Ngày 17/4/2024 Bộ Tài chính ban hành hệ thống tài khoản kế toán hành chính sự nghiệp kèm theo Thông tư 24/2024/TT-BTC (sau đây gọi tắt là Thông tư 24). Thông tư 24 được ban hành nhằm thay thế 4 thông tư: Thông tư số 107/2017/TT-BTC hướng dẫn chế độ kế toán hành chính, sự nghiệp (sau đây gọi tắt là Thông tư 107); Thông tư số 108/2018/TT-BTC hướng dẫn kế toán dự trữ quốc gia; Thông tư số 79/2019/TT-BTC hướng dẫn chế độ kế toán áp dụng cho ban quản lý dự án sử dụng vốn đầu tư công và Thông tư số 76/2019/TT-BTC hướng dẫn kế toán tài sản kết cấu hạ tầng giao thông, thủy lợi. Bài viết tóm tắt khái quát sự thay đổi của Hệ thống tài khoản kế toán ban hành kèm theo Thông tư 24 so với Thông tư 107.
Từ khoá: Thông tư 24/2024/ TT-BTC, Thông tư 107/2017/TT-BTC , Chế độ kế toán hành chính sự nghiệp…
1. Giới thiệu sơ lược Thông tư 24/2024/ TT-BTC hướng dẫn chế độ kế toán hành chính sự nghiệp
Thông tư 24 ban hành ngày 17/4/2024, bắt đầu áp dụng từ 01/01/2025 cho các đối tượng kế toán là cơ quan nhà nước (trừ uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn sử dụng ngân sách cấp xã) và các đơn vị sự nghiệp công lập (trừ một số đơn vị cụ thể); các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và tổ chức, cơ quan, đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước hoặc thực hiện cơ chế tài chính của đơn vị sự nghiệp. Ngoài ra, Thông tư 24 cũng bổ sung đơn vị kế toán là các đơn vị hạch toán phụ thuộc và đầu mối chi tiêu. Về các quy định khái quát như sau:
Về chứng từ kế toán: Thông tư 24 không quy định cụ thể mẫu chứng từ mà do đơn vị kế toán chủ động thiết kế theo quy định để phù hợp với yêu cầu quản lý và kế toán của đơn vị. Chứng từ thiết kế đảm bảo phản ánh đúng bản chất nghiệp vụ và đáp ứng các yêu cầu của Luật Kế toán. Thông tư cũng quy định về yêu cầu quản lý chặt chẽ, an toàn đối với các chứng từ kế toán in sẵn hoặc quy định riêng biệt tại các đơn vị kế toán sử dụng theo quy định riêng có liên quan.
Về hệ thống tài khoản kế toán: Thông tư 24 ban hành Hệ thống tài khoản kế toán bao gồm các tài khoản trong bảng và các tài khoản ngoại bảng, quy định cụ thể nguyên tắc, nội dung hạch toán các tài khoản. Trường hợp cần bổ sung tài khoản ngang cấp với các tài khoản đã được quy định trong danh mục hệ thống tài khoản kế toán ban hành kèm theo Thông tư này đơn vị phải thực hiện theo quy định tại Luật Kế toán.

Về sổ sách kế toán: Thông tư 24 quy định danh mục sổ kế toán, giải thích nội dung và phương pháp ghi sổ kế toán, tuy nhiên không yêu cầu đơn vị thực hiện mẫu biểu bắt buộc để các đơn vị chủ động thiết kế mẫu sổ phù hợp với yêu cầu quản lý. Đặc biệt, Thông tư nhấn mạnh quy định về giá ghi sổ đối với các trường hợp tài sản chưa xác định được giá chính thức là giá tạm tính và thực hiện điều chỉnh khi có giá chính thức.
Về báo cáo kế toán: Thông tư 24 quy định 5 mẫu biểu quyết toán kinh phí hoạt động, quy định rõ nội dung mẫu biểu và việc lập các chỉ tiêu báo cáo trong từng mẫu biểu để đảm bảo đầy đủ thông tin, thống nhất việc lập báo cáo.
