KIỂM TOÁN DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
ĐỔI MỚI CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA GÓP PHẦN TẠO ĐỘNG LỰC CHO PHÁT TRIỂN KINH TẾ
Hai phần ba chặng đường của năm 2010 đã đi qua. Tình hình kinh tế - xã hội của Việt Nam đang có nhiều chuyển biến khả quan và tích cực. Trong xu thế phục hồi kinh tế khá rõ ràng, nhiều chuyên gia có chung nhận định, tốc độ tăng trưởng GDP của quý III và quý IV/2010 sẽ tăng cao hơn tốc độ tăng trưởng quý I, quý II/2010 do sản xuất trong nước lấy lại được đà tăng trưởng và thương mại toàn cầu đang tăng trưởng nhanh.

Dự báo tăng trưởng GDP quý III/2010 đạt khoảng 7,18% và cả năm 2010 tăng khoảng 6,7%, vượt chỉ tiêu trên 6,5% đã được Quốc hội thông qua. Đã có hàng loạt chính sách tài chính - tiền tệ được bổ sung, sửa đổi, triển khai thực hiện kịp thời nhằm góp phần đưa Việt Nam vượt qua giai đoạn khó khăn nhất trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế.

 Bối cảnh mới, thách thức mới

Năm 2010, dù còn nhiều chật vật nhưng được dự báo là năm nền kinh tế thế giới phục hồi. Trong xu thế phục hồi chung của nền kinh tế thế giới, kinh tế Việt Nam đã có những chuyển biến tích cực. Theo các chuyên gia kinh tế, cũng như nhiều định chế tài chính cho rằng, góp phần vào sự tăng trưởng khả quan đó phải kể đến sự linh hoạt trong điều hành chính sách tài chính - tiền tệ trong thời gian vừa qua, đặc biệt là trong giai đoạn hậu khủng hoảng. Đến thời điểm hiện nay, nền kinh tế Việt Nam đã vượt qua được khó khăn, phát triển ổn định; các giải pháp kích thích kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội đã phát huy tác dụng, góp phần đưa nền kinh tế vượt qua được khó khăn, bước đầu có những chuyển biến tích cực và có dấu hiệu phục hồi: kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, bảo đảm được các cân đối lớn; sản xuất công nghiệp, xây dựng dần phục hồi và liên tục tăng; khu vực dịch vụ giữ được tốc độ tăng trưởng nhanh; tình hình chính trị, xã hội ổn định, công tác an sinh xã hội được chú trọng, nhất là các lĩnh vực giáo dục, y tế, xoá đói giảm nghèo, giải quyết việc làm; quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội tiếp tục được giữ vững...

Trong năm 2011 và giai đoạn 2011 – 2015, mục tiêu mà Chính phủ đề ra là tập trung phấn đấu quyết liệt phát triển kinh tế với tốc độ tăng trưởng nhanh và bền vững trên cơ sở tiếp tục chuyển đổi cơ cấu, tái cấu trúc nền kinh tế, nâng cao chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh và chủ động hội nhập quốc tế, tạo nền tảng để đến năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Trong đó chú trọng tập trung ổn định kinh tế vĩ mô; nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo, chất lượng nguồn nhân lực; chú trọng đào tạo để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho các lĩnh vực trọng yếu của nền kinh tế; tăng nhanh tỷ lệ lao động qua đào tạo.

Có thể nói năm 2010 - năm bản lề - có tầm quan trọng đặc biệt với kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội của Việt Nam. Đây là năm cuối cùng nước ta thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế- xã hội 5 năm 2006- 2010; là thời cơ để thực hiện chương trình tổng thể tái cấu trúc hoạt động sản xuất theo hướng nâng cao sức cạnh tranh, khắc phục những tồn tại yếu kém, tạo bước khởi đầu cho việc xây dựng và triển khai kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội 5 năm tiếp theo (2011- 2015). Năm nay còn được coi là ngưỡng cửa bước vào giai đoạn nước rút đưa Việt Nam trở thành nước công nghiệp vào năm 2020 và để Việt Nam bước ra khỏi nhóm các nước có thu nhập thấp.

