tài chính - giữ vai trò hết sức quan trọng. Có thể khẳng định rằng, trong thời đại dữ liệu, minh bạch tài chính vừa là yêu cầu quản lý kinh tế đồng thời là một công cụ hữu hiệu để người dân càng thêm tin tưởng vào đường lối sáng suốt của Đảng, chính là “bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng”. Họp báo công khai kết quả kiểm toán của Kiểm toán nhà nước năm 2024 Nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam được xác định là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng khẳng định: “Kiên định, vận dụng và phát triển sang tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”. Tuy nhiên, để những giá trị lý luận đó không chỉ tồn tại trên phương diện tư tưởng mà thực sự trở thành niềm tin bền vững trong xã hội, cần có sự kiểm chứng thông qua thực tiễn phát triển. Một trong những thước đo quan trọng của thực tiễn là hiệu quả quản trị kinh tế, chính là tính minh bạch, trung thực và trách nhiệm giải trình của thông tin tài chính. Văn kiện Đại hội XIV đồng thời nhấn mạnh yêu cầu: “xây dựng bộ máy nhà nước tinh, gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực” đồng thời “tang cường công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình của chính quyền”. Đây vừa là định hướng quản trị vừa là yêu cầu mang tính chính trị, gắn với việc củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Thực tiễn đã chứng minh, niềm tin xã hội không chỉ được hình thành từ những tuyên bố hay khẩu hiệu, mà hình thành từ khả năng tiếp cận thông tin chính xác, minh bạch và có thể kiểm chứng. Trong bối cảnh đó, thông tin tài chính - với đặc trưng là các con số cụ thể, có hệ thống và được kiểm toán - trở thành “ngôn ngữ của sự thật”, phản ánh trung thực hiệu quả sử dụng nguồn lực quốc gia. Những năm qua, nước ta đã dần hoàn thiện hệ thống pháp luật cũng như những thông lệ thực hành tốt trong minh bạch tài chính. Hệ thống chuẩn mực kế toán, kiểm toán từng bước được hoàn thiện theo hướng tiệm cận thông lệ quốc tế; vai trò của Kiểm toán nhà nước được tăng cường; phạm vi công khai ngân sách được mở rộng; và việc ứng dụng công nghệ nói chung và công nghệ thông tin nói riêng trong quản lý tài chính công ngày càng được đẩy mạnh. Những nỗ lực này đã góp phần nâng cao tính minh bạch, tăng cường trách nhiệm giải trình và gia tăng niềm tin của người dân. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, vẫn còn tồn tại không ít hạn chế. Một số thông tin tài chính chưa được công bố kịp thời, đầy đủ hoặc còn khó tiếp cận đối với người dân. Việc trình bày thông tin còn mang tính chuyên môn cao, hạn chế khả năng hiểu và sử dụng đối với đại chúng. Đặc biệt, khoảng cách giữa “thông tin có” và “thông tin được hiểu đúng” vẫn còn đáng kể. Chính những hạn chế này đã tạo ra “khoảng trống thông tin” - một điều kiện thuận lợi để các thế lực thù địch lợi dụng. Nghị quyết 35-NQ/TW đã chỉ rõ âm mưu của các thế lực thù địch là “lợi dụng những hạn chế, yếu kém trong quản lý kinh tế - xã hội để xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng”. Trong lĩnh vực tài chính, các thủ đoạn thường thấy bao gồm cắt ghép số liệu, diễn giải sai bản chất các chỉ tiêu kinh tế, hoặc thổi phồng những tồn tại nhằm tạo ra cái nhìn phiến diện, tiêu cực. Nếu không có nguồn thông tin chính thống đầy đủ, kịp thời và dễ hiểu, những luận điệu xuyên tạc này rất dễ tác động đến tư tưởng của một bộ phận người dân, từ đó làm suy giảm niềm tin vào hệ thống chính trị. Hội nghị công bố quyết định kiểm toán ngân sách địa phương, báo cáo quyết toán ngân sách địa phương năm 2025 của tỉnh Đắk Lắk và Chuyên đề công tác thanh tra, kiểm tra thuế; miễn, giảm, gia hạn thời hạn nộp thuế; hoàn thuế giá trị gia tăng giai đoạn 2023-2025 của Thuế tỉnh Đắk Lắk  Trong bối cảnh đó, minh bạch thông tin tài chính nổi lên như một “lá chắn mềm” nhưng có sức mạnh đặc biệt to lớn trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Trước hết, minh bạch giúp thu hẹp không gian tồn tại của thông tin sai lệch. Khi dữ liệu chính thống được công bố đầy đủ, kịp thời và có thể kiểm chứng, các luận điệu xuyên tạc sẽ mất đi cơ sở để tồn tại. Đây cũng là cách cụ thể hóa yêu cầu của Đảng về “chủ động cung cấp thông tin chính thống, kịp thời định hướng dư luận xã hội”. Bên cạnh đó, minh bạch tài chính góp phần quan trọng trong việc củng cố niềm tin của nhân dân. Văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh việc: “chú trọng đối thoại, lắng nghe ý kiến, kịp thời giải quyết những bức xúc, kiến nghị chính đáng của Nhân dân… góp phần củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng”. Niềm tin này không thể chỉ được xây dựng bằng tuyên truyền một chiều, mà phải dựa trên sự minh bạch, trung thực và trách nhiệm trong quản lý. Khi người dân có thể tiếp cận thông tin rõ ràng về phương thức Nhà nước huy động, phân bổ và sử dụng nguồn lực, họ sẽ có cơ sở để tin tưởng vào tính đúng đắn của đường lối phát triển. Hơn nữa, minh bạch tài chính còn góp phần khẳng định tính chính danh của Nhà nước và hiệu quả của mô hình phát triển. Những thành tựu về tăng trưởng kinh tế, ổn định vĩ mô hay cải thiện đời sống người dân khi được thể hiện qua các số liệu cụ thể, đáng tin cậy sẽ là minh chứng thuyết phục nhất cho sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng. Đồng thời, việc công khai cả những hạn chế, yếu kém cũng thể hiện rõ tinh thần cầu thị, trách nhiệm với Nhân dân và khẳng định quyết tâm đổi mới, qua đó càng củng cố niềm tin xã hội. Đặc biệt, trong đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, thù địch, minh bạch tài chính đóng vai trò như một “vũ khí mềm nhưng sắc bén”. Các số liệu kế toán, kiểm toán - với tính hệ thống, tính chuẩn hóa và được kiểm chứng độc lập - là cơ sở khoa học để bác bỏ những luận điệu thiếu căn cứ. Điều này phù hợp với yêu cầu của Nghị quyết 35 về việc “nâng cao chất lượng, hiệu quả đấu tranh phản bác, bảo đảm tính thuyết phục, khoa học”. Để phát huy tối đa vai trò của minh bạch thông tin tài chính, cần triển khai đồng bộ, toàn diện nhiều giải pháp. Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện thể chế về kế toán, kiểm toán theo hướng tiệm cận chuẩn mực quốc tế, bảo đảm tính nhất quán, minh bạch và dễ so sánh của thông tin. Đây cũng là nội dung phù hợp với định hướng trong Văn kiện Đại hội XIV về “hoàn thiện đồng bộ thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”. Thứ hai, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong quản lý và công bố thông tin tài chính. Việc sử dụng các công nghệ hiện đại như dữ liệu lớn (Big Data), trí tuệ nhân tạo (AI) hay hệ thống dữ liệu mở không chỉ giúp nâng cao hiệu quả quản lý mà còn hỗ trợ người dân dễ dàng tiếp cận và khai thác thông tin. Đây là hướng đi tất yếu trong bối cảnh chuyển đổi số và cũng là giải pháp quan trọng để nâng cao tính minh bạch. Thứ ba, tăng cường năng lực truyền thông và “dịch” thông tin tài chính theo hướng dễ hiểu, thân thiện với công chúng. Thông tin dù chính xác nhưng khó hiểu thì vẫn có thể bị hiểu sai hoặc bị lợi dụng. Do đó, cần có sự phối hợp chặt chẽ liên ngành giữa các cơ quan quản lý, báo chí và giới nghiên cứu trong việc phân tích, giải thích và lan tỏa thông tin chính thống. Thứ tư, phát huy vai trò của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong việc thực hiện minh bạch và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Mỗi cán bộ không chỉ là người thực thi chính sách mà còn là “chủ thể truyền thông”, góp phần lan tỏa thông tin đúng đắn và đấu tranh với các quan điểm sai trái. Cuối cùng, cần xây dựng một môi trường thông tin lành mạnh, trong đó mỗi người dân đều có khả năng tiếp cận, phân tích và đánh giá thông tin một cách độc lập, khách quan. Đây chính là nền tảng quan trọng để nâng cao “sức đề kháng” của xã hội trước “virus” thông tin sai lệch. Trong hệ thống các thiết chế bảo đảm minh bạch tài chính công, Kiểm toán nhà nước đóng vai trò quan trọng như một cơ quan kiểm tra độc lập, khách quan và có tính pháp lý cao đối với việc quản lý, sử dụng tài chính công và tài sản công. Luật Kiểm toán nhà nước năm 2015 đã xác định rõ chức năng của cơ quan này là kiểm tra, xác nhận tính đúng đắn, trung thực của báo cáo tài chính, đánh giá tính tuân thủ pháp luật và hiệu quả trong quản lý, sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước. Thông qua kết quả của hoạt động kiểm toán, các thông tin tài chính không chỉ được “soi chiếu” dưới góc độ kỹ thuật mà còn được kiểm chứng về bản chất, qua đó gia tăng độ tin cậy và giá trị sử dụng của thông tin tài chính. Trong bối cảnh hiện nay, khi yêu cầu về công khai, minh bạch ngày càng cao, vai trò của Kiểm toán nhà nước càng trở nên nổi bật. Các báo cáo kiểm toán không chỉ giúp phát hiện, xử lý sai phạm, thất thoát, lãng phí mà còn cung cấp những khuyến nghị chính sách quan trọng nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính công. Việc công khai kết quả kiểm toán theo quy định đã góp phần đưa thông tin tài chính đến gần hơn với người dân, qua đó nâng cao trách nhiệm giải trình của các cơ quan, đơn vị được kiểm toán. Đây chính là một trong những biểu hiện cụ thể của yêu cầu “tăng cường công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình” mà Văn kiện Đại hội XIV của Đảng đã đề ra. Không chỉ dừng lại ở chức năng kiểm tra, Kiểm toán nhà nước còn đóng vai trò như một “công cụ bảo đảm niềm tin” của xã hội đối với hệ thống tài chính công. Trong bối những thông tin chưa được kiểm chứng chính là cái cớ để các thế lực thù địch xuyên tạc, việc tồn tại một cơ quan kiểm toán độc lập, hoạt động theo nguyên tắc pháp quyền, sẽ giúp cung cấp những bằng chứng khách quan, khoa học để làm rõ bản chất vấn đề. Những số liệu đã được kiểm toán vì thế trở thành nguồn thông tin đáng tin cậy, góp phần định hướng dư luận và hỗ trợ hiệu quả cho công tác đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Có thể khẳng định rằng, Kiểm toán nhà nước không chỉ là “người gác cổng” của tính minh bạch tài chính công, mà còn là một trụ cột quan trọng trong việc củng cố kỷ luật, kỷ cương tài chính và tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế sâu rộng, việc tiếp tục nâng cao năng lực, tính độc lập và hiệu quả hoạt động của Kiểm toán Nhà nước sẽ có ý nghĩa chiến lược, góp phần bảo đảm sự minh bạch, bền vững của nền tài chính quốc gia và qua đó phục vụ trực tiếp cho nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Trong kỷ nguyên số, cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ngày càng gắn chặt với dữ liệu và thông tin. Minh bạch thông tin tài chính, với vai trò là “ngôn ngữ của sự thật”, không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả quản trị quốc gia mà còn là trụ cột quan trọng trong việc củng cố niềm tin xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Việc tiếp tục đảm bảo minh bạch tài chính vì thế không chỉ là yêu cầu của phát triển kinh tế mà chính là nhiệm vụ chính trị có ý nghĩa chiến lược trong giai đoạn hiện nay. Tài liệu tham khảo: 1. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng; 2. Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới.

Phát triển các ứng dụng trí tuệ nhân tạo nội bộ của Kiểm toán nhà nước

Trí tuệ nhân tạo (Artificial Intelligence - AI) là lĩnh vực khoa học máy tính nghiên cứu, xây dựng các hệ thống có khả năng thực hiện những nhiệm vụ vốn đòi hỏi trí tuệ con người: hiểu ngôn ngữ, nhận dạng, suy luận, ra quyết định. Đối với hoạt động kiểm toán, AI hỗ trợ kiểm toán viên một cách hiệu quả trong việc thu thập thông tin và lập kế hoạch kiểm toán; trong phân tích hồ sơ, bóc tách dữ liệu; hỗ trợ soát xét tuân thủ quy định, văn bản pháp luật; hỗ trợ tổng hợp, lập và rà soát báo cáo kiểm toán. Tuy nhiên, do yêu cầu công việc, bên cạnh việc khai thác có kiểm soát các nền tảng AI thương mại, Kiểm toán nhà nước chủ trương đầu tư xây dựng các ứng dụng AI nội bộ. 1. Sự cần thiêt của các công cụ AI nội bộ do Kiểm toán nhà nước phát triển Một là, yêu cầu bảo mật và an toàn dữ liệu đặc thù của khu vực công. Hồ sơ kiểm toán, dữ liệu ngân sách, dữ liệu của đơn vị được kiểm toán là tài liệu mật hoặc nội bộ, không được phép đưa lên ChatGPT, Gemini hay các nền tảng AI công cộng, do dữ liệu sẽ rời khỏi hạ tầng của Kiểm toán nhà nước và có thể bị sử dụng để huấn luyện mô hình của bên thứ ba. Ứng dụng nội bộ bảo đảm toàn bộ dữ liệu được xử lý, lưu trữ trong phạm vi hệ thống thông tin của cơ quan. Hai là, tính đặc thù của tri thức kiểm toán nhà nước. Các công cụ AI phổ thông được huấn luyện trên dữ liệu mở toàn cầu, không hiểu sâu hệ thống pháp luật Việt Nam về ngân sách nhà nước, Luật Kiểm toán nhà nước, Hệ thống chuẩn mực kiểm toán nhà nước và quy trình kiểm toán của ngành. Ứng dụng tự xây dựng được huấn luyện, tinh chỉnh trên kho dữ liệu nghiệp vụ của Kiểm toán nhà nước sẽ cho kết quả chính xác và phù hợp ngữ cảnh hơn. Ba là, khả năng tích hợp vào quy trình và hệ thống nội bộ. Ứng dụng do Kiểm toán nhà nước xây dựng kết nối trực tiếp với cơ sở dữ liệu hồ sơ kiểm toán, hệ thống quản lý văn bản điều hành, kho báo cáo kiểm toán, kho đề tài nghiên cứu khoa học - điều mà công cụ bên ngoài không thể thực hiện được. Bốn là, chủ động công nghệ, không phụ thuộc nhà cung cấp nước ngoài. Tự chủ ứng dụng giúp giảm rủi ro gián đoạn dịch vụ, thay đổi chính sách giá hoặc hạn chế truy cập từ phía nhà cung cấp; đồng thời phù hợp với định hướng tự chủ công nghệ và chương trình chuyển đổi số quốc gia. Năm là, trách nhiệm giải trình và kiểm soát chất lượng đầu ra. Kết quả của ứng dụng AI sử dụng trong hoạt động kiểm toán phải truy xuất được nguồn, kiểm chứng được và chịu trách nhiệm pháp lý. Yêu cầu này chỉ đáp ứng được khi Kiểm toán nhà nước làm chủ mô hình, dữ liệu huấn luyện và quy trình kiểm soát. 2. Một số ứng dụng AI của Kiểm toán nhà nước 2.1 Ứng dụng AI khai thác sai sót trên Báo cáo kiểm toán lĩnh vực ngân sách địa phương - Bối cảnh và nhu cầu: Qua nhiều năm, Kiểm