Về báo cáo tài chính: Thông tư 24 quy định cụ thể về đối tượng, mục đích, nguyên tắc yêu cầu lập cũng như kì hạn và thời gian, phương thức cũng như cơ quan nộp đối với báo cáo tài chính và báo cáo quyết toán kinh phí. Thông tư chỉ quy định một mẫu biểu báo cáo lưu chuyển tiền tệ theo phương pháp trực tiếp và bổ sung thêm 2 mẫu biểu thuyết minh chi tiết số liệu tài sản kết cấu hạ tầng đơn vị được giao quản lý nhưng không trực tiếp khai thác, sử dụng (B04a/BCTC) và báo cáo về những thay đổi trong tài sản thuần (B05/BCTC).
2. Khái quát sự thay đổi của hệ thống tài khoản kế toán ban hành theo Thông tư 24 so sánh với hệ thống tài khoản kế toán ban hành kèm theo Thông tư 107
Hệ thống tài khoản ban hành kèm theo Thông tư 24, với 60 tài khoản cấp 1 trong bảng và 20 tài khoản cấp 1 ngoại bảng hệ thống tài khoản này có nhiều thay đổi so với hệ thống tài khoản kế toán ban hành theo Thông tư 107. Không chỉ thay đổi về mặt số lượng tài khoản, tên gọi và cách sắp xếp các tài khoản mà nội dung phản ánh của các tài khoản cũng có nhiều khác biệt, có khối lượng nhiều hơn, bao trùm nhưng cũng linh hoạt hơn để đáp ứng yêu cầu quản lý và tổ chức bộ máy kế toán tinh gọn, hiệu quả, cụ thể:
Về tài khoản loại 1
Thông tư 24 có 18 tài khoản cấp 1 tăng 3 tài khoản cấp 1 so với Thông tư 107. Trong đó, bổ sung tài khoản 135 - Phải thu kinh phí được cấp, thay đổi tài khoản 137 - Tạm chi thành phải thu nhận ủy quyền, ủy thác chi trả, bổ sung thêm tài khoản 151 - Hàng mua đang đi đường và tài khoản 172 - Hàng dự trữ quốc gia.
Sự thay đổi này nhằm mục đích phục vụ công tác kế toán các loại nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ hàng hóa của đơn vị đã mua, đã thuộc quyền quản lý của đơn vị nhưng đang trên đường vận chuyển hoặc đã về đến nhưng chưa kiểm nhận, nhập kho.
Về tài khoản loại 2
Theo Thông tư 107, các tài khoản loại 2 được thiết kế để theo dõi và quản lý tài sản cố định của đơn vị và các tài sản dài hạn khác của đơn vị. Trong đó, tài sản cố định được thiết kế theo cách phân loại dựa trên hình thái biểu hiện và mục đích, tính chất sử dụng tương ứng các tài khoản 211 - Tài sản cố định hữu hình (có 7 tài khoản cấp 2 và 10 tài khoản cấp 3 được chi tiết theo mục đích, tính chất sử dụng); tài khoản 213 - Tài sản cố định vô hình và các tài khoản theo dõi khấu hao, tập hợp chi phí xây dựng cơ bản. Trong khi đó theo Thông tư 24, các tài khoản loại 2 nhằm theo dõi nhóm tài khoản tài sản cố định và nhóm tài sản dài hạn khác có cách tiếp cận tài sản cố định dựa trên cách phân loại theo quyền kiểm soát. Do đó, tài sản cố định dược hạch toán trên tài khoản loại 2 bao gồm tài sản cố định của đơn vị và tài sản kết cấu hạ tầng đơn vị trực tiếp khai thác sử dụng cùng với các tài khoản khấu hao, hao mòn, xây dựng cơ bản dở dang. Các tài khoản này đều chỉ mở cấp 2 chi tiết theo hình thái biểu hiện là tài sản cố định hữu hình hoặc tài sản cố định vô hình. Bên cạnh đó, nhóm tài khoản loại 2 của Thông tư 24 cũng bổ sung thêm tài khoản 229 dự phòng tổn thất tài sản và chi tiết cấp 2 cho các đối tượng hàng tồn kho, khoản phải thu khó đòi và tổn thất đầu tư.