Đất nước bước vào giai đoạn 2011-2020 với một vị thế hoàn toàn mới, ở vào nhóm các nước thu nhập trung bình. Trong nước, quá trình đổi mới đã thiết lập được một khung thể chế tài chính định hướng thị trường, hình thành hệ thống hạ tầng kinh tế xã hội thiết yếu. Đổi mới, mở cửa nền kinh tế cũng đã khơi thông được thị trường  hàng hóa, dịch vụ và tài chính trong nước, trên khu vực và trên thế giới. Bên ngoài, xu hướng hoà bình, hợp tác và phát triển là xu hướng chủ đạo. Hậu khủng hoảng tài chính toàn cầu và những cải cách cơ cấu tài chính, kinh tế sẽ tạo những động lực phát triển mới trong 10 năm tới. Sự phát triển của các liên kết kinh tế khu vực và sự trỗi dậy của Trung Quốc, Ấn Độ và một số quốc gia khác như Bra-xin, Nga đã và sẽ tạo ra một thế giới đa cực, tạo điều kiện và thúc đẩy cạnh tranh toàn cầu hơn nữa. Tiến bộ khoa học kỹ thuật, đặc biệt là công nghệ thông tin, công nghệ sinh học tạo ra những cơ hội chưa từng có đối với các nước đi sau như Việt Nam. Sự dịch chuyển tâm điểm của phát triển kinh tế thế giới sang khu vực Châu Á - Thái Bình Dương cũng tạo ra những thuận lợi đáng kể cho đất nước trong giai đoạn 2011-2020.

Trong bối cảnh của cuộc khủng hoảng kinh tế hiện nay, điều hành ngân sách 2010 và một số năm tiếp theo của nước ta chắc chắn sẽ gặp rất nhiều khó khăn để đảm bảo nguồn thu và nhiệm vụ chi ngân sách .

Các nghiên cứu cho thấy, tác động của khủng hoảng tài chính toàn cầu tới NSNN diễn ra qua hai kênh: Kênh chủ động: Các tác động tới NSNN do thay đổi cơ chế, chính sách nhằm đối phó với khủng hoảng; Kênh bị động (các tác động tự thân tới NSNN, do các yếu tố cấu thành thay đổi ngay cả khi chưa tính tới các thay đổi cơ chế, chính sách)

Đối với thu NSNN, các tác động chủ động của khủng hoảng tới NSNN chủ yếu là do việc miễn, giảm, giãn thời hạn thu thuế của chính phủ, nhằm giảm bớt các khó khăn cho khu vực sản xuất, kích cầu, ngăn chặn đà giảm sút hoặc phục hồi nền kinh tế. Trong khi đó các tác động nội tại của khủng hoảng tới thu NSNN chủ yếu là do việc thu hẹp cơ sở thu. Đối với các sắc thuế có thuế suất lũy tiến từng phần, việc thu hẹp cơ sở thu sẽ đi kèm với mức thuế suất áp dụng thấp hơn.

Đối với chi NSNN, các tác động chủ động của khủng hoảng nằm ở những điều chỉnh cơ chế, chính sách, dẫn đến tăng chi, nhằm trực tiếp bù đắp phần nào sự sụt giảm chi của các khu vực kinh tế tư nhân, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, nâng đỡ tổng cầu. Các tác động nội tại phần lớn liên quan tới các chính sách an sinh, xã hội. Khủng hoảng diễn ra sẽ làm tăng các đối tượng hưởng lợi của các chính sách này. Tổng chi sẽ tự động tăng ngay cả khi không có thay đổi gì về cơ chế, chính sách của chính phủ.

Đối với Việt Nam, dễ nhận thấy rằng khủng hoảng tác động tới thu NSNN qua cả hai kênh. Tuy nhiên, tác động của khủng hoảng tới chi NSNN chủ yếu nằm ở kênh chủ động. Mức độ tác động chủ động tới chi NSNN tương đối hạn chế do việc điều chỉnh cơ chế, chính sách chi chịu ràng buộc về giới hạn thâm hụt ngân sách (5%/GDP) và thu ngân sách có xu hướng giảm mạnh vào thời kỳ khủng hoảng.