toán nhà nước đã tích lũy khối lượng lớn báo cáo kiểm toán ngân sách địa phương. Các sai sót, hạn chế được phát hiện nằm rải rác trong hàng nghìn trang văn bản phi cấu trúc; việc tổng hợp thủ công để nhận diện vấn đề có tính hệ thống tốn nhiều thời gian và dễ bỏ sót. - Mục tiêu: Khai thác tự động kho báo cáo kiểm toán đã phát hành nhằm tổng hợp, phân loại sai sót và nhận diện các mẫu hình sai sót lặp lại qua các năm và giữa các địa phương, phục vụ định hướng kiểm toán, xây dựng cẩm nang nghiệp vụ và kiến nghị hoàn thiện chính sách. - Tính năng chính: (i) bóc tách tự động các đoạn mô tả sai sót, kiến nghị từ báo cáo kiểm toán; (ii) phân loại sai sót theo bộ danh mục chuẩn (lập dự toán, chấp hành, quyết toán, đầu tư công, quản lý tài sản…); (iii) thống kê tần suất, giá trị xử lý tài chính theo loại sai sót, theo địa phương, theo năm; (iv) nhận diện mẫu hình lặp lại và xu hướng qua thời gian; (v) tra cứu ngữ nghĩa: nhập mô tả tình huống, hệ thống trả về các sai sót tương tự đã từng được phát hiện kèm trích dẫn nguồn báo cáo. - Quy trình sử dụng: Đăng nhập bằng tài khoản nội bộ → chọn phạm vi khai thác (năm, địa phương, lĩnh vực) → nhập yêu cầu tra cứu hoặc chọn báo cáo thống kê có sẵn → nhận kết quả kèm trích dẫn đến đoạn gốc trong báo cáo nguồn → xuất kết quả ra bảng tính/văn bản phục vụ tổng hợp. - Đối tượng và phạm vi áp dụng: Các đơn vị tham mưu tổng hợp, các Kiểm toán nhà nước khu vực thực hiện kiểm toán ngân sách địa phương; sử dụng trong giai đoạn xây dựng kế hoạch kiểm toán năm, chuẩn bị kiểm toán và tổng kết, đánh giá theo chuyên đề. 2.2 Ứng dụng AI hỗ trợ công tác kiểm soát chất lượng kiểm toán - Bối cảnh và nhu cầu: Hệ thống kiểm soát chất lượng hiện hành đang bộc lộ độ trễ và rủi ro hệ thống do sự mất cân đối giữa khối lượng tài liệu ngày càng lớn và phương pháp rà soát thủ công, chọn mẫu. Ba điểm nghẽn chính đã được nhận diện: (i) phương pháp chọn mẫu không bảo đảm rà soát 100% hồ sơ, tiềm ẩn nguy cơ bỏ lọt sai sót trọng yếu; (ii) thông tin dễ bị đứt gãy, lược bỏ, thay đổi bản chất hoặc sai lệch số học trong quá trình tổng hợp qua nhiều cấp - từ Nhật ký kiểm toán lên Tổ, Đoàn, Vụ (thực tế đã xảy ra trường hợp sao chép kết quả từ Biên bản kiểm toán của Tổ lên Dự thảo báo cáo cấp Vụ làm thiếu sót một kiến nghị thu hồi tài chính mà cán bộ kiểm soát không thể phát hiện ngay do hồ sơ quá dày); (iii) tính chủ quan trong đánh giá, đối chiếu vi phạm và khó khăn trong thẩm định tức thời hiệu lực của hàng nghìn văn bản quy phạm pháp luật được viện dẫn - đã có trường hợp sử dụng Thông tư hết hiệu lực làm căn cứ kết luận, ảnh hưởng trực tiếp đến uy tín của kết luận kiểm toán. Về mặt công nghệ, các công cụ truyền thống (chức năng Compare của Word, tìm kiếm từ khóa) hoạt động theo cơ chế so khớp mặt chữ nên bất lực trước ngôn ngữ hành chính phong phú, nhiều cách diễn đạt đồng nghĩa; chỉ nền tảng xử lý ngôn ngữ tự nhiên (NLP) và mô hình ngôn ngữ lớn (LLM) - so sánh văn bản theo ngữ nghĩa trên không gian vector thay vì theo ký tự - mới giải quyết được triệt để yêu cầu đối chiếu nghiệp vụ. - Mục tiêu: Số hóa toàn bộ quy trình kiểm soát chất lượng thông qua việc đối chiếu tự động, đạt độ phủ 100% hồ sơ trên toàn bộ luồng dữ liệu kiểm toán - từ Nhật ký kiểm toán đến Báo cáo kiểm toán phát hành; bảo đảm tính trọn vẹn, nhất quán của thông tin qua các cấp tổng hợp; phát hiện sớm sai lệch số liệu, thay đổi bản chất nhận định và rủi ro pháp lý về căn cứ viện dẫn để cảnh báo kịp thời cho cán bộ kiểm soát và lãnh đạo. - Tính năng chính: Hệ thống được tùy biến để giải quyết trọn vẹn 7 bài toán đối chiếu luồng dữ liệu của hoạt động kiểm toán, theo đúng trình tự hình thành hồ sơ. Xuyên suốt 7 bài toán, hệ thống ứng dụng năng lực hiểu ngữ nghĩa của AI để nhận diện sự tương ứng nghiệp vụ dù cách hành văn khác nhau (ví dụ “rà soát dự toán công trình” và “kiểm tra hồ sơ thiết kế kỹ thuật”), trích xuất và đối soát con số cụ thể, đồng thời hỗ trợ thẩm định trạng thái hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật được viện dẫn. - Quy trình sử dụng: Cán bộ kiểm soát chọn hồ sơ cuộc kiểm toán và cặp tài liệu cần đối chiếu theo một trong 7 bài toán (hoặc chạy đồng thời toàn luồng) → hệ thống tự động phân tích, đối chiếu ngữ nghĩa và số liệu → nhận kết quả dưới dạng bảng thống kê các điểm chênh lệch, phân mức cảnh báo (cảnh báo đỏ đối với sai lệch trọng yếu) kèm dẫn chiếu đến vị trí cụ thể trong tài liệu gốc → cán bộ kiểm soát kiểm tra trực tiếp từng cảnh báo trên hồ sơ, xác nhận hoặc loại trừ → tổng hợp các cảnh báo đã xác nhận vào báo cáo kiểm soát chất lượng; riêng bài toán 7, hồ sơ chỉ chuyển sang khâu phát hành khi hệ thống xác nhận khớp đúng 100% hoặc các sai lệch đã được xử lý, giải trình. - Đối tượng và phạm vi áp dụng: Vụ Chế độ và Kiểm soát chất lượng kiểm toán, các tổ kiểm soát chất lượng tại đơn vị chủ trì cuộc kiểm toán sử dụng trong hoạt động kiểm soát thường xuyên và đột xuất; lãnh đạo Đoàn, Tổ trưởng sử dụng để tự rà soát hồ sơ trước khi trình từng cấp; áp dụng trên toàn bộ chuỗi tài liệu của cuộc kiểm toán, từ Nhật ký kiểm toán đến Báo cáo kiểm toán phát hành. Kết quả của hệ thống là thông tin cảnh báo hỗ trợ; việc xác nhận sai sót và kết luận kiểm soát chất lượng thuộc trách nhiệm của cán bộ kiểm soát theo quy định. 2.3 Ứng dụng AI hỗ trợ xác định, lựa chọn đơn vị được kiểm toán phục vụ lập kế hoạch kiểm toán năm (lĩnh vực tài chính, ngân hàng) - Bối cảnh và nhu cầu: Số lượng tổ chức tài chính, ngân hàng thuộc phạm vi kiểm toán lớn trong khi nguồn lực kiểm toán có hạn; việc lựa chọn đơn vị đưa vào kế hoạch năm cần dựa trên đánh giá rủi ro định lượng, khách quan thay vì chủ yếu định tính như trước. - Mục tiêu: Phân tích dữ liệu đa nguồn để chấm điểm rủi ro, từ đó gợi ý danh sách đơn vị ưu tiên đưa vào kế hoạch kiểm toán năm theo nguyên tắc kiểm toán dựa trên rủi ro. - Tính năng chính: (i) tích hợp, chuẩn hóa dữ liệu từ báo cáo tài chính, chỉ tiêu an toàn hoạt động, kết quả kiểm toán/thanh tra các kỳ trước và thông tin giám sát; (ii) bộ mô hình chấm điểm rủi ro theo nhóm tiêu chí (quy mô, chất lượng tài sản, hiệu quả, tuân thủ, lịch sử sai sót, thời gian từ lần kiểm toán gần nhất); (iii) xếp hạng và phân nhóm đơn vị theo mức rủi ro, hiển thị trực quan; (iv) giải thích cấu phần điểm rủi ro của từng đơn vị (yếu tố nào đóng góp chính); (v) mô phỏng phương án kế hoạch theo các kịch bản nguồn lực khác nhau. Kiểm toán nhà nước tham gia sâu rộng vào các hoạt động nghiên cứu và phát triển AI - Quy trình sử dụng: Cập nhật dữ liệu kỳ đánh giá → chạy mô hình chấm điểm → rà soát bảng xếp hạng và phần giải thích điểm số → bộ phận tham mưu điều chỉnh trọng số/tiêu chí nếu cần và kết hợp các yêu cầu quản lý nhà nước khác → trình danh mục dự kiến để cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định. - Đối tượng và phạm vi áp dụng: Đơn vị chủ trì kiểm toán lĩnh vực tài chính, ngân hàng và bộ phận xây dựng kế hoạch kiểm toán năm. Kết