Mặc dù số lượng tài khoản loại 2 tăng lên thành 8 tài khoản theo Thông tư 24, tăng lên 2 tài khoản so với Thông tư 107 nhưng có sự sắp xếp và đặt lại tên gọi phù hợp với nhu cầu theo dõi, quản lý và có tính tinh gọn hơn khi hướng tới các đối tượng sử dụng đa dạng và linh hoạt cho các đơn vị hơn.

Về tài khoản loại 3
Thông tư 24 bỏ tài khoản 337 - Tạm thu và tài khoản 366 - Các khoản nhận trước chưa ghi thu, bổ sung thêm tài khoản 341 - Phải trả nợ vay và tài khoản 352 - Dự phòng phải trả, tài khoản 356 - Kinh phí điều hoà tập trung, 372 - Kinh phí dự trữ quốc gia. Đổi tài khoản 353 - Các quỹ đặc thù thành tài khoản 353 - Các quỹ phải trả tương ứng sắp xếp và chi tiết các quỹ thuộc nhóm phải trả bằng 5 tài khoản cấp 2 và 2 tài khoản cấp 3.
Sự thay đổi này nhằm phù hợp với những thay đổi về theo dõi, hạch toán và báo cáo các nguồn doanh thu, chi phí xác định kết quả của đơn vị ở các tài khoản loại 4 tới 9 và tích hợp các đối tượng áp dụng Thông tư 108, Thông tư 79 và Thông tư 76 nêu trên. Đặc biệt, việc chuyển đổi các khoản trước kia thuộc nhóm tài khoản quỹ vào nhóm nợ phải trả đã biểu hiện sự phân loại thống nhất và chính xác các khoản phải trả theo đúng định nghĩa là các nghĩa vụ hiện tại phát sinh từ các sự kiện mà việc thanh toán các nghĩa vụ này sẽ làm giảm các nguồn lực của đơn vị.
Về tài khoản loại 4
Thông tư 24 tăng số lượng lên 5 tài khoản cấp 1 thay vì 4 tài khoản cấp 1 ban hành kèm theo Thông tư 107, đồng thời có sự sắp xếp lại nội dung, thay đổi tên gọi cũng như giảm bớt các tài khoản cấp 2 của nhóm tài khoản này. Cụ thể, tài khoản 411 - Nguồn vốn kinh doanh chuyển sang thành 411 - Vốn góp, tài khoản 421 - Thặng dư (thâm hụt) lũy kế không quy định các tài khoản cấp 2 theo từng hoạt động, tài khoản 431 - Các quỹ theo Thông tư 24 chỉ còn quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp và quỹ khác thuộc đơn vị thay vì bao gồm cả quỹ khen thưởng, phúc lợi và bổ sung thu nhập, quỹ dự phòng ổn định thu nhập như quy định của Thông tư 107. Tài khoản 468 - Nguồn cải cách tiền lương theo Thông tư 107 được gọi tên đúng tính chất của nguồn này là 468 - Nguồn kinh phí mang sang năm sau, trong đó gồm kinh phí cải cách tiền lương và kinh phí khác. Từ đó, có thể thấy nhóm tài khoản loại 4 theo Thông tư 24 được bố trí, sắp xếp và hướng dẫn hạch toán để phản ánh các tài sản thuần của đơn vị, tức các nguồn lực thuộc về đơn vị được xác định bằng tổng tài sản trừ đi nợ phải trả.