Nhiều quan điểm cho rằng việc Việt Nam sử dụng chính sách tài khoá sẽ hiệu quả hơn chính sách tiền tệ. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng chi tiêu Chính phủ của Việt Nam đã đang ở mức rất cao (khoảng 30% GDP) so với mức tối ưu được khuyến nghị (15-25% GDP). Việc sử dụng chính sách tài khoá cần đề phòng lạm phát tăng đột biến vì Việt Nam đang có mức thâm hụt ngân sách lớn (thâm hụt ngân sách năm 2007 là 5%, năm 2008 là 4,5% - IMF). Bởi vậy, việc tăng chi tiêu mạnh kéo theo gia tăng lớn thâm hụt ngân sách là rất nguy hiểm. Vấn đề quan trọng là cần xác định lại cơ cấu chi tiêu NSNN cho phù hợp thay vì thuần tuý tìm cách tăng chi.

Trong bối cảnh đó, về quan điểm, chính sách ngân sách cần hướng vào việc kháng cự xu thế suy thoái kinh tế trong ngắn hạn (1-2 năm) nhưng phải đảm bảo sự chủ động trong điều hành kinh tế vĩ mô giai đoạn hậu suy thoái sau đó. Mục tiêu phải là đảm bảo cân đối ngân sách bền vững. Thực tế cho thấy, chi NSNN của Việt Nam ở mức cao nhưng hiệu quả đầu tư công và chi tiêu công còn là khâu yếu. Việc điều chỉnh lại cơ cấu chi và cơ chế giám sát đầu tư để đảm bảo tính hiệu quả là nhiệm vụ quan trọng bậc nhất. Cần chủ động khống chế thâm hụt NSNN ở mức không nguy hiểm cho nền kinh tế, chuẩn bị tốt cho giai đoạn hậu khủng hoảng.

 

Một số khuyến nghị và đề xuất về chính sách tài khóa hậu khủng hoảng:

Bước vào giai đoạn hậu khủng hoảng, đòi hỏi đặt ra là xây dựng chính sách như thế nào để đảm bảo kinh tế - xã hội phát triển ổn định, vững chắc trong bối cảnh còn nhiều khó khăn... Đổi mới hoạch định chính sách tài chính (CSTC) thời kỳ hậu khủng hoảng là vấn đề thu hút được sự quan tâm của đông đảo những người làm công tác quản lý tài chính, của các nhà khoa học và nghiên cứu.

 

Thứ nhất, tăng cường vai trò chủ động, tích cực điều tiết vĩ mô nền kinh tế của các CSTC và công cụ tài chính. CSTC phải nhằm mục tiêu trước hết là nâng cao và tăng cường tiềm lực tài chính quốc gia, đảm bảo tỷ lệ tích luỹ, tiết kiệm dành cho đầu tư toàn xã hội đạt trên 40% GDP. Đồng thời, phải góp phần thiết lập và duy trì môi trường tài chính lành mạnh, giải phóng các nguồn lực tài chính và sức sản xuất của nền kinh tế, bồi dưỡng và mở rộng nguồn thu NSNN, tạo động lực mạnh mẽ cho sự phát triển và duy trì các cân đối lớn trong nền kinh tế. CSTC phải gắn kết đồng bộ với các chính sách kinh tế để định hướng và khuyến khích các DN và nhân dân đầu tư, kinh doanh. Tôn trọng nguyên tắc công khai, công bằng, hiệu quả trong chính sách động viên, phân phối và phân phối lại thu nhập quốc dân. Đa dạng hoá các công cụ và hình thức tổ chức tài chính, tiền tệ phi ngân hàng và các quỹ đầu tư, các trung gian tài chính nhằm động viên và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội, thúc đẩy xã hội hoá các hoạt động sự nghiệp.

Thứ hai, chính sách và giải pháp về thu NSNN: Ngành thuế tiếp tục triển khai quyết liệt các giải pháp quản lý thu, kiểm soát chặt chẽ nguồn thu, hạn chế nợ đọng thuế, tăng cường chống thất thu thuế, khai thác tăng thêm nguồn thu cho NSNN, trong đó tập trung các giải pháp mang tính cải cách đột phá như sau:

- Cơ quan thuế các cấp thường xuyên tổ chức rà soát, đánh giá phân tích, dự báo những yếu tố ảnh hưởng đến nguồn thu NSNN trên địa bàn, làm rõ những khoản còn thất thoát, các nguồn thu còn tiềm năng. Đặc biệt, tăng cường công tác phân tích, dự báo những tác động bất lợi từ việc suy giảm kinh tế, những tác động bất thường của giá cả, thị trường tín dụng trên thế giới và trong nước tác động đến tình hình thu nộp NSNN của khối DN để có những đề xuất, kiến nghị giải pháp kinh tế vĩ mô ngăn chặn đà suy giảm nguồn thu NSNN.