quả xếp hạng chỉ là một căn cứ tham mưu; quyết định lựa chọn thuộc thẩm quyền của lãnh đạo Kiểm toán nhà nước theo quy định. 2.4 Ứng dụng AI trong khai thác, phân tích, tổng hợp kết quả đề tài nghiên cứu khoa học - Bối cảnh và nhu cầu: Kho đề tài nghiên cứu khoa học của Kiểm toán nhà nước tích lũy qua nhiều năm chứa nhiều kết quả có giá trị nhưng phân tán, khó tra cứu; tri thức từ các đề tài chưa được kết nối với hoạt động nghiệp vụ và đào tạo. - Mục tiêu: Biến kho đề tài thành kho tri thức “sống”: tra cứu nhanh theo ngữ nghĩa, tóm tắt tự động, liên kết tri thức giữa các đề tài và giữa đề tài với thực tiễn kiểm toán. - Tính năng chính: (i) tìm kiếm ngữ nghĩa toàn văn kho đề tài (tìm theo nội dung, không chỉ theo tên đề tài); (ii) tóm tắt tự động từng đề tài ở nhiều cấp độ (3 câu, 1 trang, tóm tắt theo chương); (iii) hỏi - đáp trên kho tri thức kèm trích dẫn đến đề tài và vị trí trang nguồn; (iv) liên kết các đề tài cùng chủ đề, phát hiện khoảng trống nghiên cứu và nội dung trùng lặp phục vụ xét duyệt đề tài mới; (v) tổng hợp các kiến nghị từ nhiều đề tài theo chủ đề phục vụ xây dựng văn bản, chính sách. - Quy trình sử dụng: Nhập câu hỏi hoặc chủ đề cần tra cứu → hệ thống trả về câu trả lời tổng hợp kèm danh mục đề tài nguồn và trích dẫn → mở bản tóm tắt hoặc toàn văn đề tài để kiểm chứng → lưu/xuất kết quả tổng hợp. - Đối tượng và phạm vi áp dụng: Đơn vị quản lý khoa học, các ban chủ nhiệm đề tài, giảng viên và toàn thể công chức có nhu cầu tra cứu tri thức nghiệp vụ; phục vụ hoạt động nghiên cứu, đào tạo và tham mưu chính sách. 2.5 Ứng dụng AI trong lập, thẩm định dự thảo văn bản, xử lý văn bản, tờ trình - Bối cảnh và nhu cầu: Khối lượng văn bản hành chính (công văn, tờ trình, quyết định, báo cáo) phát sinh hằng ngày rất lớn; việc soạn thảo, kiểm tra thể thức, rà soát căn cứ pháp lý chiếm nhiều thời gian của chuyên viên và bộ phận thẩm định. - Mục tiêu: Rút ngắn thời gian lập, thẩm định và xử lý văn bản hành chính; nâng cao tính thống nhất về thể thức và chất lượng căn cứ pháp lý của văn bản do các đơn vị phát hành. - Tính năng chính: (i) hỗ trợ soạn dự thảo theo mẫu và theo loại văn bản, kế thừa dữ liệu từ hệ thống quản lý văn bản; (ii) kiểm tra tự động thể thức, kỹ thuật trình bày văn bản theo quy định hiện hành về công tác văn thư (Nghị định số 30/2020/NĐ-CP), cảnh báo lỗi cụ thể; (iii) đối chiếu căn cứ pháp lý: kiểm tra số hiệu, trích yếu, tình trạng hiệu lực của văn bản được viện dẫn trên cơ sở dữ liệu văn bản; (iv) tóm tắt văn bản đến và gợi ý phương án xử lý, dự thảo phiếu trình; (v) so sánh các phiên bản dự thảo, tổng hợp ý kiến góp ý của các đơn vị. - Quy trình sử dụng: Chuyên viên tạo dự thảo trên hệ thống (tự soạn hoặc dùng AI khởi tạo từ yêu cầu) → chạy kiểm tra thể thức và căn cứ pháp lý, xử lý các cảnh báo → trình lãnh đạo; bộ phận thẩm định sử dụng cùng công cụ để rà soát độc lập → hoàn thiện, phát hành theo quy trình văn thư. - Đối tượng và phạm vi áp dụng: Toàn thể công chức tham gia soạn thảo, xử lý văn bản; văn phòng và các bộ phận thẩm định văn bản tại các đơn vị. Người soạn thảo và người ký vẫn chịu trách nhiệm cuối cùng về nội dung, thể thức văn bản theo quy định. 3. Một số yêu cầu khi sử dụng các ứng dụng AI trong hoạt động công vụ Việc sử dụng AI tại Kiểm toán nhà nước phải đặt trong khuôn khổ pháp luật hiện hành, trọng tâm gồm: Pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước (Luật Bảo vệ bí mật nhà nước và các văn bản hướng dẫn; danh mục bí mật nhà nước thuộc lĩnh vực kiểm toán nhà nước): nghiêm cấm cung cấp, chuyển giao thông tin mật cho tổ chức, cá nhân không có thẩm quyền - bao gồm việc nhập vào hệ thống AI bên ngoài; Pháp luật về an toàn thông tin mạng, an ninh mạng: yêu cầu bảo vệ hệ thống thông tin theo cấp độ; kiểm soát luồng dữ liệu ra ngoài hệ thống; Pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân: dữ liệu cá nhân thu thập trong hoạt động kiểm toán (thông tin cán bộ, người nộp thuế, đối tượng thụ hưởng ngân sách…) chỉ được xử lý đúng mục đích; việc chuyển dữ liệu cá nhân vào dịch vụ AI có máy chủ ở nước ngoài tiềm ẩn vi phạm quy định về chuyển dữ liệu ra nước ngoài; Luật Kiểm toán nhà nước và Hệ thống chuẩn mực kiểm toán nhà nước: nghĩa vụ bảo mật thông tin của đơn vị được kiểm toán; trách nhiệm nghề nghiệp của kiểm toán viên đối với bằng chứng và kết luận kiểm toán; Quy chế, quy định nội bộ của Kiểm toán nhà nước về quản lý, sử dụng hệ thống công nghệ thông tin, hồ sơ kiểm toán và các văn bản chỉ đạo về ứng dụng AI (cập nhật theo hướng dẫn hiện hành của cơ quan tại từng thời điểm). Bên cạnh đó, cần nhận diện được các rủi ro khi sử dụng AI như: Lộ lọt bí mật nhà nước, bí mật nghiệp vụ; Vi phạm dữ liệu cá nhân; Ảo giác - sai lệch chuyên môn; Tấn công qua dữ liệu đầu vào (prompt injection); Phụ thuộc - suy giảm năng lực thẩm định; Mạo danh - lừa đảo bằng AI (deepfake); Rủi ro pháp lý về trách nhiệm. Do đó, kiểm toán viên cần tuân thủ quy tắc “10 không 5 phải” khi sử dụng AI. KHÔNG nhập thông tin thuộc danh mục bí mật nhà nước vào bất kỳ hệ thống AI nào chưa được phê duyệt riêng; KHÔNG nhập hồ sơ kiểm toán, dữ liệu của đơn vị được kiểm toán, dự thảo báo cáo chưa phát hành vào AI công cộng; KHÔNG nhập dữ liệu cá nhân (họ tên gắn với số định danh, tài khoản, thu nhập, sức khỏe…) vào AI công cộng; KHÔNG sử dụng tài khoản AI cá nhân/miễn phí cho công việc cơ quan; KHÔNG nhập mật khẩu, chuỗi kết nối, sơ đồ hạ tầng, địa chỉ máy chủ nội bộ vào prompt; KHÔNG đưa nguyên kết quả AI vào văn bản nghiệp vụ khi chưa kiểm chứng nguồn, số liệu, căn cứ pháp lý; KHÔNG dùng AI để đưa ra kết luận, ý kiến kiểm toán, xác định hành vi vi phạm thay cho xét đoán của kiểm toán viên; KHÔNG cài đặt ứng dụng, tiện ích AI không rõ nguồn gốc trên thiết bị công vụ; không cấp quyền truy cập hộp thư, ổ lưu trữ cơ quan cho dịch vụ AI chưa được phê duyệt; KHÔNG dùng AI tạo nội dung giả mạo văn bản, chữ ký, con dấu, hình ảnh, giọng nói dưới mọi hình thức, mục đích; KHÔNG che giấu việc sử dụng AI khi cấp có thẩm quyền yêu cầu báo cáo về quá trình tạo lập sản phẩm. PHẢI ẩn danh hóa, khái quát hóa dữ liệu trước khi tương tác với AI (kể cả với dữ liệu Cấp 2); PHẢI kiểm chứng độc lập mọi số liệu, trích dẫn pháp lý, kết quả tính toán do AI cung cấp trước khi sử dụng; PHẢI sử dụng đúng nền tảng, đúng tài khoản được cơ quan cấp và bật xác thực hai yếu tố; PHẢI báo cáo ngay đầu mối an toàn thông tin của đơn vị khi phát hiện hoặc nghi ngờ lộ lọt dữ liệu qua AI (kể cả do chính mình thao tác nhầm) để xử lý kịp thời; PHẢI chịu trách nhiệm cá nhân toàn diện về sản phẩm cuối cùng theo quy định về trách nhiệm công vụ và đạo đức nghề nghiệp kiểm toán viên nhà nước. Ứng dụng AI trong các hoạt động công cụ là xu hướng thời đại, là đòi hỏi khách quan của quá trình chuyển đổi số. Tuy nhiên, để AI thực sự là công cụ hỗ trợ đắc lực cho công việc, kiểm toán viên cần được trang bị kiến thức toàn diện về AI, đặc biệt là đạo đức AI.