Về tài khoản loại 5
Đây là nhóm tài khoản có sự thay đổi lớn tại Thông tư 24 so với Thông tư 107. Tên gọi các tài khoản chuyển đổi từ Thu sang Doanh thu, điển hình như tài khoản 511 - Thu hoạt động do ngân sách nhà nước cấp thành 511 - Doanh thu từ kinh phí ngân sách nhà nước cấp và không qui định tài khoản cấp 2 chi tiết theo khoản chi thường xuyên hay không thường xuyên hay hoạt động khác; tài khoản 512 - Thu viện trợ, vay nợ nước ngoài chuyển thành tài khoản Doanh thu từ kinh phí ngân sách nhà nước cấp và tài khoản 514 - Thu phí được khấu trừ để lại đổi thành tài khoản 514 - Doanh thu từ phí được khấu trừ để lại. Các tài khoản 515, 531 được giữ nguyên, tuy nhiên tài khoản 531 được chi tiết hơn thành các tài khoản cấp 2 tương ứng với nguồn của khoản thu là đơn vị trực tiếp thu hay sử dụng từ ngân sách nhà nước. Thông tư 24 bổ sung thêm tài khoản 518 - Doanh thu từ hoạt động nghiệp vụ.
Như vậy, thay vì phản ánh khoản thu, doanh thu của đơn vị như Thông tư 107 thì Thông tư 24 phản ánh doanh thu của đơn vị, nội dung phản ánh các nguồn lực đơn vị thu được trong kì báo cáo làm tăng tài sản thuần của đơn vị, không bao gồm các khoản đơn vị kế toán cấp dưới nhận kinh phí điều hòa tập trung do đơn vị kế toán cấp trên cấp từ quỹ thuộc đơn vị hoặc từ kinh phí mang sang năm sau. Đặc biệt, trong nguyên tắc và hướng dẫn hạch toán các tài khoản loại 5, Thông tư 24 làm rõ và cụ thể doanh thu từ giao dịch không trao đổi và doanh thu từ giao dịch trao đổi. Những nội dung này rất tiệm cận và tương thích với Chuẩn mực Kế toán công Việt Nam số 23 và 09 đã được ban hành.
Về tài khoản loại 6
Thông tư 24 thay đổi từ cách tiếp cận chi phí theo từng hoạt động và chi tiết theo tính chất thường xuyên hay không thường xuyên, nội dung chi cụ thể như chi lương, chi vật tư, chi khấu hao… của Thông tư 107 sang tiếp cận thiên về đặc điểm khoản chi tự chủ hay không tự chủ và chi tiết theo nội dung chi cụ thể như chi lương, chi vật tư, chi khấu hao… Do đó, các tài khoản cấp 1 loại 6 của Thông tư 24 có sự thay đổi từ 7 tài khoản xuống còn 6 tài khoản với tên gọi có nhiều thay đổi. Tài khoản 611 - Chi hoạt động thành tài khoản 611 - Chi phí hoạt động không giao tự chủ, tài khoản 612 - Chi từ nguồn viện trợ, vay nợ nước ngoài thay bằng 612 - Chi phí hoạt động giao tự chủ; Thông tư 24 bỏ tài khoản 614 - Chi phí hoạt động thu phí và tài khoản 652 - Chi phí chưa xác định đối tượng chịu chi phí đồng thời lại bổ sung thêm tài khoản 641 - Chi phí bán hàng.
Sự thay đổi lớn này nhằm hướng tới phản ánh chi phí tại các đơn vị sự nghiệp và các cơ quan nhà nước, các đơn vị không có hoạt động sản xuất kinh doanh được rõ ràng, thuận tiện và đơn giản hơn. Đồng thời, việc bổ sung tài khoản 641 kết hợp với tài khoản 642 cũng giúp các đơn vị sự nghiệp theo dõi được chi phí của hoạt động sản xuất kinh doanh tách biệt hai khâu bán hàng và quản lý được rõ ràng hơn, do đó sẽ đáp ứng được nhu cầu quản lý tốt, ra quyết định hiệu quả hơn.