- Đẩy mạnh cải cách hành chính trong lĩnh vực thuế; Tiếp tục rà soát và điều chỉnh tất cả các thủ tục hành chính thuế theo chuẩn mực quốc tế, rút ngắn đến mức thấp nhất thời gian tuân thủ thuế, tạo thuận lợi nhất cho người nộp thuế. Ngành Thuế tiếp tục theo dõi, phát hiện để có ý kiến đề nghị với các ngành, các cấp có thẩm quyền tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc về vốn, thị trường, giá cả, xử lý kịp thời các cơ chế chính sách gây ảnh hưởng xấu đến tình hình SXKD của DN, tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân đẩy mạnh hoạt động đầu tư, phát triển SXKD, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

- Kiểm soát, xử lý triệt để các khoản nợ đọng thuế, trình cấp có thẩm quyền các biện pháp xử lý vướng mắc về nợ thuế, tập trung lực lượng triển khai các biện pháp thu hồi nợ thuế; Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra thuế trên cơ sở phân tích thông tin và tờ khai hàng tháng để lựa chọn những đối tượng có dấu hiệu gian lận thuế, bổ sung vào kế hoạch thanh tra, kiểm tra, đặc biệt tập trung vào nhóm DN lớn, các Tập đoàn, Tổng công ty, các địa bàn trọng điểm có số thu lớn, các ngành hàng, các lĩnh vực, các loại hình tổ chức có dấu hiệu thất thu lớn. Tập trung tổng hợp, rà soát các kết quả sau thanh tra để có biện pháp xử lý đôn đốc, thu hồi kịp thời các khoản mà thanh tra đã kết luận vào NSNN...

Thứ ba, về chi NSNN:

- Tập trung và quản lý tốt các nguồn lợi và lợi ích quốc gia. Cơ cấu lại các khoản chi ngân sách, cơ cấu lại nguồn vốn và vốn đầu tư, tăng tỷ lệ chi NSNN theo tốc độ tăng trưởng kinh tế và hiệu quả quản lý kinh tế. Ưu tiên tăng chi NSNN cho các mục tiêu chiến lược, mục tiêu xã hội trọng điểm, cho xây dựng cơ sở hạ tầng, cho phát triển nguồn lực, hỗ trợ sản xuất, kinh doanh những mặt hàng và lĩnh vực trọng điểm. Có chính sách đầu tư thích đáng và cơ chế tài chính phù hợp của các vùng kinh tế trọng điểm, làm động lực phát triển của cả nền kinh tế, từ đó tạo điều kiện đầu tư tốt hơn cho các vùng khó khăn, vùng sâu, vùng xa và các địa phương nghèo, chậm phát triển.

- Đối với chi đầu tư phát triển, cần chú trọng nâng cao hiệu quả của các khoản chi, không nên tăng chi nhiều vì kéo theo thâm hụt ngân sách lớn gây ra nhiều hậu quả khó khắc phục sau khi suy thoái chấm dứt (thâm hụt NSNN lớn, lạm phát cao). Không thiên về đầu tư vào các dự án thâm dụng vốn và thâm dụng nhập khẩu mà chuyển sang các dự án sử dụng nhiều lao động. Mục tiêu phải là tạo càng nhiều việc làm càng tốt. Đầu tư của NSNN cần được thực hiện bình đẳng, tránh đổ vốn vào các DN lớn kém hiệu quả vì làm như vậy tình trạng sẽ trầm trọng thêm. Nên chỉ tập trung xem xét chi đầu tư phát triển số rất ít dự án lớn về cơ sở hạ tầng (đã gần hoàn thành, có ý nghĩa thực tế) để duy trì và tạo việc làm, tiêu thụ vật liệu xây dựng đang tồn đọng.

                - Các khoản chi, đặc biệt là chi hỗ trợ (kể cả hỗ trợ tín dụng) cho các DN cần kèm theo nhiều điều kiện cụ thể. Chính sách hỗ trợ cho các DN cần kèm theo điều kiện hạn chế việc thưởng hoặc trả lương cao cho người quản lý, thời hạn hỗ trợ mang tính cứu giúp nên phải ngắn, hiệu quả phải đo lường đuợc (số hoá), ngay khi DN không đáp ứng được thì phải thu hồi. Tạo thêm việc làm hoặc giữ nguyên số nhân công của DN cũng là điều kiện cần thiết với các DN. Với các DN đang thua lỗ, cần kiểm tra kỹ phương án xin cứu trợ, hỗ trợ.