Kiểm soát rủi ro trong giải ngân đầu tư công quy mô lớn: yêu cầu đổi mới hoạt động kiểm toán giai đoạn 2026-2030

         Giai đoạn 2026–2030, đầu tư công tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong phát triển kết cấu hạ tầng, tạo động lực tăng trưởng và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Với quy mô vốn đầu tư công rất lớn, cùng yêu cầu đẩy nhanh tiến độ thực hiện và giải ngân, rủi ro không chỉ nằm ở tình trạng chậm giải ngân mà còn ở nguy cơ chạy theo tiến độ, làm phát sinh thất thoát, lãng phí, tăng tổng mức đầu tư, giảm chất lượng công trình và hiệu quả sử dụng vốn. Bài viết phân tích các nhóm rủi ro chủ yếu trong toàn bộ chu trình đầu tư công, từ quyết định đầu tư, đấu thầu, thực hiện dự án đến thanh toán, quyết toán và khai thác công trình; đồng thời đề xuất đổi mới hoạt động kiểm toán theo hướng dựa trên rủi ro, tăng cường kiểm toán hoạt động, ứng dụng dữ liệu số và thiết lập cơ chế cảnh báo sớm. Trọng tâm là chuyển từ kiểm toán chủ yếu phát hiện sai phạm sau khi xảy ra sang góp phần phòng ngừa rủi ro, nâng cao trách nhiệm giải trình và giá trị đồng tiền của nguồn lực công.           Từ khóa: Đầu tư công; giải ngân; kiểm toán; kiểm soát rủi ro; kiểm toán hoạt động; hiệu quả đầu tư.           Áp lực giải ngân lớn và yêu cầu kiểm soát rủi ro mới           Giai đoạn 2026–2030 mở ra một chu kỳ đầu tư công có quy mô lớn. Quốc hội đã quyết định tổng mức vốn kế hoạch đầu tư công trung hạn nguồn ngân sách nhà nước giai đoạn 2026–2030 là 8,22 triệu tỷ đồng, trong đó ngân sách trung ương 3,8 triệu tỷ đồng và ngân sách địa phương 4,42 triệu tỷ đồng. Mục tiêu đặt ra là đưa tỷ trọng vốn đầu tư công lên khoảng 20–22% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, đồng thời phấn đấu tỷ lệ giải ngân hằng năm trên 95%. Riêng năm 2026, tổng kế hoạch vốn đầu tư công được giao đã vượt 1 triệu tỷ đồng. Đến hết tháng 8/2026, tỷ lệ giải ngân mới đạt xấp xỉ một nửa kế hoạch. Điều này đồng nghĩa với việc một khối lượng vốn rất lớn tiếp tục phải được đưa vào nền kinh tế trong những tháng còn lại. Trong bối cảnh đó, yêu cầu đẩy nhanh giải ngân là cần thiết. Đầu tư công chậm làm giảm hiệu quả sử dụng ngân sách, kéo dài thời gian thi công, gia tăng chi phí cơ hội và hạn chế khả năng dẫn dắt đầu tư xã hội. Tuy nhiên, nhìn từ góc độ kiểm toán, vấn đề không chỉ là giải ngân chậm. Khi chỉ tiêu giải ngân trở thành áp lực quá lớn, nguy cơ xuất hiện tâm lý “giải ngân bằng mọi giá” cũng cần được nhận diện. Áp lực hoàn thành kế hoạch có thể dẫn đến việc đẩy nhanh nghiệm thu, thanh toán khi hồ sơ chưa thật sự đầy đủ; điều chỉnh khối lượng, đơn giá hoặc hợp đồng chưa chặt chẽ; lựa chọn nhà thầu chưa đáp ứng đầy đủ năng lực; hay ưu tiên tiến độ trước mắt hơn chất lượng và hiệu quả dài hạn của công trình. Do đó, bài toán của giai đoạn 2026–2030 phải được đặt đầy đủ hơn: không chỉ giải ngân nhanh, mà phải giải ngân đúng, an toàn, tiết kiệm và tạo ra hiệu quả kinh tế - xã hội tương xứng với nguồn lực đã bỏ ra. Đây chính là điểm đặt ra yêu cầu phải đổi mới hoạt động kiểm toán nhà nước.           Rủi ro hình thành từ toàn bộ vòng đời dự án           Một hạn chế thường gặp trong quản lý đầu tư công là tập trung kiểm soát quá nhiều ở khâu thanh toán, quyết toán, trong khi nhiều nguyên nhân gây thất thoát và lãng phí đã hình thành từ trước đó.           Trước hết là rủi ro trong quyết định đầu tư. Nếu việc xác định nhu cầu đầu tư chưa chính xác, phương án kỹ thuật chưa tối ưu, dự báo lưu lượng hoặc nhu cầu sử dụng chưa sát thực tế, tổng mức đầu tư tính toán thiếu căn cứ thì rủi ro đã xuất hiện ngay từ giai đoạn chuẩn bị dự án.Một dự án được lựa chọn không đúng ưu tiên có thể vẫn giải ngân đầy đủ và đúng quy trình nhưng hiệu quả xã hội thấp. Ngược lại, một dự án thật sự cấp thiết nhưng chuẩn bị đầu tư không tốt có thể liên tục điều chỉnh, kéo dài tiến độ và đội vốn. Vì vậy, kiểm toán đầu tư công cần quan tâm nhiều hơn tới câu hỏi: Dự án có thực sự cần thiết hay không? Quy mô đầu tư có hợp lý không? Lợi ích dự kiến có tương xứng với chi phí ngân sách bỏ ra hay không? Nhóm rủi ro thứ hai nằm ở đấu thầu và quản lý hợp đồng. Khi hàng loạt dự án lớn được triển khai cùng thời điểm, năng lực nhà thầu, nguồn cung nhân công, thiết bị và vật liệu đều chịu áp lực. Rủi ro không chỉ là thông thầu, gian lận hoặc vi phạm quy trình đấu thầu, mà còn có thể xuất hiện ở việc chọn nhà thầu chào giá thấp nhưng năng lực thực hiện hạn chế, dẫn đến chậm tiến độ và phát sinh điều chỉnh sau đó. Đặc biệt cần chú ý đến tình trạng tăng khối lượng, điều chỉnh hợp đồng, bổ sung hạng mục hoặc thay đổi thiết kế sau đấu thầu. Đây là những khu vực có mức độ rủi ro cao đối với chi phí đầu tư.           Nhóm rủi ro thứ ba liên quan đến giải phóng mặt bằng, vật liệu và điều kiện thi công. Nhiều dự án giao thông lớn phụ thuộc mạnh vào tiến độ bàn giao mặt bằng, nguồn cát, đá, đất đắp và sự phối hợp giữa nhiều địa phương. Chậm ở một khâu có thể làm chậm cả dự án. Khi phải bù tiến độ trong thời gian ngắn, nguy cơ chi phí tăng, quản lý chất lượng không chặt hoặc thay đổi phương án thi công cũng tăng theo.           Nhóm rủi ro thứ tư là dồn giải ngân vào cuối năm. Nếu phần lớn vốn được giải ngân trong thời gian ngắn, cơ quan quản lý dễ tập trung vào tỷ lệ hoàn thành kế hoạch vốn mà xem nhẹ chất lượng của khối lượng đã nghiệm thu.           Ở đây cần phân biệt rõ: giải ngân là đầu vào tài chính, không phải kết quả cuối cùng của đầu tư công. Một dự án có thể giải ngân hết vốn nhưng nếu chậm khai thác, công suất sử dụng thấp, chi phí duy tu cao hoặc không tạo ra lợi ích kinh tế - xã hội như dự kiến thì chưa thể coi là thành công.           Kiểm toán cần chuyển mạnh sang phương pháp dựa trên rủi ro           Trước quy mô đầu tư công ngày càng lớn, hoạt động kiểm toán không thể dàn đều nguồn lực cho mọi chương trình, dự án. Kế hoạch kiểm toán năm 2026 của Kiểm toán nhà nước đã tập trung hơn vào các chuyên đề, dự án quan trọng quốc gia và những lĩnh vực có rủi ro cao. Đồng thời, việc xây dựng kế hoạch kiểm toán trung hạn giai đoạn 2026–2028 tạo điều kiện để tăng tính chủ động trong lựa chọn đối tượng kiểm toán.           Tuy nhiên, trong giai đoạn tới cần tiến thêm một bước: chuyển từ lựa chọn đối tượng kiểm toán theo kinh nghiệm và chu kỳ sang quản trị danh mục kiểm toán dựa trên mức độ rủi ro. Theo đó, cần xây dựng hệ thống chỉ báo nhận diện dự án có nguy cơ cao, chẳng hạn: Quy mô vốn lớn; tổng mức đầu tư tăng nhiều lần; tiến độ kéo dài; tỷ lệ giải ngân bất thường; tạm ứng cao; thay đổi thiết kế nhiều; giá trúng thầu sát giá gói thầu; tập trung nhiều hợp đồng vào một nhóm nhà thầu; phát sinh khối lượng lớn; hoặc đơn vị có nhiều kiến nghị kiểm toán chưa được thực hiện. Thông qua chấm điểm rủi ro, Kiểm toán nhà nước có thể tập trung nhân lực vào những nơi khả năng xảy ra sai phạm hoặc thất thoát lớn nhất. Cách tiếp cận này vừa nâng cao hiệu quả kiểm toán, vừa phù hợp với thực tế nguồn lực kiểm toán luôn có giới hạn trong khi phạm vi đầu tư công rất rộng.           