Tài khoản loại 7 và 8
Nhóm các loại tài khoản này không có sự thay đổi lớn. Thông tư 24 bổ sung thêm tài khoản 812 - Chi phí tài sản bàn giao dành cho các đơn vị được giao mua sắm ấn chỉ, nguyên liệu, vật liệu, công cụ, dụng cụ, tài sản cố định cho toàn ngành khi thưc hiện cấp phát tài sản đã mua sắm cho đơn vị khác hoặc tại ban quản lý dự án đầu tư khi thực hiện bàn giao dự án, công trình hoàn thành cho cơ quan, đơn vị khác quản lý và sử dụng. Việc bổ sung này đáp ứng nhu cầu quản lý của các đơn vị nói trên.
Tài khoản loại 9
Thông tư 24 chỉ quy định một tài khoản cấp 1 duy nhất 911 - Xác định kết quả, không chi tiết tài khoản cấp 2 theo từng hoạt đông như Thông tư 107, phù hợp với chủ trương không theo dõi chi tiết cho từng hoạt động trong đơn vị mà chỉ xác định kết quả hoạt động chung của đơn vị. Điều này cũng phù hợp và khắc phục được khó khăn khi thực hiện phân phối kết quả hoạt động vào các quỹ và cho các bên liên quan. Thông tư cũng chỉ rõ các đơn vị hoàn toàn chủ động mở tài khoản chi tiết để theo dõi cho từng hoạt động theo yêu cầu quản lý.
Về các tài khoản ngoại bảng
Tương ứng với sự thay đổi của các tài khoản trong bảng, 20 tài khoản ngoại bảng được ban hành theo Thông tư 24 thay đổi hầu hết kí hiệu, tên gọi, nội dung cũng như các tài khoản chi tiết. Tuy nhiên cũng như bản chất của 11 tài khoản ngoại bảng được ban hành theo Thông tư 107 thì các tài khoản ngoại bảng được sử dụng cùng mục đích hạch toán các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh chưa được hoạch toán vào các tài khoản trong bảng, đồng thời haạch toán nhận và sử dụng kinh phí để theo dõi số liệu phục vụ cho yêu cầu quyết toán kinh phí theo mục lục ngân sách nhà nước theo quy định. Do đó, khi thực hiện kế toán, các đơn vị dựa vào tính chất nghiệp vụ và nhu cầu quản lý để sử dung các tài khoản ngoại bảng thích hợp.
3. Kết luận
Chế độ kế toán hành chính, sự nghiệp mới được Bộ Tài chính ban hành theo Thông tư 24, áp dụng từ năm 2025, bên cạnh những quy định mới đối với công tác kế toán trong các đơn vị hành chính, sự nghiệp thì sự thay đổi hệ thống tài khoản kế toán theo Thông tư 24 áp dụng từ 01/01/2025 đặt ra yêu cầu nghiên cứu, áp dụng và thực hiện thay đổi nhiều đối với kế toán các đơn vị hành chính sự nghiệp. Nhưng dựa trên sự phân tích khái quát trên có thể thấy những thay đổi là cần thiết và phù hợp, hiệu quả hơn đối với các đơn vị. Những thay đổi này dẫn tới yêu cầu đặt ra hiện nay đối với các đơn vị kế toán hành chính, sự nghiệp là cần nghiên cứu, tổ chức thực hiện tốt các quy định của Thông tư trong thực tiễn hoạt động nói chung và công tác kế toán của các đơn vị nói riêng.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Thông tư 24/2024/TT-BTC hướng dẫn chế độ kế toán hành chính, sự nghiệp;
2. Thông tư số 107/2017/TT-BTC hướng dẫn chế độ kế toán hành chính, sự nghiệp;
3. Https://vcsvietnam.com/bai-viet/che-do-ke-toan-hanh-chinh-su-nghiep-moi-ban-hanh-va-quy-dinh-ve-su-dung-phan-mem-trong-cong-tac-ke-toan.
Tác giả:
Ths. Nguyễn Thị Cảnh Hoa, Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội
(Theo Tạp chí Nghiên cứu khoa học kiểm toán, tháng 9/2024)