                 - Đối với chi thường xuyên, xem xét tăng chi thường xuyên với lượng vừa đủ để tăng cường chi cho an sinh xã hội, trợ cấp cho người có thu nhập thấp, chú trọng chi cho cứu trợ, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh,... Gia tăng hơn việc chi hỗ trợ tạo việc làm, hỗ trợ mất việc làm (hoặc hỗ trợ DN để DN duy trì nhân công) vì mức độ “ngấm” suy thoái trầm trọng hơn. Tuy nhiên, xét tổng thể cũng không nên tăng chi thường xuyên nhiều mà cố gắng co kéo với mức dự toán ngân sách chấp nhận được.

                 - Cả chi đầu tư và chi thường xuyên cần tăng cường cơ chế giám sát đồng thời rà soát để giảm những thủ tục hành chính phiền hà không cần thiết, làm chậm hiệu lực đầu

Thứ tư, nâng cao năng lực, hiệu lực của hệ thống giám sát tài chính - tiền tệ, đảm bảo an ninh tài chính quốc gia, kiểm soát chặt chẽ các luồng vốn, các dòng chuyển dịch vốn (đặc biệt là vốn ngắn hạn), các khoản vay nợ, trả nợ. Tăng cường hiệu lực, hiệu quả của hệ thống giám sát bằng nghiệp vụ, bằng tổ chức có sẵn trong bản thân công tác tài chính, bản thân từng quy trình nghiệp vụ tài chính, kế toán. Tăng cường và nâng cao tính hiệu lực của hệ thống giám sát nội bộ, bộ máy và quy trình kiểm soát nội bộ; đảm bảo mọi hoạt động tài chính, sự luân chuyển của từng dòng tiền của Nhà nước, của Ngân khố phải được kiểm tra, kiểm kê và giám sát thường xuyên, liên tục. Hoạt động tài chính, tiền tệ của các tổ chức, các quỹ tài chính nhà nước, các trung gian tài chính phải được giám sát từ xa, phải có hệ thống cảnh báo. Cần tạo dựng thói quen công khai tài chính trong đời sống xã hội. Sử dụng phương pháp quản lý chi tiêu theo kết quả đầu ra. Chuẩn bị tốt cho việc áp dụng chính sách chi tiêu trung hạn. Coi trọng mục đích và kết quả sử dụng NSNN chứ không phải mức chi hay mức cắt giảm chi NSNN.

                Tóm lại, vận hành CSTC thể hiện nghệ thuật điều hành và quản lý hoạt động tài chính. CSTC phải phục vụ cho những mục tiêu tài chính cụ thể. CSTC cùng với chính sách tiền tệ là một bộ phận cấu thành của chính sách kinh tế vĩ mô. CSTC phải được thực tế cuộc sống chấp nhận. CSTC bao hàm tất cả các chủ trương, giải pháp tài chính nhà nước, tài chính DN, tài chính dân cư; các chủ trương, giải pháp về DNNN (thu, chi và cân đối), về vốn, tín dụng; về vốn và đầu tư phát triển; về hoạt động kinh doanh và hiệu quả kinh tế... Triển khai tốt và tích cực các CSTC sau khủng hoảng một cách chủ động sẽ góp phần xây dựng nền tài chính quốc gia ổn định và năng động.

 

TS. Nguyễn Đức Minh

 

 

Tài liệu tham khảo:

- Forecasts and policy simulations for 2001 by a macro-econometric model of Vietnam. Working Paper No:1, December 2000. CIEM.

-          Niên Giám thống kê 1991 – 2009

-          Trang Web Bộ Tài chính Mof.gov.vn

-          Trang Web Bộ Kế hoạch và đầu tư Mpi.gov.vn

-          Imf.org. World Economic Outlook Update

 

TIN MỚI CẬP NHẬT
LIÊN KẾT WEBSITE
TẠP CHÍ IN
  • Tổng mục lục năm 2021
  • Tổng mục lục năm 2020
  • Tạp chí số 146 (Tháng 12/2019)