Hướng tới kiểm toán toàn bộ vòng đời dự án           Để nâng cao hiệu quả kiểm soát, có thể tiếp cận hoạt động kiểm toán đầu tư công theo 5 tầng liên tục. Tầng thứ nhất là kiểm toán quyết định đầu tư và phân bổ vốn. Trọng tâm là xem xét cơ sở lựa chọn dự án, tính cần thiết, dự báo nhu cầu, khả năng cân đối vốn, phương án kỹ thuật và hiệu quả kinh tế - xã hội. Tầng thứ hai là kiểm toán công tác chuẩn bị đầu tư và đấu thầu. Cần tập trung vào chất lượng khảo sát, lập thiết kế, dự toán, hồ sơ mời thầu, lựa chọn nhà thầu và các điều khoản hợp đồng có nguy cơ làm tăng chi phí về sau. Tầng thứ ba là kiểm toán quá trình thực hiện và giải ngân. Đây là khu vực kiểm toán truyền thống, nhưng cần ứng dụng mạnh dữ liệu số để phát hiện bất thường về khối lượng, đơn giá, nghiệm thu, tạm ứng, điều chỉnh hợp đồng và thanh toán. Tầng thứ tư là kiểm toán kết quả và hiệu quả khai thác. Đây là nội dung cần được tăng cường trong giai đoạn tới. Kiểm toán không chỉ hỏi công trình đã hoàn thành hay chưa, mà phải đánh giá tài sản công hình thành có phát huy công suất không, có giải quyết được điểm nghẽn phát triển không và hiệu quả thực tế có tương xứng với vốn đầu tư không. Tầng thứ năm là kiểm toán chính sách. Từ kết quả nhiều cuộc kiểm toán, cần nhận diện những hạn chế có tính hệ thống về định mức, đấu thầu, định giá, hợp đồng, phân cấp hoặc bố trí vốn để kiến nghị sửa đổi chính sách. Như vậy, giá trị của kiểm toán không chỉ nằm ở phát hiện từng sai phạm cụ thể mà còn ở khả năng ngăn ngừa những sai lệch mang tính hệ thống.           Đẩy mạnh kiểm toán hoạt động và đánh giá “giá trị đồng tiền”           Một thay đổi quan trọng trong giai đoạn 2026–2030 là cần tăng tỷ trọng kiểm toán hoạt động. Nếu kiểm toán tuân thủ chủ yếu trả lời câu hỏi “có làm đúng quy định không?”, thì kiểm toán hoạt động phải trả lời thêm hai câu hỏi quan trọng hơn: “có làm hiệu quả không?” và “nguồn lực công có tạo ra giá trị tương xứng không?” Theo thông lệ kiểm toán công quốc tế, kiểm toán hoạt động tập trung vào ba khía cạnh: tính kinh tế, tính hiệu quả và tính hiệu lực. Áp dụng vào đầu tư công, một dự án giao thông chẳng hạn không nên chỉ được đánh giá bằng tỷ lệ giải ngân hoặc mức độ tuân thủ hồ sơ. Cần xem xét cả chi phí trên một đơn vị chiều dài, thời gian di chuyển giảm bao nhiêu, năng lực vận tải tăng thế nào, chi phí logistics thay đổi ra sao, lưu lượng thực tế so với dự báo và khả năng kết nối các vùng kinh tế. Điều này đặc biệt quan trọng vì trong giai đoạn đầu tư công quy mô lớn, rủi ro lớn nhất không chỉ là tiền bị chi sai mà còn là tiền được chi đúng thủ tục nhưng tạo ra hiệu quả thấp.           Dữ liệu số phải trở thành công cụ cảnh báo sớm           Một khối lượng đầu tư hàng triệu tỷ đồng không thể được kiểm toán hiệu quả nếu phương thức chủ yếu vẫn là kiểm tra thủ công sau khi các nghiệp vụ đã kết thúc. Kiểm toán nhà nước cần từng bước xây dựng hệ thống dữ liệu kết nối với cơ sở dữ liệu đầu tư công, Kho bạc Nhà nước, đấu thầu, thuế, đất đai, giá vật liệu và quản lý dự án. Mỗi dự án cần có mã định danh thống nhất để theo dõi từ khi phê duyệt chủ trương đầu tư, bố trí vốn, đấu thầu, thi công, giải ngân đến quyết toán. Trên cơ sở đó, có thể thiết lập các chỉ báo cảnh báo tự động, chẳng hạn giải ngân tăng đột biến vào cuối kỳ; dự án điều chỉnh tổng mức đầu tư nhiều lần; nhà thầu cùng lúc trúng quá nhiều gói; tỷ lệ tiết kiệm đấu thầu rất thấp; hoặc tạm ứng kéo dài bất thường. Cách tiếp cận này cho phép kiểm toán chuyển dần từ “kiểm tra toàn bộ hồ sơ” sang phân tích dữ liệu để tìm ngoại lệ và điểm bất thường. Đây cũng là nền tảng để hình thành mô hình kiểm toán liên tục và cảnh báo sớm.           Kiểm toán từ sớm nhưng không làm thay cơ quan quản lý           Phòng ngừa một quyết định đầu tư sai thường hiệu quả hơn nhiều so với phát hiện sai phạm sau khi dự án đã hoàn thành. Vì vậy, tăng cường kiểm toán đối với dự án ngay từ giai đoạn đầu là cần thiết. Tuy nhiên, phải bảo đảm ranh giới giữa kiểm toán và quản lý. Kiểm toán nhà nước không nên trở thành cơ quan thẩm định hoặc “phê duyệt trước” cho chủ đầu tư. Nếu tham gia trực tiếp vào việc lựa chọn phương án và ra quyết định, tính độc lập của kiểm toán có thể bị ảnh hưởng. Do đó, “kiểm toán từ sớm” nên được hiểu là nhận diện rủi ro từ sớm, đánh giá hệ thống kiểm soát từ sớm và cảnh báo từ sớm, chứ không làm thay trách nhiệm của cơ quan quản lý.           Đổi thước đo từ giải ngân sang hiệu quả đầu tư           Tỷ lệ giải ngân là chỉ tiêu cần thiết nhưng không nên trở thành thước đo duy nhất.Trong giai đoạn 2026–2030, cần từng bước chuyển sang hệ chỉ tiêu cân bằng hơn giữa tiến độ, chi phí, chất lượng, hiệu quả và tác động xã hội. Đối với Kiểm toán nhà nước cũng vậy, hiệu quả hoạt động không nên chỉ được nhìn qua số tiền kiến nghị xử lý tài chính. Một kiến nghị kiểm toán giúp sửa đổi một cơ chế gây lãng phí hàng nghìn tỷ đồng trong tương lai có thể tạo giá trị lớn hơn nhiều so với việc phát hiện một khoản sai phạm đã xảy ra. Vì vậy, ngoài số tiền tăng thu, giảm chi, cần quan tâm thêm các chỉ tiêu như giá trị thất thoát được ngăn ngừa, số bất cập chính sách được sửa đổi, tỷ lệ thực hiện kiến nghị kiểm toán và mức độ cải thiện hiệu quả quản trị của đơn vị được kiểm toán.           Một số kiến nghị           Để kiểm soát tốt rủi ro đầu tư công trong giai đoạn 2026–2030, cần tập trung vào một số định hướng. Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện lập kế hoạch kiểm toán dựa trên rủi ro, ưu tiên những dự án lớn, phức tạp, có nhiều lần điều chỉnh hoặc dấu hiệu bất thường. Thứ hai, tăng cường kiểm toán hoạt động, đặc biệt đối với các chương trình và dự án đã hoàn thành để đánh giá đầy đủ hiệu quả kinh tế - xã hội.Thứ ba, xây dựng hệ thống dữ liệu và bản đồ rủi ro đầu tư công, hỗ trợ kiểm toán viên phát hiện sớm các giao dịch và dự án bất thường. Thứ tư, hoàn thiện quy định về sử dụng dữ liệu điện tử, BIM, dữ liệu địa không gian, hình ảnh viễn thám và kết quả của chuyên gia độc lập làm bằng chứng kiểm toán. Thứ năm, phát triển đội ngũ kiểm toán viên theo hướng đa ngành. Kiểm toán các dự án cao tốc, sân bay, đường sắt, năng lượng hay hạ tầng số đòi hỏi không chỉ kiến thức tài chính - kế toán mà cả kỹ thuật, công nghệ, hợp đồng và phân tích dự án. Cuối cùng, cần tăng cường theo dõi thực hiện kiến nghị kiểm toán. Kiến nghị chỉ thực sự có giá trị khi được chuyển hóa thành thay đổi trong quản lý và ngăn ngừa sai phạm tái diễn.           Kết luận           Giai đoạn 2026–2030 là giai đoạn Việt Nam sử dụng một lượng nguồn lực công rất lớn cho phát triển kết cấu hạ tầng và tạo động lực tăng trưởng mới. Quy mô đầu tư càng lớn thì yêu cầu kiểm soát thất thoát, lãng phí và hiệu quả sử dụng vốn càng cao. Bài toán đặt ra không phải lựa chọn giữa giải ngân nhanh và kiểm soát chặt, mà phải thực hiện đồng thời cả hai. Trong bối cảnh đó, Kiểm toán nhà nước cần chuyển mạnh từ phương thức chủ yếu phát hiện sai phạm sau khi xảy ra sang kiểm toán dựa trên rủi ro, tăng kiểm toán hoạt động, ứng dụng dữ liệu lớn và thiết lập cơ chế cảnh báo sớm. Nếu nguồn vốn đầu tư công giai đoạn 2026–2030 được coi là một nguồn lực quan trọng để kiến tạo năng lực phát triển mới, thì yêu cầu đối với hoạt động kiểm toán cũng cần được nâng lên một cấp độ mới. Không chỉ kiểm toán xem “đồng tiền đã được chi đúng hay chưa”, mà phải ngày càng trả lời rõ hơn câu hỏi: “đồng tiền công đã tạo ra giá trị gì, với chi phí nào và đem lại lợi ích thực chất gì cho nền kinh tế và người dân?”Đó cũng là nội dung cốt lõi của đổi mới hoạt động kiểm toán đầu tư công trong giai đoạn 2026–2030.           Tài liệu tham khảo 1.     Quốc hội (2026), Nghị quyết về Kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026–2030. 2.     Chính phủ, Bộ Tài chính (2026), Các báo cáo về tình hình phân bổ và giải ngân vốn đầu tư công năm 2026. 3.     Kiểm toán nhà nước (2020), Chiến lược phát triển Kiểm toán nhà nước đến năm 2030. 4.     Kiểm toán nhà nước (2026), Kế hoạch kiểm toán năm 2026 và Kế hoạch kiểm toán trung hạn giai đoạn 2026–2028. 5.     INTOSAI, ISSAI 300 – Performance Audit Principles.

Minh bạch thông tin tài chính sau nâng hạng thị trường chứng khoán: Những vấn đề đặt ra đối với chất lượng kiểm toán tại Việt Nam

Việc thị trường chứng khoán Việt Nam chính thức được FTSE Russell nâng hạng từ thị trường cận biên lên thị trường mới nổi thứ cấp từ ngày 21/9/2026, mở ra cơ hội thu hút dòng vốn quốc tế và nâng cao vai trò của thị trường vốn trong nền kinh tế. Tuy nhiên, nâng hạng cũng đồng nghĩa với “nâng hạng về kỳ vọng”: nhà đầu tư quốc tế đòi hỏi chất lượng công bố thông tin, quản trị doanh nghiệp và độ tin cậy của báo cáo tài chính ở mức cao hơn. Trong bối cảnh đó, chất lượng kiểm toán độc lập không còn đơn thuần là vấn đề tuân thủ mà trở thành một cấu phần quan trọng của hạ tầng niềm tin thị trường. Bài viết phân tích những sức ép mới đối với hoạt động kiểm toán tại Việt Nam và đề xuất một số định hướng chính sách nhằm nâng chất lượng kiểm toán tương xứng với vị thế mới của thị trường chứng khoán. Từ khóa: thị trường chứng khoán, nâng hạng, minh bạch tài chính, kiểm toán độc lập, chất lượng kiểm toán, nhà đầu tư. Từ nâng hạng thị trường đến nâng chuẩn minh bạch Ngày 21/9/2026 đánh dấu một bước chuyển quan trọng khi Việt Nam chính thức được FTSE Russell chuyển từ thị trường cận biên sang thị trường mới nổi thứ cấp và bắt đầu tham gia FTSE Global Equity Index Series. Theo kế hoạch của FTSE Russell, quá trình đưa cổ phiếu Việt Nam vào các chỉ số toàn cầu được triển khai theo bốn đợt: 10% trọng số có thể đầu tư trong tháng 9/2026, thêm 20% vào tháng 3/2027, 35% vào tháng 6/2027 và 35% còn lại vào tháng 9/2027. Ý nghĩa của sự kiện này không chỉ nằm ở khả năng thu hút thêm dòng vốn. FTSE Russell hiện cung cấp các chỉ số được sử dụng làm chuẩn tham chiếu cho hơn 22 nghìn tỷ USD tài sản trên toàn cầu. Khi chứng khoán Việt Nam đi sâu hơn vào hệ thống các chỉ số quốc tế, doanh nghiệp niêm yết cũng đồng thời bước vào “tầm ngắm” thường xuyên hơn của các quỹ đầu tư tổ chức, công ty quản lý tài sản, ngân hàng lưu ký và các nhà phân tích chuyên nghiệp. Quy mô thị trường càng lớn thì hệ quả của thông tin sai lệch càng lớn. Cuối năm 2025, vốn hóa thị trường cổ phiếu trên HOSE, HNX và UPCoM đạt khoảng 9.975 nghìn tỷ đồng, tăng 39,1% so với cuối năm 2024 và tương đương khoảng 77,6% GDP ước tính năm 2025. Đến ngày 30/6/2026, vốn hóa tiếp tục đạt khoảng 10,6 triệu tỷ đồng. Do đó, sau nâng hạng, vấn đề cốt lõi không còn chỉ là thị trường “lớn đến đâu”, mà là thông tin định giá hàng chục triệu tỷ đồng tài sản tài chính đáng tin cậy đến mức nào. Cần đặc biệt lưu ý rằng việc FTSE Russell nâng hạng chủ yếu phản ánh những tiến bộ về khả năng tiếp cận thị trường, cơ chế giao dịch, thanh toán, mô hình nhà môi giới toàn cầu và việc tháo gỡ yêu cầu ký quỹ trước đối với nhà đầu tư tổ chức nước ngoài. Nâng hạng không có nghĩa FTSE Russell đã “chứng nhận” toàn bộ chất lượng báo cáo tài chính hoặc chất lượng kiểm toán của doanh nghiệp Việt Nam. Chính vì vậy, sau khi nút thắt về khả năng tiếp cận thị trường từng bước được tháo gỡ, chất lượng thông tin doanh nghiệp có thể trở thành một trong những nút thắt tiếp theo quyết định chất lượng thực chất của thị trường mới nổi Việt Nam. Minh bạch không chỉ là công bố nhiều thông tin hơn Việt Nam đã có bước tiến quan trọng về công bố thông tin. Theo Thông tư số 68/2024/TT-BTC, từ ngày 01/01/2025, tổ chức niêm yết và công ty đại chúng quy mô lớn phải công bố thông tin định kỳ đồng thời bằng tiếng Anh. Từ ngày 01/01/2026, yêu cầu này được mở rộng sang thông tin bất thường, thông tin theo yêu cầu và các hoạt động khác. Lộ trình tiếp tục mở rộng tới các công ty đại chúng còn lại vào năm 2027 và 2028. Đây là thay đổi cần thiết để giảm bất cân xứng thông tin giữa nhà đầu tư trong nước và nước ngoài. Nhưng cần phân biệt công bố thông tin với minh bạch thông tin. Một doanh nghiệp có thể công bố đúng hạn hàng trăm trang tài liệu nhưng nhà đầu tư vẫn khó đánh giá nếu các giả định kế toán thiếu căn cứ, giao dịch với bên liên quan chưa được phản ánh đầy đủ, dòng tiền không tương xứng với lợi nhuận, tài sản được định giá dựa trên những giả định khó kiểm chứng hoặc báo cáo tiếng Anh không hoàn toàn thống nhất về nội dung với bản tiếng Việt. Thực tế cho thấy khoảng cách này vẫn tồn tại. Tại Hội nghị Doanh nghiệp thường niên năm 2025, HNX cho biết tỷ lệ vi phạm công bố thông tin định kỳ trên thị trường niêm yết dao động khoảng 4,3%-5% tổng số tin định kỳ, trong khi trên UPCoM lên tới 14%-15%. Một số cổ phiếu bị đưa vào diện theo dõi do chậm công bố báo cáo tài chính, báo cáo tài chính bị kiểm toán từ chối đưa ra ý kiến, có ý kiến trái ngược hoặc ý kiến ngoại trừ. Những con số đó cho thấy yêu cầu sau nâng hạng phải chuyển từ tư duy “có công bố hay không” sang “thông tin được công bố có đủ tin cậy để nhà đầu tư ra quyết định hay không”. Và đây chính là điểm chất lượng kiểm toán trở nên đặc biệt quan trọng. Chất lượng kiểm toán phải trở thành một bộ phận của hạ tầng thị trường vốn Trong một thị trường mới nổi có mức độ hội nhập cao hơn, báo cáo kiểm toán không thể chỉ được nhìn như thủ tục cuối cùng trước khi doanh nghiệp hoàn thành nghĩa vụ công bố báo cáo tài chính. Chức năng kinh tế quan trọng nhất của kiểm toán là làm giảm rủi ro thông tin giữa doanh nghiệp huy động vốn và người cung cấp vốn. Nếu thị trường không tin vào chất lượng số liệu, nhà đầu tư sẽ yêu cầu một “phần bù rủi ro thông tin” cao hơn. Chi phí vốn của doanh nghiệp vì vậy có thể tăng, định giá bị chiết khấu và lợi ích của nâng hạng bị giảm bớt. Ngược lại, báo cáo tài chính có độ tin cậy cao giúp thị trường định giá tài sản tốt hơn, dòng vốn được phân bổ hiệu quả hơn và những doanh nghiệp quản trị tốt có cơ hội tiếp cận vốn với chi phí hợp lý hơn. Trong giai đoạn mới, ít nhất bốn nhóm vấn đề đặt ra trực tiếp đối với chất lượng kiểm toán Việt Nam. Trước hết là chất lượng đánh giá những khoản mục chứa nhiều xét đoán và ước tính kế toán. Khi doanh nghiệp ngày càng mở rộng sang bất động sản, ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm, năng lượng, công nghệ và các công cụ tài chính phức tạp, kiểm toán viên phải đối diện nhiều hơn với giá trị hợp lý, dự phòng tổn thất, suy giảm giá trị tài sản, ghi nhận doanh thu, vốn hóa chi phí, định giá tài sản tài chính và giả định hoạt động liên tục. Đây là những khu vực mà sai lệch đôi khi không xuất hiện dưới hình thức một con số “sai” rõ ràng, mà nằm trong việc lựa chọn giả định quá lạc quan. Thứ hai là giao dịch với bên liên quan và cấu trúc sở hữu phức tạp. Đối với nhà đầu tư quốc tế, lợi ích của cổ đông thiểu số, giao dịch nội bộ, chuyển giao tài sản, cho vay và bảo lãnh giữa các bên có liên quan là những vấn đề được xem xét rất kỹ. Kiểm toán vì vậy phải đi xa hơn kiểm tra chứng từ đơn lẻ, hướng tới nhận diện bản chất kinh tế của giao dịch, chủ thể hưởng lợi cuối cùng và những giao dịch có khả năng làm sai lệch bức tranh tài chính. Thứ ba là rủi ro gian lận và khả năng duy trì tính độc lập nghề nghiệp. Chất lượng kiểm toán sẽ khó được bảo đảm nếu thời gian kiểm toán quá ngắn, phí kiểm toán không tương xứng với mức độ phức tạp, doanh nghiệp kiểm toán phụ thuộc kinh tế quá lớn vào một khách hàng hoặc quan hệ cung cấp dịch vụ phi kiểm toán làm suy giảm tính độc lập. Đây không chỉ là vấn đề đạo đức nghề nghiệp mà còn là bài toán thiết kế thị trường dịch vụ kiểm toán. Thứ tư là năng lực kiểm toán trong môi trường số. Khi hệ thống KRX (hệ thống công nghệ thông tin mới phục vụ giao dịch, thanh toán, bù trừ và quản lý thị trường chứng khoán)đã đi vào vận hành, giao dịch chứng khoán và quản trị doanh nghiệp ngày càng dựa trên hệ thống ERP (hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp) dữ liệu lớn, nền tảng số và xử lý tự động, kiểm toán dựa quá nhiều vào chọn mẫu chứng từ truyền thống sẽ ngày càng bộc lộ hạn chế. Kiểm toán viên phải có khả năng đánh giá kiểm soát công nghệ thông tin, phân tích dữ liệu toàn bộ quần thể giao dịch, phát hiện giao dịch bất thường và kiểm tra tính toàn vẹn của dữ liệu. Áp lực nguồn lực cũng đáng lưu ý. Trong quá trình xây dựng quy định mới năm 2026, Bộ Tài chính cho biết có khoảng 230 doanh nghiệp kiểm toán được lấy ý kiến đối với dự án sửa đổi Luật Kế toán và Luật Kiểm toán độc lập; trong một hồ sơ chính sách khác, Bộ Tài chính xác định 35 doanh nghiệp kiểm toán đang được chấp thuận thực hiện kiểm toán cho đơn vị có lợi ích công chúng. Điều đó cho thấy kiểm toán các đơn vị có lợi ích công chúng là một phân khúc đòi hỏi điều kiện và năng lực cao hơn đáng kể so với thị trường kiểm toán nói chung. Cần chuyển từ “kiểm soát tuân thủ” sang “giám sát chất lượng kiểm toán dựa trên rủi ro” Trong giai đoạn sau nâng hạng, chính sách đối với kiểm toán cần được nhìn như một phần của chính sách phát triển thị trường vốn. Trước hết, cần đẩy nhanh việc cập nhật hệ thống chuẩn mực kiểm toán và chuẩn mực quản lý chất lượng theo thông lệ quốc tế. Bộ Tài chính đã xây dựng Dự thảo 31 chuẩn mực kiểm toán Việt Nam mới và 2 chuẩn mực quản lý chất lượng, với định hướng áp dụng từ năm 2027. Đây là bước đi rất quan trọng bởi mô hình quản lý chất lượng hiện đại không chỉ yêu cầu doanh nghiệp kiểm toán kiểm tra hồ sơ sau khi hoàn thành mà phải chủ động xác định, đánh giá và xử lý rủi ro chất lượng ngay từ cấp độ doanh nghiệp kiểm toán. Thứ hai, cần tăng cường giám sát dựa trên rủi ro đối với kiểm toán doanh nghiệp niêm yết và đơn vị có lợi ích công chúng. Thay vì phân bổ nguồn lực kiểm tra tương đối đồng đều, cơ quan quản lý có thể tập trung vào các doanh nghiệp có tốc độ tăng trưởng bất thường, giao dịch bên liên quan lớn, thay đổi kiểm toán viên thường xuyên, chênh lệch lớn giữa lợi nhuận và dòng tiền, ý kiến kiểm toán biến động qua các năm hoặc hoạt động trong ngành có mức độ ước tính kế toán cao. Kết quả kiểm tra chất lượng cũng nên được công khai ở mức phù hợp theo hướng cung cấp cho thị trường những chỉ báo tổng hợp về loại sai sót phổ biến, mức độ khắc phục và xu hướng chất lượng của ngành kiểm toán. Minh bạch về chất lượng kiểm toán sẽ tạo áp lực thị trường để doanh nghiệp niêm yết lựa chọn kiểm toán viên dựa trên năng lực thay vì chủ yếu dựa vào mức phí. Thứ ba, cần nâng vai trò của Ủy ban kiểm toán và hội đồng quản trị độc lập trong việc lựa chọn, giám sát và đánh giá kiểm toán độc lập. Quan hệ giữa kiểm toán viên với doanh nghiệp không nên chỉ là quan hệ giữa bên cung cấp và bên mua dịch vụ. Người sử dụng thực sự của báo cáo kiểm toán là cổ đông và thị trường. Vì vậy, cơ chế lựa chọn kiểm toán viên phải giảm khả năng ban điều hành gây ảnh hưởng đến người có trách nhiệm kiểm tra chính báo cáo do ban điều hành lập ra. Thứ tư, phải gắn cải cách kiểm toán với lộ trình hội nhập chuẩn mực kế toán quốc tế. Năm 2026, Bộ Tài chính tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý về áp dụng chuẩn mực quốc tế về kế toán tại Việt Nam. Khi doanh nghiệp từng bước tiếp cận IFRS, kiểm toán viên cũng phải đủ năng lực xử lý các mô hình định giá, công cụ tài chính, hợp nhất kinh doanh, suy giảm giá trị và công bố thông tin theo thông lệ quốc tế. Thứ năm, cần đặt ra chuẩn cao hơn đối với tính nhất quán giữa thông tin tài chính tiếng Việt và tiếng Anh. Công bố bằng tiếng Anh không đơn thuần là dịch thuật. Những khái niệm kế toán, giải trình ý kiến kiểm toán, vấn đề kiểm toán trọng yếu và thuyết minh rủi ro nếu được chuyển ngữ không chính xác có thể dẫn nhà đầu tư nước ngoài tới cách hiểu khác. Đây là một khía cạnh mới của rủi ro thông tin cần được doanh nghiệp, kiểm toán viên và cơ quan quản lý quan tâm. Đồng thời, đối với các doanh nghiệp nhà nước đã niêm yết hoặc doanh nghiệp có vốn nhà nước lớn, cần tăng hiệu quả phối hợp và chia sẻ tín hiệu rủi ro giữa cơ quan quản lý chứng khoán, cơ quan quản lý kế toán - kiểm toán, Kiểm toán nhà nước và kiểm toán độc lập, trên nguyên tắc rõ chức năng và không làm phát sinh kiểm tra chồng chéo. Nâng hạng bền vững phải bắt đầu từ nâng chất lượng niềm tin Chiến lược phát triển thị trường chứng khoán đến năm 2030 đặt mục tiêu quy mô vốn hóa thị trường cổ phiếu đạt 120% GDP vào năm 2030. Nhưng một thị trường vốn phát triển không thể chỉ được đo bằng vốn hóa, số tài khoản hay thanh khoản. Giá trị sâu xa của thị trường nằm ở khả năng chuyển tiết kiệm thành đầu tư dựa trên thông tin đáng tin cậy. Vì vậy, sau ngày 21/9/2026, câu hỏi cần đặt ra không nên chỉ là “nâng hạng sẽ mang thêm bao nhiêu vốn vào Việt Nam?”, mà phải là “Việt Nam sẽ làm gì để giữ được niềm tin của dòng vốn đó?” Câu trả lời nằm một phần rất quan trọng ở chất lượng kiểm toán. Nếu nâng hạng thị trường giúp Việt Nam mở rộng cánh cửa với dòng vốn quốc tế, thì minh bạch tài chính và kiểm toán chất lượng cao chính là nền móng để cánh cửa ấy duy trì mở trong dài hạn. Một thị trường mới nổi thực sự không chỉ cần hệ thống giao dịch hiện đại, cơ chế thanh toán thuận lợi hay khả năng tiếp cận tốt hơn đối với nhà đầu tư nước ngoài, mà còn cần một hạ tầng niềm tin đủ mạnh. Trong hạ tầng đó, doanh nghiệp chịu trách nhiệm về tính trung thực của báo cáo tài chính; hội đồng quản trị và ủy ban kiểm toán chịu trách nhiệm giám sát; kiểm toán độc lập cung cấp sự bảo đảm nghề nghiệp; cơ quan quản lý giám sát chất lượng và xử lý vi phạm; còn thị trường thực hiện chức năng định giá. Khi từng mắt xích vận hành đúng vai trò, nâng hạng mới có thể chuyển hóa từ một danh xưng quốc tế thành năng lực thực sự của thị trường vốn Việt Nam. Và xét ở góc độ đó, nâng cao chất lượng kiểm toán sau nâng hạng không phải là yêu cầu riêng của ngành kiểm toán, mà là điều kiện để bảo vệ nhà đầu tư, giảm chi phí vốn, nâng hiệu quả phân bổ nguồn lực và củng cố sự phát triển bền vững của thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn mới. Tài liệu tham khảo 1. FTSE Russell. (2026). Reclassification of Vietnam from Frontier to Secondary Emerging Market Status - FAQ. LSEG,  tháng 4 năm 2026; 2.  Bộ Tài chính. (2024). Thông tư số 68/2024/TT-BTC sửa đổi, bổ sung một số điều của các Thông tư quy định về giao dịch chứng khoán trên hệ thống giao dịch chứng khoán; bù trừ và thanh toán giao dịch chứng khoán; hoạt động của công ty chứng khoán và công bố thông tin trên thị trường chứng khoán, ngày 18 tháng 9 năm 2024; 3. Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội. (2025). Hội nghị Doanh nghiệp thường niên năm 2025; 4. Bộ Tài chính - Cục Quản lý, giám sát kế toán, kiểm toán. (2025-2026). Dự thảo Thông tư ban hành 31 Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam và Dự thảo Thông tư ban hành 02 Chuẩn mực quản lý chất lượng Việt Nam.; 5.  Thủ tướng Chính phủ. (2023). Quyết định số 1726/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển thị trường chứng khoán đến năm 2030,  ngày 29 tháng 12 năm 2023.